Monday, June 27, 2016

THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ IV: NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG LÀ CỐT LÕI


Bài viết gốc: America's Pacific Century
Bài đọc liên quan: 

Ngay cả khi chúng ta tăng cường các mối quan hệ song phương, chúng tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác đa phương, vì chúng ta tin rằng việc giải quyết những thách thức phức tạp xuyên quốc gia của các loại đang phải đối mặt bởi châu Á đòi hỏi một tập hợp các tổ chức có khả năng hành động tập thể. Và một cấu trúc khu vực mạnh mẽ và đoàn k ết trong khu vực châu Á sẽ củng cố hệ thống các quy tắc và trách nhiệm, từ việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đến đảm bảo tự do hàng hải, hình thành cơ sở của một trật tự thế giới có hiệu quả. Trong những thiết lập đa phương, hành vi trách nhiệm được đáp ứng với tính hợp pháp và sự tôn trọng, và chúng ta có thể làm việc với nhau để có trách nhiệm với những kẻ phá hoại hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Vì vậy, Hoa Kỳ đã xoay trục tham gia một cách đầy đủ các tổ chức đa phương của khu vực, chẳng hạn như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương(APEC), lưu ý rằng công việc của chúng ta với các tổ chức khu vực bổ sung và không thay thế những quan hệ song phương của chúng ta. Có một nhu cầu từ khu vực mà Mỹ đóng một vai trò tích cực trong các chương trình nghị sự thiết lập của các tổ chức này - và đó là lợi ích của chúng ta c ũng là lợi ích của một khi các tổ chức này đáp ứng và có có hiệu quả.

Đó là lý do tại sao Tổng thống Obama sẽ tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lần đầu tiên trong tháng Mười Một năm 2011. Để mở đường, Hoa Kỳ đã mở ra một sứ mệnh mới của Hoa Kỳ mới đến ASEAN ở Jakarta và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với ASEAN. Chúng tôi tập trung vào việc phát triển một chương trình định hướng có kết quả  tốt đã được dùng làm phương tiện trong nỗ lực giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Trong năm 2010, tại Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, Hoa Kỳ đã giúp làm ra một kế hoạch hình thành một khu vực rộng để bảo vệ quyền không bị trói buộc đến và đi qua Biển Đông, và giữ những quy định quốc tế quan trọng để xác định chủ quyền lãnh thổ trong vùng biển của Biển Đông. Một nửa trọng tải thương thuyền của thế giới đi qua vùng biển này, đây là một nhiệm vụ phải làm. Và trong năm qua, chúng tôi đã có những bước tiến trong việc bảo vệ lợi ích sống còn của chúng ta trong sự ổn định và tự do hàng hải và đã mở đường cho chính sách ngoại giao đa phương duy trì trong nhiều bên có yêu sách ở Biển Đông, tìm cách đảm bảo các tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình và phù hợp với các nguyên tắc thành lập của luật pháp quốc tế.

Chúng tôi cũng đã làm việc để tăng cường APEC là một tổ chức lãnh đạo cấp quan trọng tập trung vào việc thúc đẩy mối liên kết hội nhập và kinh tế thương mại qua Thái Bình Dương. Sau cuộc hội đàm năm ngoái của một nhóm trong khu vực thương mại tự do của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Tổng thống Obama sẽ tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC năm 2011 tại Hawaii tháng mười một này. Chúng tôi cam kết củng cố APEC là tổ chức kinh tế khu vực hàng đầu của châu Á-Thái Bình Dương, thiết lập các chương trình nghị sự kinh tế trong con đường cùng nhau tiến bộ và các nền kinh tế mới nổi thúc đẩy thương mại và đầu tư mở, cũng như xây dựng năng lực và tăng cường chế độ quy định. APEC và sự giúp đỡ của mình mở rộng xuất khẩu của Hoa Kỳ và tạo công ăn việc làm có chất lượng cao và có sáng tạo ở Hoa Kỳ, trong khi thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực. APEC cũng cung cấp một phương tiện quan trọng để dẫn đầu một chương trình nghị sự rộng để mở ra tiềm năng tăng trưởng kinh tế do phụ nữ đại diện. Về vấn đề này, Hoa Kỳ cam kết làm việc với các đối tác của chúng ta về các bước thúc đẩy tham vọng sự có mặt của lứa T uổi Tham gia, nơi mà mỗi cá nhân, không phân biệt giới tính hoặc các đặc tính khác, là một thành viên quan trọng và có giá trị của thị trường toàn cầu.

