Wednesday, March 4, 2015

BÀN VỀ CƠN SỐT KHỔNG TỬ HIỆN NAY

Một bài viết của Lưu Hiểu Ba - người đang ở trong nhà tù Trung Hoa và được giải Nobel Hòa Bình năm 2010, nhưng không được nhận như Boris Pasternek của Liên Xô cũ không được nhận Nobel Văn chương năm 1958 - về sự bành trướng sức mạnh mềm của Trung Hoa. 

----------------------------

Hôm qua làm chó nhà tang, hôm nay làm chó gác cửa

22 Tháng 11, 2012

Tác giả: Lưu Hiểu Ba

Phan Trinh dịch

Lời giới thiệu của người dịch

1. “Chó nhà tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen, và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.

Thoạt đọc, bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.

2. Tên của Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007. Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho Vladimir Putin, lãnh tụ Nga có khuynh hướng độc tài*.

3. Cơn sốt Khổng Tử mà Lưu nói tới vẫn kéo dài đến nay. Viện Khổng Tử (gần như Viện Goethe, Hội Đồng Anh…) công cụ của quyền lực mềm trong tay nhà cầm quyền Trung Quốc, mở cơ sở đầu tiên năm 2004, đến nay đã có hơn 320 Học viện được thành lập trên thế giới, trong đó 1/5 là ở Mỹ **.

4. Đọc bài này, rất có thể người đọc sẽ nêu câu hỏi: Liệu có điểm gì giống nhau giữa Viện Khổng Tử và Viện Trần Nhân Tông, Giải Khổng Tử và Giải Trần Nhân Tông được nhắc tới gần đây với ít nhiều nghi ngại hay không.

5. Bản dịch này dựa trên bản tiếng Anh, có tham khảo bản tiếng Trung. Bản tiếng Anh có tựa “Yesterday’s Stray Dog Becomes Today’s Guard Dog” (Chó hoang hôm qua nay thành chó giữ nhà) do Thomas E. Moran dịch, in trong cuốn No Enemies, No Hatred (Không thù, không ghét) tuyển tập luận văn và thơ Lưu Hiểu Ba, do Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Lưu Hà biên tập, xuất bản năm 2012 tại Anh Quốc. Bản tiếng Trung có tựa “昨日丧家狗 今日看门狗 – 透视当下中国的“孔子热”” (Tạc nhật táng gia cẩu, kim nhật khán môn cẩu, thấu thị đương hạ Trung Quốc đích “Khổng Tử nhiệt”), xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

P.T.
-----------------------------------------------------

Người Trung Quốc hiện rất phấn khích vì nước nhà đang trỗi dậy như một cường quốc. Nhờ kinh tế trỗi dậy nên văn hóa cũng trỗi dậy, nhờ tung tiền khắp nơi nên “quyền lực mềm” cũng được xuất khẩu ra thế giới. Trong nước, người người đua nhau chạy theo cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng, cơn sốt theo đạo Nho. Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) cũng khởi xướng cơn sốt đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Trong khi đó ở ngoài nước, Trung Quốc đầu tư lớn để mở hàng loạt các “Viện Khổng Tử” nhằm lan tỏa quyền lực mềm. Giấc mơ bá chủ thiên hạ của Trung Quốc bị dồn nén hơn thế kỷ nay lại có cơ tái xuất giang hồ. Đức Khổng Tử ở trong và ngoài nước bỗng kết thành một trận tuyến liên hoàn. Cơn sốt Khổng Tử quả là càng lúc càng nóng.

Nhưng, đàng sau cơn phấn khích của đám đông kia, tôi cho rằng không phải là ước muốn khôi phục nền đạo đức cũ, mà là toan tính phục hồi truyền thống sùng bái thánh Khổng, một phần không thể thiếu trong kế hoạch của nhà nước nhằm đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những năm sau biến cố Thiên An Môn [1989], nhà nước một mặt chống lại các nỗ lực đòi hỏi tự do, chống “diễn biến hòa bình”, một mặt lại thổi bùng tình cảm “yêu nước” cực đoan. Chủ nghĩa yêu nước cực đoan này, rường cột cho ý thức hệ mới của nhà cầm quyền Trung Quốc, kết hợp với chiến dịch quảng bá cho cái mà Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi là “Thời hoàng kim thịnh vượng” đã làm làn sóng dân tộc chủ nghĩa dâng cao vô tội vạ. Không gì rõ hơn những dòng này ở cuối “Tế văn Vinh danh Khổng Tử, nhân Liên hoan Văn hóa Khổng Tử Quốc tế 2005, tại Khúc Phụ, Trung Quốc”. Tế văn viết những lời có cánh như sau: “Thời hoàng kim vừa đến, nuôi giấc mơ đại đồng; Mừng gặp thời thịnh vượng, và cường quốc vinh quang”. Thật là một bản song tấu rổn rảng điển hình khi chủ nghĩa dân tộc hòa vào ‘Phúc âm’ của “Thời hoàng kim”.

Trong một năm qua, việc cổ xúy văn hóa truyền thống trên chương trình Bách gia Giảng đường của CCTV đã góp phần biến Khổng Tử thành một món hàng thời thượng, hoặc mượn lời của Lỗ Tấn, thành “‘Mô-đen’ Khổng Tử”. (Điều tương tự từng rộ lên cách đây vài năm khi Mao Trạch Đông cũng trở thành một thứ “mốt”.) Hiện sách vở đủ loại về Khổng Tử đang hốt bạc cho các nhà xuất bản, các lớp quốc học và cổ văn cũng mang lại món lợi lớn. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí mỗi người 26.000 nhân dân tệ, Đại học Phục Đán lấy mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí cao ngất ngưởng.

Chương trình nói trên của CCTV cũng làm tên tuổi Vu Đan trở thành hiện tượng được cả nước biết. Vu Đan rao bán, thay vì rao giảng Khổng Tử bằng một giọng điệu khéo léo, kết hợp những câu chuyện cao đạo về người xưa với những kiến giải có độ sâu sắc chỉ ngang với ca từ nhạc sến. Những suy luận võ đoán, những lý giải nông cạn thường trực của bà về Khổng Tử có tác dụng như một thứ ma túy tinh thần giữa cơn sốt phục hưng đạo Khổng trong văn hóa đại chúng. Cuốn Luận ngữ tâm đắc của Vu Đan mang một thông điệp dễ dãi. Theo giải thích của Vu Đan thì Khổng Tử dạy rằng ai ai cũng có thể sống thoải mái với tâm thế thực dụng, dù gặp gì đi nữa cũng đừng phàn nàn, nếu biết thuận theo hoàn cảnh thì sẽ thích ứng dễ dàng và sống đời hạnh phúc.

Trong khi cơn sốt đọc Khổng Tử do Vu Đan khởi xướng đang ăn khách, thì giáo sư Đại học Bắc Kinh, Lý Linh, xuất bản cuốn sách có tên Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ [1]. Bằng nghiên cứu của riêng mình, giáo sư Lý đã trục xuất những điều vớ vẩn được nói về Khổng Tử và trả ông về với hình ảnh nguyên thủy. Giáo sư Lý viết trong lời mở đầu:
“Sách của tôi là thành quả những ý tưởng của riêng tôi về Khổng Tử. Tôi không lặp lại những gì người khác đã nói. Tôi cũng không quan tâm tới những gì Mạnh Tử, Vương An Thạch [2], hoặc bất cứ học giả lớn nhỏ nào đã từng nói về Khổng Tử. Nếu điều gì không có trong văn bản gốc, thì tôi sẽ gạt qua một bên… Nếu muốn biết đích thân Khổng Tử nghĩ gì, hãy tìm đọc văn bản gốc… Tôi không viết để dự phần vào cuộc tranh cãi của các trí thức, cũng không viết để thỏa mãn thị hiếu của đa số.”

Và giáo sư Lý kết luận:
“Sau khi đọc Luận ngữ, tôi thấy tốt nhất không nên đặt Khổng Tử lên bệ thờ, cũng không nên dìm ông xuống bùn, mà chỉ nên nói rằng ông rất giống Don Quixote.”

Qua việc phản đối nạn sùng bái thần thánh và khát khao truy tìm sự thật với thái độ không mị dân, giáo sư Lý đã góp phần đả phá truyền thống thần thánh hóa Khổng Tử đã kéo dài suốt hơn 2000 năm nay. Ông viết:
“Trong cuốn sách này, tôi muốn giải thích cho độc giả rằng Khổng Tử thực ra không phải là một vị thánh. Vị Khổng Tử mà các hoàng đế tôn sùng từ triều đại này qua triều đại khác không phải là Khổng Tử thật, mà là một Khổng Tử “nhân tạo”. Khổng Tử thật không phải là thánh, cũng chẳng phải vua, cũng không là “nội thánh ngoại vương” [trong thánh, ngoài vua] gì cả… Khổng Tử chỉ là người, một người xuất thân bình dân, luôn tin rằng kẻ sĩ cổ đại (những “quân tử” đúng nghĩa) đã định ra chuẩn mực mà mọi người nên noi theo để đối nhân xử thế; một người yêu chuộng những gì cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí; một người thầy tận tụy, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa người xưa và khích lệ học trò học tập kinh sách cũ; một người không có chức, cũng không có quyền – chỉ có học vấn về đạo đức – nhưng dám can ngăn kẻ cầm quyền; một người đi tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ người cải tà quy chính; một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục đường lối nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang, nay đây mai đó, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt, không có nhà để về. Đó là Khổng Tử thật.”

Trong cách nghiên cứu và lý giải Luận ngữ của mình, rõ ràng giáo sư Lý đã bỏ rất xa Vu Đan nông cạn và bất cẩn. Quan trọng hơn, ông đồng cảm được với Khổng Tử, người trí thức hơn 2000 năm trước. Ông cho biết chính Khổng Tử cũng tự nhận mình là con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Ông viết:
“Khổng Tử tuyệt vọng với quê hương mình, cùng các môn sinh ông đi khắp nơi, làm việc với chư hầu, nhưng cũng chẳng được gì. Cuối đời ông trở về quê hương, sống những năm cuối đời với tâm trạng buồn bã. Trước khi ông qua đời, con trai và hai học trò yêu của ông, Nhan Hồi và Tử Lộ (Trọng Do) cũng mất, ông khóc thương họ cạn nước mắt. Tuy ông mất trong nhà mình, nhưng cũng có thể nói ông không hề có nhà. Những giáo huấn của ông có thể đúng hoặc sai, nhưng dù đúng hay sai, đời ông cũng phản ánh số phận của người trí thức Trung Quốc tiêu biểu.”

Việc giáo sư Lý Linh đưa ra lời bình luận về con chó mất chủ giữa lúc cơn sốt Khổng Tử và văn hóa truyền thống đang lên cao trào, giống như ném một tảng đá to xuống nước: Nó tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ những tín đồ mới của đạo Khổng. Giáo sư Lý bị đả kích cay độc, bị nguyền rủa, những kẻ bị xúc phạm đã biến bức xúc của mình thành giận dữ. Giáo sư Lý bị tố là phao tin đồn nhảm, và là một “phẫn thanh” [đọc trại sẽ thành 'thằng ăn cứt"], những người chưa đọc sách của giáo sư Lý tự cho mình cái quyền gọi nó là “rác rưởi”. Tất cả những eo xèo này chỉ vì ông dám gọi Khổng Tử là chó nhà tang vô chủ. Điều đó cho thấy lòng sùng kính Khổng Tử của những nhà Nho mới đưa đã đưa Thánh Khổng lên vị trí bất khả xâm phạm, không ai được đụng tới. May mắn là số nhà Nho mới này không có quyền lực chính trị là bao. Nếu có quyền lực, chúng ta chắc đã phải trở về thời đại mà (như Lâm Bưu nói về Mao Trạch Đông) “mỗi lời của ngài đều là chân lý, mỗi chữ của ngài quý hơn ngàn vạn chữ của kẻ khác.”