Cùng với cam kết của chúng ta đối với các tổ chức đa phương rộng lớn hơn, chúng ta đã làm việc cật lực để tạo ra và khởi động một số cuộc họp "đa phương nhỏ", nhóm nhỏ của các quốc gia quan tâm để giải quyết những thách thức cụ thể, chẳng hạn như Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong, chúng tôi đưa ra để hỗ trợ giáo dục, sức khỏe và các chương trình môi trường tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, và Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, nơi mà chúng tôi đang làm việc để hỗ trợ các thành viên khi họ đối đầu với những thách thức từ biến đổi khí hậu đến đánh bắt quá mức đến tự do hàng hải. Chúng ta cũng đang bắt đầu theo đuổi các cơ hội ba bên mới với các nước khác nhau như Mông Cổ, Indonesia, Nhật Bản, Kazakhstan, và Hàn Quốc. Và chúng ta đang thiết lập mục tiêu nhắm vào việc tăng cường phối hợp và tham gia nhóm ba gã khổng lồ của khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Trung Quốc, Ấn Độ, và Hoa Kỳ.

Trong tất cả những cách khác nhau, chúng ta đang tìm kiếm để định hình và tham gia vào một cấu trúc phù hợp, linh hoạt và hiệu quả trong khu vực - và đảm bảo nó sẽ kết nối với một cấu trúc toàn cầu rộng lớn hơn mà không chỉ bảo vệ sự ổn định và thương mại quốc tế mà còn thúc đẩy sự phát triển các giá trị của chúng ta.

Chúng tôi xem tầm quan trọng các hoạt động kinh tế của APEC là phù hợp với cam kết trong việc nâng cao nghệ  thuật lãnh đạo trên diện rộng về  kinh tế của chúng tôi. APEC là trụ cột của chính sách đối ngoại của Mỹ. Ngày càng có nhiều tiến bộ kinh tế phụ thuộc vào những mối quan hệ ngoại giao mạnh mẽ, và tiến bộ ngoại giao phụ thuộc vào những mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ. Và một cách đương nhiên, tập trung vào việc thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ có nghĩa là tập trung hơn vào thương mại và mở cửa kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khu vực này đã tạo ra hơn một nửa sản lượng toàn cầu và gần một nửa thương mại toàn cầu. Khi chúng ta phấn đấu để đạt được mục tiêu tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu năm 2015 của Tổng thống Obama, chúng ta đang tìm kiếm cơ hội làm ăn nhiều hơn ở châu Á. Năm ngoái 2010, xuất khẩu của Mỹ đến Thái Bình Dương đạt trần 320 tỷ đô la, hỗ trợ 850.000 việc làm tại Mỹ. Vì vậy, có nhiều sự ủng hộ cho chúng ta khi chúng ta nghĩ về sự xoay trục này.

Khi tôi nói chuyện với các đối tác châu Á, một trong những chủ đề luôn đặt ra: Họ vẫn muốn nước Mỹ là một đối tác tham gia và sáng tạo trong thương mại thịnh vượng và tương tác tài chính của khu vực. Và như tôi đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo kinh doanh trên đất nước của mình, tôi nghe thấy tầm quan trọng của nó là đối với Hoa Kỳ để mở rộng xuất khẩu của chúng ta và cơ hội đầu tư của chúng ta trong thị trường năng động của châu Á.

Cuối tháng ba tại hội nghị APEC ở Washington, và một lần nữa tại Hồng Kông vào tháng bảy, tôi đặt ra bốn thuộc tính mà tôi tin rằng đặc điểm cạnh tranh kinh tế lành mạnh: mở, tự do, minh bạch và công bằng. Thông qua cam kết của chúng tôi trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chúng tôi đang giúp định hình những nguyên tắc và cho thế giới thấy giá trị của họ.