Giáo sư Lý Linh là một nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Ông viết: “Tôi xem Luận ngữ là một chủ đề nghiên cứu lịch sử, chứ không phải sách thánh.” Khi ông gọi Khổng Tử là chó nhà tang, ông nhắc ta nhớ rằng ở Trung Quốc thời Xuân Thu (770-476 trước CN) tầng lớp trí thức đã phải sống trong bất an, cả trong sợ hãi, tài năng của họ thường không được trọng dụng, và trong hoàn cảnh đó, một “kẻ có lý tưởng nhưng không tìm được quê hương tinh thần của mình” thì chẳng khác gì con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Nhưng, theo tôi, giáo sư Lý nói rằng Khổng Tử thiếu “quê hương tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó đây không phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm quan. Mục tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là con chó nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú chó không chủ kia đã trở thành chó gác cửa.

Cũng nên biết là giáo sư Lý Linh không phải người đầu tiên gọi Khổng Tử là chó nhà tang. Người xưa đã từng đánh giá ông như thế. Truyện Khổng Tử trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên (145?-86 trước CN) viết rằng, vào năm 40 tuổi, khi không đạt được gì, Khổng Tử đã than rằng “Ta cùng đường rồi!” và rằng “Chẳng chỗ nào trong thiên hạ dung được ta!” Cũng theo Sử ký, dân chúng thời Khổng Tử đã tả rằng nhìn ông “băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang”. Khi đệ tử kể lại cho Khổng Tử nghe lời nhận xét này về mình, ông đã bảo rằng nói như thế là đúng làm sao, đúng làm sao![4] Ngày nay, những kẻ “bảo vệ Đạo lý đích thực” thì cho rằng những lời nói kia của Khổng Tử là những lời tinh tế có ý nghĩa lớn lao về thuật trị quốc và dạy người. Họ bảo Lý Linh gọi Khổng Tử là chó nhà tang như vậy là phạm thượng, phản bội, vô đạo và cuốn sách đó chỉ đáng vứt vào sọt rác. Có bạn ‘phẫn Nho’ còn cho rằng giáo sư Lý “mắc bệnh thần kinh!”

Người tôn thờ Khổng Tử có thể nguyền rủa sách của giáo sư Lý đủ kiểu, nhưng thực ra những gì ông viết về Khổng Tử, nhất là trong lời mở đầu rất thẳng thắn và thu hút, đã vượt xa những gì mà Tương Khánh và những “nhà tư tưởng mới” về Khổng Tử rêu rao. Rất nhiều học giả nổi tiếng đã đánh giá cao cuốn Chó nhà tang của giáo sư Lý.

Trong bài viết có tên “Tính khả thi của Nhân, Nghĩa – Điểm sách Chó nhà tang của Lý Linh”, sử gia Ngô Tư viết: “Giáo sư Lý đã làm rất tốt. Các dự án văn hóa sau này cũng phải được xây dựng trên những văn bản gốc cốt lõi. Theo tôi, những phát hiện của Lý Linh trong cuốn sách nói về Luận ngữ của ông còn hay hơn những gì Chu Hy (1130-1200) nói về Khổng Tử.”

Trong một bài điểm sách tương tự, giáo sư Tiên Lý Quần của Khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh viết: “Cách giáo  sư Lý Linh đọc Luận ngữcho thấy một điểm rất lớn đó là sự đồng cảm chân thật, ‘từ trái tim đến trái tim’ với Khổng Tử, sự đồng cảm của một trí thức với một trí thức. Sự đồng cảm này giúp ông nhìn thấy vấn đề được gói ghém trong hình tượng ‘chó nhà tang’ kia là gì. Khi tôi đọc cụm từ ‘chó nhà tang’ tôi cũng thấy có ít nhiều nhạo báng, nhưng quan trọng hơn, tôi cảm được sự trăn trở và nỗi buồn đau của Khổng Tử.”

Trong một cuộc phỏng vấn, ông Lưu Mộng Khê, giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, đã khen ngợi công phu nghiên cứu văn bản rất có trách nhiệm và cách làm việc nghiêm túc của giáo sư Lý Linh, góp phần giải độc những huyền thoại về Khổng Tử.

Giáo sư Tần Hy tại Đại học Thanh Hoa, trong bài “Làm thế nào Luận ngữ trở thành kinh điển?” đã viết rằng: “Hiện có những kẻ tìm cách nâng Luận ngữ lên thành một thứ Thánh Kinh của đạo Khổng, điều này cũng y như trước đây có kẻ muốn nâng cuốn sách nhỏ mỏng tang có tên Mao tuyển lên thành ‘đỉnh cao’ của chủ nghĩa Mác. Thử hỏi sự phấn khích với Mao tuyển đã làm phong phú chủ nghĩa Mác hay đã phá thối nó? Cũng vậy, sự phấn khích dành cho Luận ngữhôm nay sẽ tôn vinh đạo Khổng hay chỉ làm hỏng nó?”

Trung Quốc vốn có truyền thống sùng thánh lâu đời, và trong mắt những người sùng bái thánh hiền xưa hoặc nay thì Khổng Tử nằm ngoài tầm tra vấn; ông là một vị vua không ngai đáng kính, là người nắm giữ chân lý, là quân sư của các thời đại, ông được tặng danh hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” (“Vị vua và vị thánh tuyệt hảo của văn hóa”, danh hiệu được gán cho ông vào thế kỷ thứ 14) và với danh hiệu ấy, các vị hoàng đế đứng trước ông cũng phải cúi đầu. Đối với Khang Hữu Vy (1858-1927) và Hội Khổng học của mình, Khổng Tử là giáo chủ của một tôn giáo và cũng là một vị thánh; còn đối với những nhà Khổng học ngày nay thì ông là biểu tượng cho văn hóa Trung Quốc. Với họ, mỗi câu trong Luận ngữ đều là những lời giáo huấn thấu tình đạt lý về nghệ thuật trị quốc và tu thân. Nếu thời xưa, lời xưng tụng to tát nhất dành cho Luận ngữ là câu “Chỉ dùng nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị cả thiên hạ”, thì câu tán dương thời nay lại là câu “Giáo huấn của Khổng Tử đã quản thiên hạ 5000 năm trước, nay sẵn sàng để quản thiên hạ 5000 năm sau.” Có kẻ còn nói “Không đọc Khổng Tử không phải là người!” Ngày nay, có những “tín đồ đạo Khổng mới” lại còn ngụy tạo ra những tin tức giật gân, chẳng hạn như chuyện râm ran gần đây, rằng vào năm 1988, 75 người đoạt giải Nobel toàn thế giới đã họp nhau tại Paris để bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người! [5]

Trước cơn ‘tẩu hỏa nhập ma’ vì sùng bái thánh nhân này, tôi xin hỏi các nhà Nho tân thời một câu tầm phào sau: “Trong con mắt các vị thì Khổng Tử đương nhiên là thánh rồi, thế nhưng, ngài cũng chỉ là người, vậy ngài có đánh rắm phun hương không?!”

Sự sùng bái kia khiến người ta mất khả năng phân biệt đâu là người đâu là thánh, đâu là lời nói đời thường đâu là lời phán của trời. Họ gán cho những lời dạy thông thường trong Luận ngữ những ý nghĩa thâm thúy, cao siêu. Chẳng hạn như hai câu mở đầu của Luận ngữ“Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” (Học mà mỗi buổi mỗi tập, chẳng cũng thích ư? Có bạn ở xa nghe tiếng mà tìm lại, chằng cũng vui ư?)[6] Thử hỏi sự thâm thúy cao siêu trong câu này nằm ở đâu mà thiên hạ phải khổ công chú giải suốt suốt 2000 năm qua cho đến tận bây giờ?

Chu Tố Nhân (1885-1967) trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã nói đúng: “Luận ngữ chỉ cách tu tập để thành người tốt và cách ứng xử với đời… Đó có thể là một cẩm nang hữu ích cho hậu thế, nhưng dứt khoát không được xem đó là những chân lý không bao giờ thay đổi hoặc những chuẩn mực đạo đức. Càng không nên nghĩ rằng nó chứa đựng những triết lý chính trị sâu sắc có thể trị quốc và mang lại hòa bình cho thiên hạ.” Ngay G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức, cũng chỉ xemLuận ngữ như một cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức, không hơn không kém.

Chính Hán Vũ Đế (156-87 trước CN) người ra quyết định “độc tôn Nho thuật” đã hóa phép cho Khổng Khâu trở thành đức Khổng Phu Tử. Con chó nhà tang chết còn bộ xương, nay bộ xương bỗng chốc phục sinh và trở thành con chó gác cửa cho các triều đại quân chủ chuyên chế Trung Hoa.

Vì đạo Nho tỏ ra có ích cho quyền thống trị của vua chúa chuyên chế, nên địa vị của con chó giữ cửa được chăm sóc, củng cố, một khi ngồi vào chỗ rồi là nó cứ ngồi đó suốt hai ngàn năm. Và khi thần tượng của giới có học được triều đình thổi lên đến tận trời xanh, thậm chí biến thành tượng thờ giát vàng trong tổ miếu hoàng gia, thì đó là lúc trí thức Trung Hoa có tư tưởng tiến bộ bị đầy xuống địa ngục, biến thành nữ tì phục vụ quyền lực. Một trường hợp điển hình là Tư Mã Đàm (165-110 trước CN) cha của Tư Mã Thiên. Hai cha con đều phục vụ triều đình nhà Hán trong tư cách những thái sử. Khi Tư Mã Thiên vì dám can ngăn Hán Vũ Đế mà bị xử thiến, ông đã bi phẫn than rằng:
Cha ta cũng chẳng đạt được gì đáng ghi tên vào sổ sách triều đình. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường.”[7]

Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi các cường quốc Tây phương ép Trung Quốc mở cửa cho thế giới thì hệ thống quyền lực và ý thức hệ cũ lập tức suy vong nhanh chóng. Năm 1911, khi Cách mạng Tân Hợi kết liễu đế chế truyền thống thì Đạo Khổng, hệ ý thức của vua chúa độc tài, cũng mất hẳn chỗ dựa. Một lần nữa, “chó giữ cửa” lại trở thành “chó nhà tang” lang thang xó chợ. Mặc dù Viên Thế Khải (1859-1916) đã xoay sở để trở thành hoàng đế vào tháng 1 năm 1916 và cố phục hồi nghi lễ Đạo Khổng, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Chỉ sáu tháng sau, Viên Thế Khải chết. Sự sụp đổ toàn diện của những định chế truyền thống và ý thức hệ cũ đã diễn ra, không thể nào tránh khỏi.

Theo tôi, khi các nhà Nho truyền thống mất chỗ dựa quyền lực thì đó là nỗi bất hạnh của họ, con chó gác cửa cung đình lại trở thành con chó lang bạt. Nhưng, nếu nhìn cách khác thì đây lại là một vận may lớn, là cơ hội để giới có học ở Trung Quốc có thể trở thành người trí thức hiện đại, có thể vứt bỏ những bệ đỡ của quyền lực độc tài mà họ vẫn dựa vào, có thể nuôi dưỡng và phát huy tinh thần phê phán độc lập. Cơ hội đã đến dù họ muốn hay không.

Nhưng rủi thay, thời kỳ “chó lang” bất đắc dĩ này chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Khi Cộng sản Trung Quốc thiết lập chế độ cực quyền trên toàn quốc thì người trí thức cũng chẳng còn được thoải mái làm chó hoang nữa. Phần lớn bị đàn áp, truy đánh, dập dụa như “bầy chó mắc mưa”, một số gặp thời biến thành “chó giữ cửa” cho chính quyền Mao Trạch Đông. Quách Mạt Nhược (1892-1978) là một ví dụ điển hình, trong thời kỳ dân quốc ông còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch, nhưng sau năm 1949 thì ông chẳng khác nào con sâu nhũn gọi dạ bảo vâng trong tay Mao Trạch Đông.

Số phận của Khổng Tử trong thế kỷ 20 có lẽ sẽ khiến chính Khổng Tử choáng váng. Hai lần ông trở thành mục tiêu của những cuộc vận động chính trị chống lại mình. Lần đầu là trong phong trào Ngũ Tứ Vận động khởi đầu năm 1919, và lần kế tiếp là trong phong trào “phê Lâm [Bưu], phê Khổng [Tử]” do Mao Trạch Đông phát động năm 1974. Những năm sau vụ Thiên An Môn [1989], giới trí thức có khuynh hướng chống lại những gì được cho là cấp tiến, và họ xem cả hai phong trào Ngũ Tứ Vận động lẫn Phê Lâm Phê Khổng của Mao Trạch Đông là như nhau và bác bỏ cả hai. Nhưng làm như thế là họ không thấy hai cuộc vận động đánh đổ nhà Khổng này thực ra hoàn toàn khác nhau.

Trước hết, hai cuộc vận động có điểm xuất phát khác nhau. Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa tự phát từ dưới lên. Người tham gia chủ yếu là những trí thức đô thị đã hấp thu tư tưởng mới, giá trị mới, và phương pháp mới du nhập từ phương Tây, và họ dùng những chuẩn mực phương Tây để hiểu vì sao Trung Quốc lạc hậu. Họ bất mãn với quan điểm vào cuối thế kỷ 19 cho rằng việc bắt kịp phương Tây chỉ là vấn đề kỹ thuật, hay thay đổi hình thức chế độ. Họ đi đến kết luận rằng thay đổi cốt lõi phải là thay đổi văn hóa. Ngược lại, phong trào “phê Lâm, phê Khổng” vào năm 1974 là một màn vận động chính trị từ trên xuống của Mao Trạch Đông, kẻ có quyền lực tuyệt đối và muốn đưa Tư tưởng Mao lên vị trí độc tôn và không tư tưởng nào khác trong hay ngoài nước được phép có mặt.

Thứ hai, tính chất của hai cuộc vận động này cũng khác hẳn nhau. Đối tượng mà các trí thức cách tân của Ngũ Tứ Vận động chống đối không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần, lúc trăm nhà đua tiếng vào thế kỷ thứ năm trước CN, mà là Đức Thánh Khổng của Hán Vũ Đế, người đã đưa đạo Khổng lên vị trí độc tôn. Họ muốn đánh đổ sự độc quyền tư tưởng của đạo Khổng, của con “chó gác cửa”. Ngược lại, chiến dịch của Mao Trạch Đông chống lại Khổng Tử không liên quan gì đến nỗ lực cải tổ văn hóa, và cũng chẳng liên quan gì đến Khổng Tử. Cuộc vận động chỉ là công cụ giúp Mao cạnh tranh quyền lực với nhóm chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mục tiêu cuối cùng của Mao là hạ bệ Lâm Bưu và cảnh cáo nhà “đại nho” Chu Ân Lai.

Nói cách khác, hai cuộc vận động chống Khổng Tử có bản chất khác nhau. Một bên là những nhà trí thức không quyền lực một bên là kẻ nắm quyền lực tuyệt đối chẳng khác gì một Tần Thủy Hoàng kiểu mới. Một bên là cuộc cách mạng văn hóa tự phát từ dưới lên, một bên là cuộc vận động chính trị từ trên xuống. Một bên cố tìm lối thoát cho văn hóa Trung Quốc, một bên chỉ mong củng cố quyền lực độc tôn.

Đó là lý do đến nay tôi vẫn tán đồng nỗ lực chống ảnh hưởng của Đạo Khổng như Ngũ Tứ Vận động chủ trương, và tiếp tục chống đối cuộc vận động chống Đạo Khổng của thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

Trong luận văn viết năm 1935 “Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại”, khi Lỗ Tấn gọi Khổng Tử là thánh nhân “mô-đen” là ông có ý phê phán truyền thống tôn sùng thánh nhân của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Ông viết: “Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường.”

Theo tôi thì tệ sùng bái thánh nhân ở Trung Quốc là một công trình văn hóa giả tạo cực lớn do các đời vua chúa cùng bọn văn nhân cung đình phối hợp tạo nên. Vị Khổng Tử mà các vua chúa và quần thần “phong thánh” đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên quan với vị Khổng Tử đích thực, và đáng được xem như một món hàng giả vô cùng nguy hiểm.

Thực ra, nếu đọc kỹ các triết gia Tiên Tần, sẽ không khó nhận ra rằng tư tưởng của Khổng Tử cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường. So với Trang Tử (369-286 trước CN), Khổng Tử không có cái siêu thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, cũng không có trí tưởng tưởng đẹp đẽ kỳ vĩ, hoặc ngôn ngữ trôi chảy bất tận, cũng không có khả năng hòa quyện tri thức triết học với vẻ đẹp văn học thoát tục, hoặc tỉnh táo mà nhìn thấu đáo bi kịch của con người. So với Mạnh Tử (372-289 trước CN), Khổng Tử không có được cái khí phách của một trang nam tử, hoặc tầm nhìn rộng lớn, đó là chưa kể đến khả năng đối diện với quyền lực với thái độ đầy tự trọng, hoặc sự quan tâm thật lòng tới dân đen. Chính Mạnh Tử là người đã nói “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.  So với Hàn Phi Tử (281-233 trước CN), Khổng Tử còn có vẻ hư ngụy, giả dối, không thẳng thắn, thiếu sắc bén, cũng không có khả năng châm biếm tài hoa. So với Mặc Tử (470-391 trước CN) Khổng Tử không lấy bình đẳng làm lý tưởng và tính thiện tự nhiên, đạo đức tự giác làm nền tảng cho một chủ nghĩa mới như chủ nghĩa kiêm ái, cũng không có một hệ thống lý luận cụ thể rõ ràng nào.

Ngược lại, những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn. Những chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở thành thày dạy đạo đức. Danh hiệu vị thầy chăm chỉ, và “dậy người không mệt mỏi” dành cho ông thực ra cũng chỉ phản ảnh ước muốn viển vông xuất phát từ một nhân cách nông cạn. Nguyên tắc nổi danh của ông “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn” (thời thịnh trị thì dấn thân, thời loạn lạc thì ở ẩn), nếu nhìn kĩ sẽ thấy đó chính là cái đạo xử thế khôn lanh, thể hiện tính vô trách nhiệm và cơ hội chủ nghĩa. Thật hoài phí và tổn hại cho dân tộc Trung Hoa biết bao khi chính nhà tư tưởng này, nhà tư tưởng thực dụng hết mực, khôn lanh hết mực, và đời thường hết mực này, đức Khổng Tử, kẻ tránh né trách nhiệm xã hội và không biết cảm thông với đồng bào thọ nạn này, đã trở thành vị thánh và là mẫu mực cho họ noi theo. Dân tộc nào thì thánh nhân nấy, và thánh nhân nào thì dân tộc nấy. Tôi e rằng toàn bộ tính nô lệ trong lòng người dân Trung Quốc bắt nguồn từ đây, một thứ siêu di truyền văn hóa kéo dài từ xưa và tiếp tục đến ngày nay.

Ngoài việc truy tìm ý nghĩa đích thực của Luận ngữ, giáo sư Lý Linh còn muốn nhắm tới chủ nghĩa dân tộc cực đoan hiện nay của Trung Quốc. Giáo sư Lý thách thức những trào lưu thời thượng như cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng Tử, và gián tiếp đặt vấn đề về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Việc Lý Linh ám chỉ Khổng Tử như con chó lang thang “không một quê hương tinh thần” cũng là để phê phán các nhà Nho mới đang ra sức cổ vũ cho Khổng Tử như vị cứu tinh của thế giới. Giáo sư Lý cho rằng: “Tôi chẳng hứng thú gì khi người ta cắm ngọn cờ Khổng Tử trên toàn thế giới. Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc, cũng chẳng thể cứu thế giới.”

Mục tiêu thứ hai mà Lý Linh nhắm tới là truyền thống phò quyền lực của giới trí thức Trung Quốc. Lời chỉ trích này rất thức thời vì giới Nho gia mới hiện đang tranh thủ lấy lòng giới cầm quyền. Họ độc tôn đạo Khổng, hô hào cho đạo Khổng, không phải vì muốn dùng đạo Khổng phục hồi đạo đức nước nhà, mà là họ chú trọng đến công năng chính trị “tu, tề, trị, bình” của đạo Khổng, họ muốn thống nhất chính trị và tôn giáo. Họ muốn Khổng Tử  trở thành “quân sư” hoặc giữ địa vị “quốc sư”. Họ muốn Nho giáo trở thành “quốc giáo”, và họ muốn nhà cầm quyền luật hóa các mục tiêu này. Khi làm việc này, rõ ràng những nhà Nho mới đang cho thấy tham vọng trở thành “quân sư” cho các đế vương hiện đại – hoặc trở thành một dạng “vua triết gia” theo kiểu Plato, thực sự nắm quyền lực trong tay. Khi tân trang hình ảnh cho Khổng Tử, họ thực ra đưa Trung Quốc ngược trở lại với thời Hán Vũ Đế. Họ muốn tái lập thời đại mà trong đó tư tưởng đa dạng của cả trăm nhà đều bị bãi bỏ, để độc tôn duy nhất đạo Khổng, họ muốn phục hồi tệ sùng bái “thần thánh” truyền thống.

Giáo sư Lý Linh nhận ra rằng trong lịch sử Trung Quốc, giới trí thức, vốn mang trong đầu rất nhiều điều không tưởng, chỉ thực sự hữu dụng khi nằm ngoài quyền lực và giữ vai trò phê phán nhà cầm quyền. Khi có quyền lực trong tay họ sẽ trở nên nguy hiểm, thậm chí thảm họa, cho quốc gia. Giáo sư Lý viết: “Giới trí thức, với mắt bén, đầu sáng, có thể trở nên độc tài hơn bất cứ ai. Đặt gươm đao phủ vào tay họ, thì kẻ đầu tiên mất mạng sẽ chính là những trí thức khác.” Điều này xảy ra vì thói quen của giới trí thức Trung Quốc tự cho rằng mình có trí tuệ tối ưu, đạo đức tối ưu, lí tưởng tối ưu, và sự hiểu biết tối ưu, cao hơn bất cứ ai. Họ tự cho mình cái quyền “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”, và tin rằng họ còn có thế cứu vớt mọi người thoát vòng tai ương và kiến tạo thiên đường trên mặt đất. Trương Tải (1020-1077 trước CN) đời nhà Tống tóm tắt mục tiêu của người trí thức Trung Quốc trong bốn câu sau đây: “Vì trời đất lập đạo, vì dân sinh lập mệnh, vì thánh nhân xưa mà truyền thụ giáo huấn, vì muôn đời mà mang lại thái bình.” Ngày nay nhiều trí thức Trung Quốc vẫn mang não trạng này, cho thấy truyền thống tự mãn và cuồng vọng của trí thức Trung Quốc đã trở nên thâm căn cố đế, khó thay đổi.