Chúng tôi đang theo đuổi thỏa thuận thương mại mới lợi thế hơn hẳn trong nâng cao các tiêu chuẩn cạnh tranh bình đẳng, ngay cả khi họ mở cửa những thị trường mới. Ví dụ, Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc Hoa Kỳ sẽ loại bỏ thuế quan đối với 95 phần trăm của người tiêu dùng và công nghiệp xuất khẩu của Hoa Kỳ trong thời hạn năm năm và hỗ trợ khoảng 70.000 việc làm tại Mỹ. Chỉ riêng cắt giảm thuế quan có thể làm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Mỹ hơn 10 tỷ đô la và giúp nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng 6%. Nó sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các công ty ô tô Hoa Kỳ và người lao động. Vì vậy, cho dù bạn là một nhà sản xuất máy móc Mỹ hoặc một nhà xuất khẩu hóa chất của Hàn Quốc, thỏa thuận này làm giảm các rào cản giúp cho bạn tiếp cận khách hàng mới.

Chúng ta cũng đang tiến bộ về Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), mà sẽ mang lại cùng các nền kinh tế trên khắp Thái Bình Dương - các quốc gia đã phát triển và đang phát triển - vào một cộng đồng thương mại duy nhất. Mục tiêu của chúng ta là tạo ra không chỉ tăng trưởng hơn, mà còn là sự tăng trưởng tốt hơn. Chúng ta tin rằng các hiệp định thương mại cần phải bao gồm sự bảo vệ mạnh mẽ cho người lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ và sự sáng tạo. Họ cũng cần thúc đẩy luồng tự do của công nghệ thông tin và sự lây lan của công nghệ xanh, cũng như sự gắn kết của hệ thống quản lý của chúng ta và hiệu quả của chuỗi cung ứng. Cuối cùng, sự tiến bộ của chúng ta sẽ được đo bằng chất lượng cuộc sống của người dân - cho dù người đàn ông và phụ nữ có thể làm việc trong phẩm giá, kiếm được một đồng lương tử tế, nâng cao sức khỏe gia đình, giáo dục con cái của họ, và nắm lấy những cơ hội để cải thiện vận may của riêng mình và thế hệ tiếp theo. Chúng ta hy vọng rằng một thỏa thuận với các tiêu chuẩn cao TPP có thể phục vụ như là một chuẩn mực cho các hiệp định trong tương lai - và phát triển để phục vụ như là một nền tảng cho sự tương tác trong khu vực rộng lớn hơn và cuối cùng một khu vực tự do thương mại của châu Á-Thái Bình Dương.

Đạt được sự cân bằng trong mối quan hệ thương mại của chúng ta đòi hỏi một cam kết hai chiều. Đó là bản chất của sự cân bằng - nó không thể bị áp đặt đơn phương. Vì vậy, chúng ta đang làm việc thông qua APEC, G-20, và các mối quan hệ song phương của chúng ta ủng hộ cho thị trường cởi mở hơn, ít hạn chế xuất khẩu, minh bạch hơn, và một cam kết tổng thể cho sự công bằng. Những doanh nghiệp và người lao động Mỹ cần phải có niềm tin rằng họ đang hoạt động trên một sân chơi bình đẳng, với các thước đo dự đoán được tất cả mọi thứ từ tài sản trí tuệ để đổi mới trong nước.

Đón đọc phần V: Bảo vệ đồng minh

Sài Gòn, 1046' ngày thứ Hai, 27/6/2016

Thursday, June 23, 2016

THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ III: MỞ RỘNG ĐỒNG MINH


Bài viết gốc: America's Pacific Century
Bài đọc liên quan: 

Về việc cập nhật đồng minh của chúng ta cho các nhu cầu mới, chúng ta cũng đang xây dựng quan hệ đối tác mới để giúp giải quyết các vấn đề chung. Tiếp cận cộng đồng của chúng ta đến Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, New Zealand, Malaysia, Mông Cổ, Việt Nam, Brunei, và các quốc đảo Thái Bình Dương là một phần trong nỗ lực lớn hơn để đảm bảo một cách tiếp cận toàn diện hơn cho chiến lược của Mỹ và tham gia trong khu vực. Chúng tôi đang yêu cầu các đối tác mới nổi lên để tham gia với chúng ta trong việc định hình và tham gia vào một trật tự khu vực và toàn cầu dựa trên luật lệ.