Giáo sư Lý Linh muốn kêu gọi giới trí thức Trung Quốc hôm nay học lại bài học lịch sử, biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ mộng trở thành quân sư, chấm dứt việc biến kinh sách truyền thống thành công cụ chính trị, phải giữ tính độc lập trong tri thức, tư tưởng, học thuật, phát huy tinh thần sáng tạo của người trí thức. Ở đoạn cuối lời giới thiệu sách, giáo sư Lý viết:
“Hãy bình tâm mà đọc Luận ngữ, đừng chính trị hóa, đạo đức hóa, giáo phái hóa Luận ngữ. Mục tiêu duy nhất là tìm cho được con người Khổng Tử thật, giữa một thời đại mà, mượn chính lời Khổng Tử, lễ nhạc đã suy đồi.”

Nếu giới trí thức Trung Quốc bỏ qua lời khuyên này, số mệnh của họ sẽ chẳng khác gì những kẻ đi trước, sẽ chỉ là những con chó chạy quẩn quanh phục vụ kẻ khác, đến khi không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường, gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa.

Theo tôi, đại bi kịch của lịch sử văn hóa Trung Quốc không phải là việc Tần Thủy Hoàng (259-210 trước CN) “đốt sách chôn nho”, mà chính là việc Hán Vũ Đế “bãi truất trăm nhà, độc tôn đạo Nho”. Từ chủ trương này, Đổng Trọng Thư (175-105 trước CN) đã sửa đổi học thuyết của Khổng Tử, biến những đế chế vốn dĩ được thiết lập dựa trên bạo lực trở thành biểu hiện của đạo trời. Nguyên lý của Đổng Trọng Thư, ghi trong cuốn Lịch sử Tiền Hán, cho rằng “trời không đổi gì thì không gì phải đổi” (“thiên bất biến đạo diệc bất biến”) là căn cứ để khẳng định tính hợp pháp của chế độ, rằng sự trường tồn của các triều đại là việc đã được vũ trụ an bài. Lập luận này khoác lên mình chế độ bạo lực toàn trị một lớp áo nhân trị êm ái. Đương nhiên các đế vương thấy ngay tác dụng của lớp áo ngoài này, nên đã tiếp tục lập đạo Khổng thành một ý thức hệ chính thống độc tôn và trở thành con đường chính thức để kẻ có học lập thân, có nghĩa là trở thành “đầy tớ ngoan ngoãn” cho kẻ cầm quyền. Chính Mao Trạch Đông cũng định vị thân phận của giới trí thức rất rõ ràng  khi dùng câu nói “da [kẻ cầm quyền] không còn, thì lông [trí thức] bám vào đâu?”

Trách nhiệm lớn nhất của giới trí thức Trung Quốc hôm nay không phải là bảo vệ truyền thống sùng thánh mà quyền lực độc tài chủ xướng, mà là thoát khỏi sự lệ thuộc và vị thế phục dịch cho quyền lực độc tài kia. Chúng ta cần kế thừa và phát huy truyền thống Ngũ Tứ, mà giáo sư Trần Dần Khác (1899-1969) đã tóm tắt bằng câu “tư tưởng tự do, nhân cách độc lập”.

Lưu Hiểu Ba
Bắc Kinh, 18/8/2007
Xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

Ghi chú của người dịch

** Xem “Khổng giáo, công cụ của quyền lực mềm“: Con số 320 Viện Khổng Tử được The Economist nhắc tới vào đầu năm 2011, trong khi ký giả Carrie Gracie của BBC gần đây lại nói có tới con số gần 1.000, đây là con số đáng ngờ, vì ngay cả phía Trung Quốc cũng chỉ dự định đạt được con số 1.000 Viện Khổng Tử vào năm 2020. Hình ảnh minh họa cho bài của Carrie Gracie cũng không chính xác vì bức tượng Khổng Tử tuy được khánh thành long trọng tại Thiên An Môn vào tháng 1/2011, nhưng đến tháng 4/2011 thì bức tượng cao 9 mét này đã được âm thầm dời đi trong đêm. Nghe nói tượng hiện được đặt trong vườn tượng thuộc Viện Bảo tàng Quốc gia. Nguồn các thông tin này xem tại: The Economist, 20/1/2011, BBC Việt ngữ 10/10/2012, Tân Hoa Xã (tiếng Anh), 10/2/2006.
——————————————
[1] Táng Gia cẩu: Ngã độc Luận ngữ 丧家狗:我读《论语》, Lý Linh, NXB Nhân Dân Sơn Tây, Trung Quốc, 2007

[2] Trong nguyên bản, Lưu Hiểu Ba dùng cụm từ “nhị thánh nhân, tam thánh nhân” để chỉ hai vị, dịch giả T. E. Moran nêu danh tính hai vị là Mạnh Tử và Vương An Thạch để độc giả phương Tây dễ hiểu. Ở nhiều đoạn khác, T. E. Morgan cũng ghi thêm ngày sinh, ngày mất bên cạnh tên tác giả để độc giả phương Tây dễ tham khảo.

[3] Quan điểm chỉ dùng Luận ngữ để tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử cũng là quan điểm của học giả Nguyễn Hiến Lê, vì có chứng cớ xác thực cho thấy Khổng Tử là người viết ra Luận ngữ, trong khi các tác phẩm khác lại không phải. Nguyễn Hiến Lê viết: “Từ xưa tới nay hầu hết các học giả viết về học thuyết Khổng tử đều dùng cả tứ thư lẫnKinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng Tử Gia ngữ v.v… làm tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộLuận ngữ là bộ đáng tin nhất, còn thì bộ nào cũng chứa nhiều tư tưởng của người sau, không phải của Khổng Tử.

Tôi lấy thí dụ cuốn Đại học của Tăng Tử (một môn sinh được trực truyền) ngay trong đoạn đầu nói về việc tu thân để tề gia, trị quốc…, cũng đã có một ý tôi cho không phải của Khổng tử mà của Tăng Tử, tức “tri tri tại cách vật”, vì trong Luận ngữ ông không hề nói tới sự cách vật.

Sách Trung dung của Tử Tư, cháu nội Khổng Tử, cũng có những tư tưởng siêu hình, mà Khổng tử tránh phần siêu hình.

Rồi những câu “cương nhu tương thôi nhi sinh biến hóa”, “nhất hạp nhất tịch vi chi biến, vãng lai bất cùng vi chi đạo” (trong Kinh Dịch – Hệ từ thượng) mà nhiều người dẫn (chẳng hạn Trần Trọng Kim trongNho giáo) và cho là quan niệm về thiên lý, về đạo của Khổng Tử, thì sao tôi thấy có màu sắc của Lão giáo quá.

Ngay như Lễ kí, thiên Tăng Tử Vấn (Tiểu Đái kí) phần lớn không tin được vì xuất hiện sau Khổng Tử bảy trăm năm (thế kỷ II sau Tây Lịch) và do người đời Hán viết.
Căn cứ vào những bộ đó thì không khác gì tô xanh tô đỏ lên học thuyết của Khổng Tử, còn đâu chân diện mục của nó nữa. Từ lâu tôi vẫn bất mãn về điều đó và chỉ thấy mỗi một học giả ở Pháp, ông Etiemble, trong cuốn Confucius (Gallimard 1966) là không dùng phương pháp đó mà chỉ căn cứ vào mỗi hệ Luận ngữ mà thôi.”
(Trích từ Lời nói đầu, Nguyễn Hiến Lê viết ngày 1/7/1978, in trong cuốn Khổng Tử, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1992, trang 7-8).

[4] Đoạn nói về “chó nhà tang” được Tư Mã Thiên ghi trong Sử ký như sau:
“Khổng Tử đến nước Trịnh, thày trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa thành. Có người nước Trịnh bảo Tử Cống:
- Ở cửa phía đông có một người trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang.
Tử Cống nói thực với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng:
- Hình dáng bên ngoài là việc vụn vặt, nhưng nói “giống như con chó của nhà có tang” thì đúng làm sao! Đúng làm sao!”
(Trích Sử ký – Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 1999, trang 163-164)

[5] Trong cuốn Khổng Tử – Luận ngữ với cuộc sống hiện đại, do Dương Minh Hào sưu tầm và biên dịch, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2012, phần Lời mở đầu của Dương Minh Hào cũng ghi một “tin giật gân” tương tự, xin trích nguyên văn:
“Năm 1991 trong tuyên ngôn đại hội những người nhận giải thưởng Nôben toàn cầu tại có câu: ‘Nếu nhân loại muốn được tiếp tục sinh tồn ở thế kỷ 21, thì cần phải trở lại hơn hai ngàn năm trăm năm trước để hấp thu lấy những trí tuệ cũa Khổng Tử.’
Các nhà khoa học trên toàn thế giới đều đã nhất trí cao với nhận thức này.”

[6] Trích Luận ngữ, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, năm 1994, trang 25.

[7] Trích từ Sử ký – Tư Mã Thiên, bản dịch của Phan Ngọc, sđd, trang 5-6.

Saturday, February 28, 2015

TỨ TOÀN CỦA TẬP CẬN BÌNH BẤT KHẢ THI

Ông Tập Cận Bình và tấm áp phích quảng cáo về Giấc Mộng Trung Hoa - Ảnh của AFP.

Bài đọc liên quan:

Từ lý thuyết Tam Cương của Khổng Khâu, mấy ngàn năn trước Trung Hoa đã được thống nhất 2 lần: Nhà Hán và nhà Tần. Nền Cộng hòa non trẻ được Tôn Dật Tiên đặt nền móng sau khi hạ bệ hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, khi mà đất nước Trung Hoa bị chia cắt do phương Tây. 

Lần thứ 3 Trung Hoa được thống nhất trở lại gần đây 1949, là do Mao. Nhưng Mao đã phá hủy nền Cộng hòa non trẻ mà Tôn Dật Tiên đã xây dựng sau khi hạ bệ nhà Thanh, để mang Trung Hoa trở lại chế độ phong kiến xưa cũ dưới hình thức cộng sản mang màu sắc Trung Hoa.

Hoàn cảnh chính trị Trung Hoa hiện nay cũng giống như Pháp vào thế kỷ XVIII, khi Nã Phá Luân kéo nước Pháp trở lại nền quân chủ chuyên chế sau khi nền Cộng hòa non trẻ ra đời năm 1789.

Quy luật của triết học đã khẳng định: "kinh tế quyết định chính trị, và chính trị sẽ tác động đến kinh tế". Một nền chính trị đơn nguyên tập quyền như Trung Hoa chỉ là chiếc áo chật khoát trên mình của một gả khổng lồ về kinh tế. 

Vì thế cho nên cách đây 2 năm ông Lý Khắc Cường - thủ tướng Trung Hoa đã đưa ra Chiến lược kinh tế - Likonomics. Likonomics gồm 3 mục tiêu - Không kích thích kinh tế - No stimulus; Giảm nợ - Deleveraging; và Cải cách cơ cấu - Structural Reform. 

Theo tổng kết của World Bank năm 2013 nợ công của Trung Hoa chiếm 121% GDP, nhưng chỉ 1 năm sau, vào cuối 2014, thì khối nợ công này tăng thêm hơn gấp đôi tương đương với 282% GDP Trung Hoa. 

Từ thời loài người có mặt trên trái đất, và biết sống thành cộng đồng đến nay, các hình thái chính trị xã hội loài người thi nhau ra đời. Từ đơn nguyên tập quyền, đến đa nguyên tập quyền, rồi đa nguyên tản quyền, chưa có hình thái xã hội nào tiêu diệt được tham nhũng cường quyền, mà chỉ có đa nguyên tản quyền làm giảm thiểu tối đa tham nhũng cường quyền mà thôi.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền là mảnh đất màu mỡ nhất để nuôi dưỡng tham nhũng cường quyền. Theo Business Insider, chỉ trong 2 năm đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình đã làm cho các quan tham tuồn ra khỏi Trung Hoa đến 1250 tỷ đô la để tìm quê hương mới.

Với những con số trên, sau 2 năm hoạt động Likonomics xem như phá sản, không thể kéo kinh tế Trung Hoa đang đi xuống chưa thấy đáy như tôi đã tiên liệu 2 năm trước trong bài Likonomic tiến thoái lưỡng nan.

Trung Hoa đang chuẩn bị cuộc họp quốc hội để đưa ra chính sách và pháp luật mới cho thời kỳ mới, trong lúc kinh tế lẫn chính trị Trung Hoa đang rối ren. Cách đây 3 hôm, ngày 25/02/2015, Nhân dân nhật báo Trung Hoa giới thiệu một bài xã luận trên trang nhất 2000 chữ, về chiến lược chính trị của ông Tập Cận Bình - Tứ Toàn: Four Comprehensives - nhằm nâng đở kinh tế đang trên đà thất bại của Chiến lược kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường. 

Tứ toàn là gì? Nó có nghĩa là bốn cải cách toàn diện về kinh tế chính trị để nhằm khôi phục kinh tế Trung Hoa. Bốn toàn diện đó là: Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện; Cải cách sâu sắc toàn diện; Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện; Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện, nhằm thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" như lời ông Tập khi đọc diễn văn nhậm chức.

Tất cả những cái gọi là Tứ Toàn của ông Tập đều là những câu khẩu hiệu có tính tuyên truyền hơn là hiện thực. Còn nhớ cách đây gần 20 năm, khi ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ đã từng tuyên bố, nếu chủ tịch Giang Trạch Dân tham nhũng thì ông cũng bắt bỏ tù. Nhưng ông Chu Dung Cơ cũng chỉ ngồi ghế hành pháp của mình chỉ đúng một nhiệm kỳ từ 1998 đến 2003, là về vườn, giờ chỉ ngồi làm thơ dạy đời nói bóng gió, tham nhũng ở Trung Hoa ngày càng tăng.

Gần đây lại có thông tin các tham quan đang đoàn kết lại, đặt mua súng trường bắn tỉa để thủ tiêu ông Tập. Vấn đề thủ tiêu ông Tập không phải là dễ dàng. Nó cũng giống như chuyện ông Tập không thể diệt được tham nhũng ở một nền chính trị đơn nguyên tập quyền.

Không thể có một nền tư pháp đúng nghĩa trong một nền chính trị đơn nguyên tập quyền, vì không thể có tam quyền phân lập, nên cái tam toàn của ông Tập - Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện - là hoàn toàn phá sản khi nó vừa thoát ra khỏi cửa miệng của ông. Chỉ mới đây thôi, ngày 26/02/2015, Tân Hoa Xã đã đưa tin Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa khuyến cáo các nhà tư pháp cao cấp Trung Hoa hãy tránh xa mô hình tư pháp độc lập, thì làm gì có pháp luật ở Trung Hoa?

Cái tứ toàn - Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện - cũng phá sản khi chưa ráo mực 2000 chữ trên tờ Nhân dân nhật báo Trung Hoa, khi quyền quản lý ấy lại thuộc về đảng cầm quyền. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản ở Trung Hoa là đảng độc nhất nắm mọi quyền quản lý và cái trị thì lấy cái gì để quản lý lại đảng cộng sản ở Trung Hoa?

Nhất toàn - Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện - chỉ là ý tưởng của ông Hồ Cẩm Đào, xã hội văn minh hài hòa. Điều này thì có thể, nhưng cũng chỉ như hiện nay. Nó chỉ dành cho tham quan và chính khách, người dân Trung Hoa không thể có quyền sống, đừng nói đến quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhị tòan - Cải cách toàn diện sâu sắc - chẳng khác nào là một câu chém gió của thế giới ảo internet. Cải cách cái gì, nếu không là đa nguyên tản quyền cho nền chính trị Trung Hoa? Từ 1949 đến nay, nền chính trị Trung Hoa vẫn là đa nguyên, nhưng giả hiệu, vì các đảng phái khác chỉ để làm kiểng, và cũng do đảng viên cộng sản ở Trung Hoa nắm và hoạt động theo cương lĩnh và nghị quyết của đảng cộng sản.

Tóm lại, tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi, nếu Trung Hoa không chuyển mô hình chính trị từ đơn nguyên tập quyền sang đa nguyên tản quyền.

Asia Clinic, 15h47' ngày thứ Bảy, 28/02/2015

THUỐC, THỰC PHẨM VÀ BIẾN TƯỚNG CỦA NÓ


Bài đọc liên quan:

Dân gian Việt có câu: "Khôn lổ miệng, dại lổ báo, bệnh tật cũng từ lổ miệng mà ra". 

Thủy tổ ngành y - Hippocrates - có câu: "Làm sao để thức ăn trở thành thuốc, vì thuốc có từ thức ăn".

Y học hiện đại xác định rõ ăn tức là phương thuốc duy trì sự sống khoa học nhất, ăn đúng là thuốc, ăn sai là thuốc độc.

Trong ẩm thực phương Đông, đặc biệt, ẩm thực Trung Hoa có những món kèm theo thuốc Bắc. Nhưng ở Việt Nam bữa ăn hằng ngày rất khoa học, đầy đủ cả đường, đạm, mỡ, muối khoáng và sinh tố trong từng bữa ăn, nhờ vào địa lý nhiệt đới, có bờ biển dài, hệ sinh thái phong phú, rau củ quả rất đầy đủ mọi chất cho việc cung cấp thực phẩn tươi sống không thua gì những viên thuốc hằng ngày.

Thế nhưng khi khoa học phát triển, nhu cầu biến những bữa ăn thành những viên thuốc để phục vụ cho phi hành gia sống trong điều kiện không gian không trọng lượng, việc trao đổi chất, và những chất thải cần giản tiện, giảm thiếu tối đa. Với yêu cầu đó, y dược học cho ra đời những viên thuốc gọi là Herbal Life, nhằm phục vụ đời sống cho phi hành gia nhiều tháng, với mỗi ngày vài viên thuốc là đủ năng lượng hoạt động trong điều kiện nghiêm ngặt này.

Herbal Life ra đời ở Hoa Kỳ, thì tại Hoa Kỳ cũng có một giáo phái - Mormon. Giáo phái này cũng thờ đức chúa Trời, nhưng họ có quan niệm bảo thủ sống cùng thiên nhiên, không chạy theo khoa học làm phá hủy môi trường. Từ đó, họ cổ súy việc ăn uống thực phẩm thiên nhiên tươi sống phù hợp với sức khỏe con người, và môi trường hơn là chạy theo thức ăn nhanh - fast food - của các hãng thức ăn sẵn như Mc Donald, KFC, etc.

Từ quan niệm đó, các nhà làm y dược của giáo phái Mormon ở tiểu bang Utah, Hoa Kỳ nghĩ ra phát triển thực phẩm bổ sung - supplementary food - mà có nơi gọi là thực phẩm chức năng - functional food. Ý tưởng ban đầu là tốt đẹp. Nhưng vì, đã là thực phẩm bổ sung thì nó là loại mặt hàng không cần kê toa của bác sĩ - over-the-counter. Và nó cũng không bị sự bắt buộc kiểm nghiệm, thí nghiệm qua 5 bước của FDA - Food and Drug Administration. Nó cũng không bị sự kiểm soát gắt gao của Ủy ban thương mại Liên bang Hoa Kỳ - FTC: Federal Trade Commission. Nhưng nó được bán với giá gần như là thuốc.

Lời bình của một con chiên đã từng dùng thực phẩm chức năng ở Hoa Kỳ

 Không bị kiểm duyệt gắt gao của FDA và FTC chính là 2 yếu tố tạo ra kẽ hở để thực phẩm chức năng lách qua luật, bành trướng thị trường và chiếm thị phần hàng ngàn tỷ đô la mỗi năm chỉ riêng thị trường Hoa Kỳ từ thập niên 1980s và 1990s.

Sau một thời gian dài phát triển với lợi nhuận lớn - không phải thuốc mà bán với giá như thuốc - mô hình hoạt động phân phối của thực phẩm chức năng ở Hoa Kỳ đã thâm nhập vào 4 đại gia chuyên bán lẻ là Walmart, GNC, TargetWalgreen. Ngoài 4 đại gia này, còn có các hệ thống đến tay người tiêu dùng thông qua hệ thống bán hàng đa cấp, bằng cách kích vào lòng tham của con người với lợi nhuận cao.

Mô hình bán hàng đa cấp sau đó lại được phát triển ra toàn cầu, và du nhập vào Việt Nam từ đầu thập niên 2000s. Nó đã lừa đảo không biết bao nhiêu đại lý con bằng tiền đóng góp cổ đông. Nó làm cho người thân lừa cả người thân trong gia đình, bạn bè trong hơn 10 năm qua. Hiện nay ở Việt Nam cũng có những công ty, nhà máy sản xuất thực phẩm chức năng rất hoành tráng. Thậm chí, nhà nước cũng lập ra một Hội thực phẩm chức năng với nhiều nhân vật học vị, học hàm, nổi tiếng - ví dụ như Dr Thanh của Tân Hiệp Phát.

Ngày nay, mô hình bán hàng đa cấp không chỉ dừng ở thực phẩm chức năng, mà còn đi đến hầu hết các sản phẩm khác như vàng bạc, đá quý, bảo hiểm nhân thọ, etc. Nó như con bạch tuộc vươn vòi đi đến mọi ngóc ngách thế giới để lừa đảo chính người thân của nhau. 

Cách đây 5 năm FDA đã cảnh báo - tôi đã viết 1 bài trên blog này và đã có nhiều bác sĩ ném đá tôi rất cay nghiệt và vô văn hóa - chất lượng thực phẩm chức năng cần phải kiểm tra gắt gao như dược phẩm. Nhưng các chính khách ở các tiểu bang Hoa Kỳ không thực hiện. Nhưng đầu tháng 02/2015, ở New York đã có 2 trường hợp tai biến vì dùng thực phẩm chức năng bị sốc phản vệ và đi đến tử vong. 

New York Times đưa tin Văn phòng chưởng lý New York đã ra quyết định kiểm tra gắt gao thực phẩm chức năng. Sau kiểm tra, hầu hết thực phẩm chức năng đều làm từ bột mì, bột đậu nành, đậu Hà Lan, etc, nhưng trên bao bì thì để đủ tác dụng thượng vàng đến hạ cám, chữa bách bệnh giống như thuốc Xuyên Tâm Liên của Hà Nội sản xuất mà dân miền Nam được kê toa bán bách bệnh trong những ngày đầu sau sự cố 30/4/1975.

Câu chuyện thực phẩn chức năng ở Hoa Kỳ bắt đầu được các chính khách, FDA và FTC đề nghị đưa ra dự luật tại quốc hội Hoa Kỳ. Từ giờ cho đến ngày quốc hội Hoa Kỳ thông qua dự luật, 4 đại gia Walmart, GNC, Target và Walgreen không được đưa hàng thực phẩm chức năng vào hệ thống mua bán tại New York. Các tiểu bang còn lại đang xem xét và đưa ra quyết định trong tương lai.

Điều đáng buồn là, ở Việt Nam người cầm đầu sản xuất thực phẩm chức năng đình đám một thời lại là một vị bác sĩ có học vị học hàm ở một Viện quân y trung ương 108 - nơi bảo vệ sức khỏe cho cán bộ trung ương. 

Ông Võ Hoài Nam người rất thành công khi đứng đầu hệ thống bán hàng đa cấp có tên là Unicity ở Việt Nam.

Đáng sợ hơn là người cầm đầu hệ thống bán hàng đa cấp lại là cháu ruột của một vị tướng lừng lẫy Điện Biên chân động Địa cầu.