Tất nhiên, một trong những quốc gia nổi bật nhất của các đối tác này đang nổi lên là Trung Quốc. Giống như rất nhiều nước khác trước đó, Trung Quốc đã phát triển thịnh vượng như một phần của hệ thống mở và dựa trên luật lệ mà Hoa Kỳ đã giúp xây dựng và hoạt động để duy trì. Và ngày hôm nay, Trung Quốc là một trong những mối quan hệ song phương nhiều thách thức và hậu quả nhất Hoa Kỳ đã từng có để phải quản lý. Điều này đòi hỏi Hoa Kỳ phải có vai trò quản lý cẩn thận, ổn định, năng động, một cách tiếp cận với Trung Quốc trên một phần của chúng ta được đặt nền tảng trên thực tế, tập trung vào kết quả, và đúng với những nguyên tắc và lợi ích của chúng ta.

Chúng ta đều biết rằng nỗi sợ hãi và nhận thức sai lầm đã nán lại trên cả hai bờ Thái Bình Dương. Một số người ở Hoa Kỳ nhìn thấy sự tiến bộ của Trung Quốc như một mối đe dọa đối với Hoa Kỳ; một số ở Trung Quốc lo ngại rằng Mỹ tìm cách kìm hãm tăng trưởng của Trung Quốc. Chúng tôi từ chối tất cả những quan điểm này. Thực tế là một nước Mỹ thịnh vượng là tốt cho Trung Quốc và một Trung Quốc phát triển mạnh là tốt cho nước Mỹ. Cả hai quốc gia còn có nhiều hơn nữa để đạt được từ sự hợp tác hơn là xung đột. Nhưng bạn không thể xây dựng một mối quan hệ trên nguyện vọng chỉ riêng mình. Đó là cả hai quốc gia cần nhất quán hơn bằng ngôn từ tích cực vào hợp tác hiệu quả - và điều quan trọng là mỗi bên phải làm tròn trách nhiệm toàn cầu tương ứng với vị thế và nghĩa vụ của mình. Đây là những điều mà sẽ xác định xem mối quan hệ của Mỹ Trung được cung cấp trên tiềm năng của nhau trong những năm tới. Chúng ta cũng phải trung thực nhìn nhận sự khác biệt của hai quốc gia. Chúng ta sẽ giải quyết chúng một cách vững chắc và dứt khoát như chúng ta đã từng theo đuổi các công việc cấp bách hai quốc gia phải cùng nhau giải quyết. Và chúng ta phải tránh những kỳ vọng không thực tế.

Trong 2 năm rưỡi còn lại của nhiệm kỳ bộ trưởng, một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi đã được xác định và mở rộng lĩnh vực quan tâm chung, để làm việc với Trung Quốc để xây dựng lòng tin lẫn nhau, và để khuyến khích những nỗ lực tích cực của Trung Quốc trong vấn đề giải quyết toàn cầu. Đây là lý do tại sao Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner và tôi đưa ra đối thoại chiến lược và kinh tế, các cuộc đàm phán sâu và rộng nhất  hơn bao giờ hết giữa 2 chính phủ, quy tụ hàng chục cơ quan từ cả hai bên để thảo luận về các vấn đề song phương cấp bách nhất của 2 quốc gia, từ an ninh đến năng lượng cho đến nhân quyền .

Chúng tôi cũng đang làm việc để tăng tính minh bạch và giảm nguy cơ tính toán sai lầm hoặc sai lầm giữa quân đội của 2 quốc gia. Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế đã theo dõi những nỗ lực của Trung Quốc hiện đại hóa và mở rộng quân sự của mình, và chúng tôi đã tìm cách làm rõ những ý định của nhau. Cả hai bên sẽ được hưởng lợi từ sự tham gia duy trì và cam kết sự tồn tại độc lập giữa quân sự với quân sự làm tăng tính minh bạch. Vì vậy, chúng ta tìm đến Bắc Kinh để vượt qua sự miễn cưỡng của mình vào những thời điểm và hai bên cùng nhau trong việc tạo dựng một đối thoại bền vững giữa quân đội với quân đội. Và 2 nước cần phải làm việc với nhau để tăng cường đối thoại an ninh chiến lược, trong đó tập hợp các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự để thảo luận về các vấn đề nhạy cảm như an ninh hàng hải và an ninh mạng.