Liệu sau cú sốc lừa đảo tại Hoa Kỳ - cái nôi sinh ra thực phẩm chức năng và mô hình bán hàng đa cấp - thì ở Việt Nam những người đứng đầu ngành y tế và ngành thực phẩm, cũng như quốc hội có quan tâm vấn đề này không, hay là cứ để sức khỏe người Việt vốn đã bị bao nhiêu thực phẩm hóa chất độc hại giết mòn, vẫn cứ bị lừa tiền mất tật mang?

Asia Clinic, 11h16' ngày thứ Bảy, 28/02/2015

Friday, February 27, 2015

VIẾT THẾ NÀO MỚI GỌI LÀ VIẾT?

Bài đọc liên quan: Essay là sự khác biệt

Thời gian qua, Go West Foundation có nhận nhiều hồ sơ của các ứng viên trẻ để xét tặng học bổng cho niên khóa 2015 - 2016, nhưng trong tất cả các lá thư qua họp thư quytaydu@gowestfoundation.org, chúng tôi chưa thấy hài lòng lắm cách trình bày, và cách đưa thông tin của các ứng viên, mặc dù cũng đã có một vài ứng viên đang được quan tâm, xem xét, để có cuộc phỏng vấn vào tháng 3/2015 sắp tới.

Một bài viết có nội dung hay, nhưng nếu cách trình bày kém, nó sẽ làm giảm giá trị bài và giảm sự tương tác trên cộng đồng.

Tôi không phải nhà báo, cũng chẳng phải nhà văn, nhưng viết blog liên tục 6 năm qua, cũng có tham gia viết một số bài báo. 

Ngày xưa, khi còn làm nhà nước cũng đã từng viết bài khoa học, làm trình bày bằng power point trước hội thảo quốc gia, quốc tế, nên cũng có chút kinh nghiệm về viết để trình bày, thế nào là một bài viết tốt. 

Văn là người, vì thế cho nên các đại học lớn trên thế giới bắt buộc phải có yếu tố bài luận - essay - cho việc xét tuyển sinh viên và tặng học bổng. Nhưng muốn văn viết tốt, thì không phải là thiên bẩm, mà đòi hỏi phải ôn luyện. Viết nhiều thì khả năng viết mới có hồn, có thần trong bài viết. 

Để có một bài viết tốt thì bài viết ấy phải có đủ 2 tiêu chuẩn về nội dung và hình thức, đặc biệt nếu bạn muốn đưa thông tin đến cộng đồng, và có tương tác tốt đến cộng đồng.

Về nội dung, cần phải có 3 yếu tố chính sau:

Thứ nhất, bài viết bắt buộc phải có ý tưởng cốt lỏi. Ý tưởng cốt lỏi phải làm người đọc giật mình. Cái giật mình đó, có thể là sự thông minh, hóm hĩnh hay mới lạ, etc. Mọi thông tin phải đi theo ý tưởng cốt lỏi mà người viết muốn đưa đến cộng đồng.

Thứ hai, nội dung cần phải có nhiều thông tin, nhưng thông tin ấy phải có chứng cứ để chứng minh điều người viết là có thực, không bịa đặt.

Thứ ba, bài viết nên có đủ 3 phần nội dung cốt lỏi, phần thứ nhất là hiện thực khách quan; phần thứ hai là phê phán khách quan; và phần cuối cùng là đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề khách quan đó khoa học nhất.

Về hình thức, cũng đòi hỏi có 3 phần để có tác dụng tốt với cộng đồng.

Thứ nhất, là từng đoạn văn là chỉ nên diễn tả một ý chính hoặc một lượng thông tin chính để đoạn văn ấy không quá dài làm ngán người đọc.

Thứ hai về câu văn, dù câu phức hay câu đơn, thì câu văn cần sáng sủa, bình dân hóa ngôn ngữ khoa học hàn lâm, nói hết ý mà người viết cần diễn tả để người đọc dễ hiểu.

Cuối cùng là, không nên tả cảnh, tả tình như tiểu thuyết làm bài viết quá dài. Vì thời đại thông tin, nên có quá nhiều thông tin tràn ngập trên thế giới mạng, nếu viết dài sẽ làm chán người đọc phải mất thời gian đọc. Đọc sách khác với đọc thông tin trên internet là ở điểm này. Nên cố gắng viết làm sao một đoạn văn không nên quá 5 dòng.

Kết

Vì văn là người, nên qua bài viết bạn phải làm sao người đọc dù khó tính cũng thấy được 5 đặc điểm quan trọng của người viết: tính khoa học, tính trung thực, tính khách quan, tính sáng tạo và sự ngắn gọn. Nếu một bài luận nhập học đại học lớn, mà các bạn trẻ đạt được 5 đặc tính trên thì chắc chắn sẽ thành công.

Hy vọng bài viết này có hiệu quả đối với các bạn trẻ. 

Asia Clinic, 9h48' ngày thứ Sáu, 27/02/2015

Monday, February 23, 2015

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN VĂN HÓA

Ở vùng đất nào tối tăm nhất là vùng đất thường sản sinh ra tư tưởng sáng nhất. Các tôn giáo ra đời hầu hết ở châu Á: Phật, Hồi, Bà La Môn, Hindu, Cơ Đốc giáo, etc, vì châu Á là cái nôi của văn hóa phong kiến tập quyền, con người sống với nhau không khác chiếm hữu nô lệ ở châu Âu. Những tư tưởng triết học giúp nhân loại phát triển khoa học đưa đời sống con người ngày một tốt hơn, lại xuất hiện ở châu Âu, nơi tối tăm về chế độ chiếm hữu nô lệ.

Ở vùng đất xưa cũ bao giờ cũng là nơi văn hóa thuần chủng bám rễ lâu bền, bảo thủ khó thay đổi, và khó phát triển. Châu Âu và châu Á, kể cả châu Phi - cựu lục địa - là những nơi sản sinh ra tư tưởng tốt đẹp của nhân loại, nhưng lại không sử dụng nó theo hướng tốt đẹp, mà bị con người lợi dụng tư tưởng tốt ấy để sản sinh ra những chế độ độc tài nhằm thu vén sở hữu và quyền lực về cho giai cấp cầm quyền. Đại diện là chiếm hữu nô lê, phong kiến và cộng sản là những chế độ tồi tệ nhất của loài người sinh ra ở các cựu lục địa này.

Nhưng ở Tân lục địa - châu Mỹ - lại là nơi con người biết tiếp thu và áp dụng hữu ích nhất cho nhân loại để Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới nhân bản nhất. Úc và New Zealand cũng là tân lục địa, ở đó con người sống với nhau cũng nhân bản hơn.

Việt Nam cũng vậy, càng vào Nam - vùng đất mới - văn hóa sống của con người Việt cũng thoáng hơn. Đại diện Sài Gòn là đất lành chim đậu. Sài Gòn là vùng đất không phân biệt tầng lớp, vùng địa lý, nhưng đầy sức sống để những ai muốn có cơ hội để đi lên.

Vùng đất mới là vùng đất của những hội tụ đa văn hóa, đa sắc tộc và nhiều tư duy rộng mở. Nó tiếp nhận và bao dung cho mọi cá thế để xây dựng cuộc đời mới.

Khi con người ta đã quen với tem phiếu thời bao cấp, nên đâm ra nghiện nó như nghiện heroin. Thế cho nên mới có kiểu bỏ cả ngày để được mua hàng rẻ tiền và nghe chửi mắn, nhưng không sợ mất thời gian là vàng bạc của mỗi con người. Ở những vùng đất này không thể có sự đổi mới, và không nên chọn làm thủ đô của một quốc gia!

Cứ mỗi lần trở lại quê nhà là mỗi lần đau lòng, vì tư duy của cả dân đến quan đều bảo thủ và chậm tiến. Không trách được, vì họ chưa được khai tâm, mở trí ở một vùng đất cựu lục địa, đứng trên phương diện quốc gia, mặc dù Bình Định chỉ mới ra đời chỉ chưa đầy 700 năm trong cuộc Nam tiến của dân tộc.

Nói chuyện với bạn bè, ở Bình Dương cũng có cái tên Bình Đường của xứ Tây Sơn Bình Định, ở Nhà Bè Sài Gòn cũng có cái tên Phú Xuân của Huế, etc, tôi nói rằng, đó là chứng tích di dân, mở cõi mang theo cả tên làng, tên núi, tên sông của ông cha ta, nhưng dân Bình Dương sống thoáng hơn dân Bình Định.

Một người bạn nói, dân Bình Định rất dễ thương khi còn là dân, nhưng khi làm quan thì lại ác. Tôi bảo, quan ở đâu trên thế giới cũng ác, nếu luật pháp kém phân minh, do chế độ chính trị ác độc của chính khách tạo ra, chứ không riêng Bình Định và Việt Nam. Và dân ở đâu cũng dễ thương chứ không chỉ dân ở Bình Định hay ở Việt Nam.

Cứ mỗi lần di dân là mỗi lần người dân bỏ đất cũ đi tìm vùng đất được quyền sống mới thấu hiểu về chính trị, văn hóa và luật pháp, nên họ xây dựng vùng đất mới một nét văn hóa sống mới và nền pháp luật tốt đẹp hơn.

Tuổi thơ ở đâu, quê hương ở đó. Đó là chân lý trường tồn. Cuối thập niên 1970, khi Đặng Tiểu Bình quyết định tặng học bổng toàn phần cho những tài năng trẻ du học Hoa Kỳ, mà không bắt buộc họ quay về, nhằm giúp ích cho Trung Hoa tương lai, thì nhiều lãnh đạo cao cấp của Trung Hoa lúc bấy giờ lo ngại. Nhưng ông Đặng vẫn thực hiện, và khẳng định, họ ra đi rồi họ sẽ về, vấn đề là chế độ đãi ngộ. Năm 1990, ông Đặng đã chứng minh được điều này, và hôm nay Trung Hoa là cường quốc.

Gần đây, những người Việt trốn chạy cộng sản ở Việt Nam - mà thường được gọi là thuyền nhân: boat people - là những thanh niên ra đi từ tuổi đôi mươi, sức trẻ tràn trề ra đi 40 năm trước, giờ đã cạn ngọn đèn dầu sức lực ở xứ người, quay về Việt nam nghỉ hưu và chờ nằm với mảnh đất chôn nhau cắt rún.

Bản thân tôi cũng không ngoài quy luật này. Tết nào, tôi cũng mong được về quê Bình Định để ăn tết. Vì ở đó, tôi có tuổi thơ ngây, là những ngày đẹp nhất của một đời người, dù tuổi thơ của thế hệ chúng tôi vô cùng vất vả với chiến tranh, rồi với từng con tem, cái phiếu thời bao cấp của cộng sản chiếm miền Nam.

Văn hóa không chỉ là chứng cứ cho sự tồn tại của một dân tộc, mà còn là gốc rễ của sự phát triển cho tư tưởng, kinh tế, chính trị, giáo dục và mọi lĩnh vực của mọi xã hội.

Hầu hết các lãnh đạo chính trị ở các quốc gia nhược tiểu đều có nhiều chuyến công du quốc tế, đi khắp nơi ở các nền văn hóa, văn minh nhất toàn cầu, nhưng họ không vì thế mà canh tân quốc gia, mà ngược lại, để củng cố quyền lực của mình, họ nghĩ ra những chính sách bảo thủ, và tệ hại để giữ lấy cái văn hóa, và chính sách không hội nhập.

Phải chi con người ở những vùng đất cũ thấu hiểu về văn hóa, và biết hội nhập nó để góp sức để canh tân quê hương tốt đẹp hơn?

Tư Gia, 18h58' ngày thứ Hai, 23/02/2015

Thursday, February 12, 2015

BỆNH NHÂN SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI GIAI ĐOẠN CUỐI NHƯ THẾ NÀO?

Ở bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối cả môi, lưỡi, niêm mạc má và vòng họng lở lét không thể ăn uống hay có thể há được miệng vì quá đau do nhiễm trùng lở loét.

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải - Acquired Immune Deficiency Syndrome - có thể do nhiễm HIV, nhưng nó cũng có thể do hóa trị liệu ung thư, đặc biệt, ung thư bạch cầu - Leukemia - gây ra. Dù là bị AIDS do HIV hay do thuốc thì bệnh cảnh cũng giống nhau. 

Bệnh cảnh giai đoạn cuối của Suy giảm miễn dịch không phải là một bệnh lý, mà là một hội chứng. Hội chứng là một nhóm nhiều triệu chứng khác nhau của một bệnh hay nhiều bệnh có thể của một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau.

Nhân chuyện ông Nguyễn Bá Thanh sắp ra đi - thời gian sống của ông chỉ còn tính bằng giờ, theo như hiểu biết và kinh nghiệm làm nghề y của tôi. Tôi muốn mô tả hình ảnh một bệnh nhân bị AIDS - Acquired Immune Deficiency Syndrome: Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải - do thuốc hoặc do HIV của những bệnh nhân ở giai đoạn cuối do hóa trị liệu đánh sụp tủy, và do tủy suy kiệt không thể tăng sinh các dòng tế bào máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Hội chứng này có thể ngắn gọn như sau.

Hồng cầu chuyển oxy đến mô để tạo ra quá trình chuyển hóa các chất sinh ra năng lượng nuôi cơ thể trong quá trình chuyển hóa các chất. Khi hồng cầu giảm sụt thì mô thiếu oxy, các bạn hãy tưởng tượng một người chết đuối như thế nào thì người giảm hồng cầu đến cạn kiệt sẽ khổ như thế.

Bạch cầu mà giảm kiệt thì cơ thể không có sức đề kháng. Nhiễm trùng đa cơ quan từ mũi họng đến phổi, đến ống tiêu hóa, đến đường tiết niệu, etc đều nhiễm trùng. Áp xe cạnh hậu môn và rò hậu môn của ông Thanh là hậu quả này. Nhiễm trùng đường ruột tiêu chảy đến suy kiệt. Nhiễm trùng tiểu, tiểu toàn mủ, viêm họng và toàn bộ khoang miệng lở loét đầy mủ, không thể ăn uống được vì rất đau khi nuốt kể cả uống nước. Đi tiểu cũng đau vì mủ như người bị bệnh lậu. Đó là chưa kể có thể cả viêm phúc mạc - ổ bụng - do vi trùng thoát ra từ đường ruột vào khoang phúc mạc. Và kể cả viêm não màng não, etc... nhưng nếu dùng kháng sinh lâu dài sẽ dẫn đến kháng thuốc và loạn khuẩn đường tiêu hóa lại vào vòng luẩn quẩn.

Tiểu cầu cạn kiệt thì quá trình đông máu bị mất. Máu chảy trong huyết quản của chúng ta là một quá trình đầy tinh vì và khoa học của tạo hóa đã làm nên. Hai quá trình đông máu và chảy máu luôn cân bằng. Nếu đông máu tăng thì sẽ tắc mạch. Nếu quá trình tán huyết mà tăng cao thì sẽ chảy máu. Sốt xuất huyết là do giảm tiểu cầu gây xuất huyết các tạng mà tử vong, kể cả xuất huyết não. Bệnh nhân bị AIDS do thuốc và suy sụp tủy trong ung thư bạch cầu giai đoạn cuối cũng thế, nếu để tiểu cầu giảm mạnh sẽ chảy máu thất khứu như kiếm hiệp Kim Dung mô tả bị chưởng lực quá mạnh.

Nhưng đáng sợ nhất là, cái đau do nhiễm trùng ở bệnh nhân bị AIDS giai đoạn cuối. Tôi đã từng chứng kiến và nuôi những bệnh nhân này, thà chết nhanh còn hơn là để tồn tại thêm bất kỳ giờ phút nào.

Trong ngành y chúng tôi, ai chết đẹp là chết nhanh, chưa kịp biết mình chết, chứ không phải chết dần, chết mòn trong đau khổ cả phần xác lẫn phần hồn như những bệnh nhân bị AIDS giai đoạn cuối. Chết như AIDS giai đoạn cuối là cái chết đau khổ nhất của con người. Nó chỉ dành cho những kẻ bất nhân, thất đức.

Tư Gia, 21h34' ngày thứ Năm, 12/02/2015

Wednesday, February 11, 2015

CHIẾN TRANH?


Bài đọc liên quan:

Cuộc đàm phán 3 bên Đức - Nga - Pháp xem như thất bại cho chiến sự Ukraina. Một bên là đại diện EU đưa ra vấn đề xóa bỏ lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ và phương Tây đối với Nga. Một bên là Nga đòi mở rộng lãnh thổ phía Đông Ukraina chứ không chỉ chịu dừng ở bán đảo Crimea. Như tôi đã từng viết: "Nếu Hoa Kỳ xem Israel là đồng minh không thể bỏ, thì Nga cũng xem Ukraina là vùng đệm không thể bỏ để nhìn sang phương Tây".  

Cuộc chiến Ukraina với phiến quân miền Đông ngày càng ác liệt. Tình hình trai trẻ Ukraina trốn quân dịch làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức mạnh của chính quyền Kiev. Nhưng trên tất cả là nền kinh tế Kiev đang không đủ để kham cho cuộc chiến. Hoa Kỳ buộc phải quyết định cung cấp vũ khí sát thương cho Kiev, đây là mồi lửa châm vào thùng dầu đầy đã được mở nắp. Một hình ảnh, Việt Nam hóa chiến tranh tại Ukraina năm nào đang được ví von.

Tình hình kinh tế Hoa Kỳ có những lạc quan hơn khi có 5 triệu việc làm mới được tuyển dụng khi kết thúc tháng 12/2014. Chỉ số lạc quan kinh tế lên 51.5 điểm. Nhưng những con số của tháng 01/2015 lại cho thấy yếu kém hơn, chỉ số lạc quan kinh tế trở về 47.5; song việc làm ở lĩnh vực phi nông nghiệp lại có nhiều sáng sủa. Nó đã giữ vừng chỉ tệ đồng đô la Mỹ ở mức 94.70 đêm hôm qua. Đẩy giá vàng giảm nhẹ thên $5/ounce chốt giá ở mức $1233.70, và sẽ còn giảm tiếp tục. Giá dầu cũng giảm về $50/thùng đêm qua, mặc dù cả tuần trước giá dầu đã hồi phục khoảng $53/thùng. Tương lai về $40/thùng là hiển nhiên, vì cung đang quá mức cầu, lượng dầu tồn kho của Ả Rập Saudi đang hơn chục triệu thùng, họ đang nổ lực tìm khách hàng.

Sau khi EU từ chối gói cứu trợ với Hy Lạp, hôm qua ông Bộ trưởng Quốc phòng Hy Lạp Pano Kammenos - cũng là nhà lãnh đạo của người Hy Lạp độc lập và các đối tác liên minh cơ sở của Syria - đã tuyên bố úp mở rằng: "Nếu EU không cứu Hy Lạp thì Hy Lạp sẽ tách ra khỏi Eurozone và đi vay tiền của Nga và Trung Quốc để cứu lấy mình." Một tuyên bố chấn động đã làm chao đảo đồng Euro chỉ còn ăn 1.130, và sẽ sụt giảm trong những ngày tới. Một EU bất đồng sẽ là hậu quả khó lườg trong tương lai.

Một United States of European xem như đứng trên bờ vực tan vỡ. Một giấc mộng Hoa Kỳ ở phương Tây đã được các quốc gia cựu lục địa gầy dựng hơn 20 năm qua xem như bong bóng xà phòng. Không những thế, kinh tế phương Tây đang giảm phát trong tháng 01/2015. Ngoài Hy Lạp, còn có Ý và Tây Ban Nha đang chầu chực vay nợ giải quyết khó khăn, nhưng nước Đức số một EU lại giảm phát 0.5%, Pháp còn tồi tệ hơn.

Mặt khác, Nga đang từng bước làm nóng chiến trường ở Ukraina, kể cả đe dọa vũ khí hạt nhân nếu Hoa Kỳ và phương Tây ép người quá đáng. Giá của đồng Rub Nga mấy hôm nay nằm ở mức 65.35 ăn 1 đô la Mỹ. Kinh tế nước Nga kiệt quệ, nhưng uy tín của lãnh đạo Nga đang lên cao vì họ biết thúc đẩy tinh thần dân tộc cực đoan trong việc xâm chiếm Crimea.

Mặc dù kinh tế đang khủng hoảng, với nợ công chiếm 282% GDP, là quốc gia có nợ công lớn nhất toàn cầu. Số liệu tháng 01/2015 cho thấy sức mua người dân Trung Quốc giảm sút trầm trọng, dù đây là dịp tết Nguyên Đán. Tỷ lệ nhập khẩu của Trung Quốc giảm 19.9% so với cùng kỳ năm ngoái, quá thấp với dự đoán là chỉ giảm 3%. Nó bắt buộc chính phủ Trung Quốc phải hạ mục tiêu tăng trưởng xuống còn chỉ 7%/năm cho năm 2015, và hạ lãi suất ngân hàng chỉ còn 2.5%/năm để kích cầu kinh tế. Xây dựng và mở rộng các sân bay quân sự ở Trường Sa. Tiếp tục hoàn thành thêm tàu sân bay thứ hai. Mở rộng các hợp đồng BT và BOT đến các quốc gia Pakistan, Banglades, Sirilanka, Việt Nam đến hàng trăm tý đô la, chủ yếu nhắm vào xây dựng các thành phố cảng của các quốc gia này. Một sự nổi dậy hung hăng của Trung Quốc là điều đáng ngại cho khu vực.

Tuy thế, trên biển Đông, Trung Quốc ngày càng lấn chiếm, mặc dù tình hình giá dầu và khoáng sản ngày càng giảm giá là điều rất có lợi cho họ. Giàn khoan HD 981 đã công bố tìm ra một mỏ dầu khí có trữ lượng hơn 100 tỷ mét khối ở mỏ Lăng Thủy cách bờ biển đảo Hải Nam về phía Nam 150km. Xây dựng và mở rộng các sân bay quân sự ở Trường Sa. Tiếp tục hoàn thành thêm tàu sân bay thứ hai. Đến giờ này xem như toàn bộ biển Đông nằm dưới sự cai quản của Trung Quốc.

Các động thái Trung Quốc đã làm Hoa Kỳ buộc lòng phải xoay trục sang châu Á Thái Bình Dương, sau 40 năm chuyển trục sang Trung Đông. Một cuộc chiếnn tranh lạnh giữa 2 phe tả hữu lại mở ra. Ngoài Hợp tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương - TPP - Hoa Kỳ đang di chuyển các hàng nóng sang Thái Bình Dương, để Ukraina cho EU lo toan, mà Hoa Kỳ chỉ là người hỗ trợ.

Nga gây căng thẳng châu Âu. Trung Quốc gây căng thẳng ở châu Á. Nước Mỹ xa xôi với các đồng minh chiến lược khắp toàn cầu đang chạy đua vào các cuộc xung đột khắp nơi. Các động thái ấy của 2 bên sẽ là ngòi nổ chiến tranh trong tương lai gần. Vấn đề đặt ra là, cho đến nay chiến lược của Hoa Kỳ vẫn là dùng quyền lực mềm để điều khiến thế giới. Các nhà chiến lược Hoa Kỳ đã tuyên bố, không thể dùng súng đạn để nói chuyện với nhau khi thế giới vũ khí hạt nhân đầy khắp quả đất. 

Chỉ cần mỗi bên nhấn thêm căng thẳng, chiến tranh khu vực và sau đó là sự lan tỏa của nó đi khắp nơi. Với chiến lược Hoa Kỳ hiện nay, hy vọng cuộc chiến sẽ không bùng nổ, mà kinh tế sẽ dần đánh quỵ Nga và Trung Quốc chỉ trong thập niên này. Nhưng khi kinh tế bị khủng hoảng thì chiến tranh lại là cách giải quyết tốt nhất cho nhân loại. Điều này đã được lịch sử minh chứng rõ ràng.

Asia Clinic, 8h53' ngày thứ Tư, 11/02/2015

Monday, February 9, 2015

PHIM TÀI LIỆU ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI OSCAR 2015: NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG Ở VIỆT NAM


Mấy hôm nay nhiều bạn gửi cho tôi bộ phim tài liệu dài 1h37' về "Những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam" tối qua mình mới có thì giờ để xem. Được biết phim này là 1 trong 5 phim hay nhất đang được chọn đề cứ trao giải Oscar được trao vào ngày 23/02/2015 giờ Việt Nam sắp tới, về thể loại phim tài liệu.

Xem phim mà nước mắt cứ lăn tròn. 40 năm những ký ức cứ trào về bất tận. Một thời được sống và được mưu cầu hạnh phúc đúng nghĩa làm người.


Đau nhất là khi đọc bức thư của ông cố tổng thống Mỹ, Richard Nixon gửi cho ông cố tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Văn Thiệu có đoạn kết của lá thư, để nhằm thuyết phục chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngồi vào bàn đàm phán ký kết hiệp định Paris 1973 như sau: 

"Shoud you decide, as I trust you will, to go with us, you have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that We will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam. So once more I conclude with an appeal to you to close ranks with us." - Ông nên quyết định, như những gì tôi tin tưởng, là ông sẽ cùng với tôi đi trên một con đường, mà nơi ấy ông có sự bảo đảm của tôi về sự hỗ trợ thời kỳ sau hiệp định và chúng tôi sẽ đáp trả bằng tất cả sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định Paris.Vì vậy, một lần nữa, tôi kêu gọi ông hãy sát cánh với chúng tôi." 


Thư của ông Richard Nixon gửi cho ông Nguyễn Văn Thiệu

Lời hứa ấy của ông cố tổng thống Richard Nixon đã chỉ là lời hứa hảo, mà chính quyền Nam Việt Nam đã không tin, nhưng trong lúc đơn thân độc mã, buộc Nam Việt Nam, một lần nữa phải ký vào lần thứ hai một hiệp định mà biết chắc rằng, Bắc Việt sẽ vi phạm nó, như đã từng vi phạm vào hiệp định Geneve 1954! 

Tình hình thế giới và trong nước Việt hôm nay đang làm tôi nhớ lại tình hình năm 1974, khi Trung Hoa xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa đang đơn độc sau hiệp định Paris. Và tình hình này cũng không khác với năm 1988, khi Trung Hoa lấn chiếm 7 đảo bãi đá ngầm ở Trường Sa từ Việt Nam Cộng Sản. Nước Việt, trong lúc Liên Xô đang đóng quân tại cảng Cam Ranh, và tàu chiến ngoài biển Đông, nhưng không cứu giúp đồng minh Việt Nam. Việt Nam đang trở lại một thời kỳ đơn thân độc mã khác sau khi vĩ tuyến 17 bị xóa 40 năm. 

Trung Hoa thì rình rập, lừa nước đục thả câu để xâm chiến bờ cõi, hải phận nước Việt, mặc dù Trung Hoa là đồng minh chiến lược của Việt Nam. 

Việt Nam và Hoa Kỳ thì chưa đủ sự xác tín sau 20 năm bình thường hóa quan hệ, vì những gì lịch sử đã để lại, sau 2 lần bội ước ở hiệp định Geneve 1954 và Paris 1973 của người cộng sản. 

Nước Nga có quan hệ đồng minh chiến lược với Việt Nam thì đang trong cơn khốn đốn về kinh tế, và không đủ sức để giữ được những gì có được ngay tại nước Nga, thì làm sao giúp được gì cho Việt Nam, một khi Trung Hoa lấn chiếm lãnh thổ và biển đảo của nước Việt?

Nước mắt người Việt yêu nước cứ chảy dài, nhưng số phận dân tộc và nước Việt cứ mãi như quá khứ ngàn năm nô lệ dưới gót giày của Trung Hoa - một nàng Kiều muôn thuở.

Asia Clinic, 8h17' ngày thứ Hai, 09/02/2015

Wednesday, February 4, 2015

GẶP GIÁO SƯ Y KHOA LOWELL E. SCHNIPPER CỦA HARVARD

Hôm nay, thông qua sự giới thiệu của một người bạn để gặp ông GS Y khoa Lowell E. Schnipper – là giám đốc lâm sàng của Trung Tâm ung thư Beth Israel Deaconess ở Boston, Machachusetts, Hoa Kỳ.

Vợ chồng ông giáo sư hiện đang du lịch tại Việt Nam. Thông qua một người bạn là hướng dẫn viên dụ lịch, chúng tôi gặp nhau để trao đổi về Go West Foundation.


Những nhà khoa học bao giờ cũng có tấm lòng ưu ái cho giáo dục, và thế hệ trẻ tương lai ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, GS Schnipper cũng không ngoại lệ. Ông hứa với tôi, sẽ tiếp đón và liên lạc với các thành viên của Quỹ Tây Du tại Hoa Kỳ, và sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ ứng viên được học bổng của Go West Foundation nào đến với Harvard nói riêng và với nước Mỹ nói chung. Ông càng hoan nghênh bất kỳ sinh viên Việt Nam nào được Go West Foundation giới thiệu đến Boston và đến với Beth Israel Deaconess Medical Center Cancer Center của ông đang là ga1im đốc lâm sàng.

Tuy rằng là một cuộc nói chuyện ngắn trong 30 phút, nhưng rất cởi mở và thân tình của một giáo sư y khoa về vấn đề học bổng Go West Foundation và về cách tuyển chọn ứng viên cho học bổng của Go West Foundation.

Vợ ông, một phụ nữ rất lịch thiệp và đánh kính. Luôn lịch thiệp với khách đột xuất của cuộc du lịch ngắn ngày ở Việt Nam. Hai vợ chồng lớn tuổi nhân hậu và hạnh phúc.


Trước khi chia tay, ông đưa tôi tấm thiệp, và chỉ dẫn cặn kẽ địa chỉ email, số phone, địa chỉ nơi làm việcđể liên lạc. Tôi nói với ông, tôi sẽ thông báo cho các thành viên của Go West Foundation ở Hoa Kỳ liên lạc với ông. Ông vui vẻ và sẵn sàng tiếp đón. Ông còn bảo, đừng ngại khi phone cho ông bất kỳ ai là thành viên của Go West Foundation. Ông còn dặn tôi, khi nào đến Hoa Kỳ thì nhớ ghé thăm ông.

Chia tay vợ chồng ông, trên đường về lại clinic, tôi chỉ còn ước sao Go West Foundation tìm được một tài năng trẻ Việt để gửi đến ông.

Xin cảm ơn vợ chồng ông, những người Mỹ luôn có tấm lòng tốt như tư tưởng của Ngài Andrew Carnegie đã đưa ra năm 1889 – Kinh phúc âm cho sự thịnh vượng.

BS Hồ Hải

Sài Gòn, 14h13′ ngày thứ Tư, 04/02/2015

Sunday, February 1, 2015

VÌ SAO NHÀ NƯỚC HỒI GIÁO CHƯA BỊ TIÊU DIỆT?

Vậy là con tin người Nhật thứ hai - ông Kenji Goto - đã bị nhà nước Hồi giáo ISIS chặt đầu đêm qua. Nội các Nhật họp khẩn cấp, khi ISIS tung clip thông báo lên mạng, và cho biết Nhật Bản là nước nằm trong danh sách họ đặt mục tiêu khủng bố. Thế giới tả khuynh luôn ác độc và duy ý chí, iSIS là một trong số nhà nước thần quyền tả khuynh cực đoan. 

Hoa Kỳ tuyên bố sẽ cùng Nhật Bản tiêu diệt các chiến binh Hồi giáo của nhà nước Hồi giáo dựng ra.

Cũng trong hộm qua nhà nước Hồi Giáo ISIS đã công nhận thất thủ tại thành phố Kobani, Syria. Nhưng họ tuyên bố là sẽ tấn công chiếm lại nơi này.

Bản đồ thành phố Kobani nằm ở biên giới Thỗ - Syria.

Như chúng ta biết Kobani là thành phố giáp biên giới với Thỗ Nhĩ Kỳ. Thỗ Nhĩ Kỳ là bạn đồng minh của phương Tây và Hoa Kỳ. Thành phố Kobani quan trọng trong huyết mạch lưu thông, và quan trọng hơn nữa là trữ lượng dầu khí ở đây rất lớn, và là nguồn cung cấp tài chính lớn và chủ yếu cho các chiến binh Hồi Giáo. 

Có nhiều lý do mà cho tới nay, nhà nước Hồi giáo vẫn còn tồn tại, trong khi Hoa Kỳ và các quốc gia tuyên bố sẽ ra tay tiêu diệt.

Lý do đầu tiên là, sự tồn tại của các chiến binh Hồi giáo ở vùng biên giới này cũng là một nguồn thu lợi cho Thỗ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến của ISIS với Syria. Nó vừa làm suy yếu Syria - cái gai trong mắt phương Tây, nhưng là chư hầu của Nga tại Địa Trung Hải. Thỗ Nhĩ Kỳ đang cần vực dậy nền kinh tế yếu kém, cuộc chiến này sẽ giúp Thỗ cũng giống như Thái Lan, Singapore và các quốc gia Đông Nam Á đã giàu lên và phát triển trong những thập niên 1960-1970 nhờ vào Việt Nam nội chiến.

Lý do quan trọng nhất và thứ hai là, Thỗ Nhĩ Kỳ và các nước phương Tây Mỹ không tiêu diệt các chiến binh Hồi Giáo, và cắt nguồn cung cấp tài chính của họ ra khỏi thành phố này còn là một lý do phức tạp liên quan tới Nga, Ukraina và Syria. Vì ISIS bán dầu thô bằng tiền mặt, với giá rất rẻ, chỉ < $25/thùng! Một thế trận giằng co cũng vì Mỹ và phương Tây muốn giá dầu xuống thấp hơn nữa, và làm suy yếu Nga hơn nữa trong cuộc chiến này trước khi hạ gục Nga.

Chính vì giá dầu từ các chiến binh Hồi Giáo rẻ mạt, nên sự tồn tại của họ tại Kobani là cần thiết trong chiến lược đánh Nga qua giá dầu thấp của Hoa Kỳ và phương Tây. Ngoài ra, nó cũng giúp một phần rất lớn cho cung cấp dầu và khí gas cho phương Tây trong mùa Đông này.

Muốn khuất phục Syria thì không còn cách nào hơn là phải đánh cái đầu con rắn Nga.

Cuộc chiến giữa chính phủ Syria và chiến binh Hồi giáo của nhà nước Hồi giáo ISIS tại thành phố Kobani

Chiến sự với các chiến Binh Hồi Giáo ISIS sẽ kết thúc khi và chỉ khi Nga thúc thủ trước trừng phạt của Phương Tây và Hoa Kỳ. Lúc đó làm thịt Syria là chuyện rất nhỏ. Tôi tiên lượng thời gian phải tính hết năm 2015 và có thể sẽ đến 2016.

Hãy chờ xem.

Asia Clinic, 11h39' Chúa nhựt, 01/02/2015