Khi 2 quốc gia đã xây dựng lòng tin với nhau, chúng ta cam kết làm việc với Trung Quốc để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và quan trọng toàn cầu. Đây là lý do tại sao tôi đã gặp rất thường xuyên - thường trong các cuộc gặp  không chính thức - với các đối tác của tôi ở Trung Quốc, Ủy viên quốc vụ  viện phụ trách ngoại giao Đới Bỉnh Quốc và Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì, cho các cuộc thảo luận thẳng thắn về những thách thức quan trọng như Bắc Triều Tiên, Afghanistan, Pakistan, Iran, và những bành trướng ở biển Đông.

Trên mặt trận kinh tế, Hoa Kỳ và Trung Quốc cần phải làm việc với nhau để đảm bảo, duy trì và tăng trưởng toàn cầu mạnh mẽ trong cân bằng ở tương lai. Trong hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã làm việc một cách hiệu quả thông qua G-20 để giúp kéo nền kinh tế toàn cầu trở lại từ bờ vực. Chúng ta phải xây dựng dựa trên sự hợp tác đó. Các công ty Mỹ muốn có cơ hội công bằng để xuất khẩu sang các thị trường đang phát triển của Trung Quốc, trong đó có nguồn quan trọng của việc làm tại Hoa Kỳ, cũng như đảm bảo rằng 50 tỷ đô Mỹ đầu tư vào Trung Quốc sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho các cơ hội thị trường và đầu tư mới sẽ hỗ trợ cạnh tranh toàn cầu. Đồng thời, các công ty Trung Quốc muốn có thể mua nhiều sản phẩm công nghệ cao từ Mỹ, thực hiện đầu tư nhiều hơn ở Mỹ, và là một nước có cùng điều kiện tiếp cận các nền kinh tế thị trường được hưởng. Hai quốc gia có thể làm việc cùng nhau trên các mục tiêu, nhưng Trung Quốc vẫn cần phải có những bước đi quan trọng hướng tới cải cách. Đặc biệt, chúng tôi đang làm việc với Trung Quốc để kết thúc phân biệt đối xử không công bằng đối với các công ty Hoa Kỳ và nước ngoài khác hoặc chống lại công nghệ tiên tiến của họ, loại bỏ các ưu đãi cho các doanh nghiệp trong nước, và các biện pháp chấm dứt sự bất lợi hoặc quyền sở  hữu tài sản trí tuệ nước ngoài. Và chúng tôi tìm đến Trung Quốc để thực hiện các bước để cho phép đồng tiền của họ tăng giá nhanh hơn so với USD và so với đồng tiền của các đối tác thương mại lớn khác. Cải cách như vậy, chúng tôi tin rằng, sẽ không chỉ có lợi cho cả hai nước chúng ta (thực ra, họ sẽ ủng hộ các mục tiêu của kế hoạch năm năm của Trung Quốc, trong đó đòi hỏi cho sự tăng trưởng trong nước được ưu tiên), mà còn góp phần cân bằng kinh tế toàn cầu, dự đoán và sự thịnh vượng to lớn hơn.

Tất nhiên, chúng ta đã thực hiện rõ ràng, công khai và làm việc riêng với nhà  cầm quyền Trung Quốc đến mối quan tâm nghiêm trọng của chúng ta về quyền con người. Và khi chúng ta thấy các báo cáo của các luật sư công ích, các nhà văn, nghệ sĩ, và những thành phần khác bị giam giữ hoặc biến mất, thì Hoa Kỳ phải lên tiếng, cả công khai và riêng tư, với mối quan tâm của chúng tôi về quyền con người. Chúng ta làm để các đồng nghiệp Trung Quốc của chúng ta có một sự tôn trọng sâu sắc đối với luật pháp quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ cung cấp cho Trung Quốc một nền tảng cho sự ổn định và tăng trưởng lớn hơn nhiều - và làm tăng sự tự tin của đối tác Trung Quốc. Nếu không, Trung Quốc tự đặt những hạn chế không cần thiết cho sự phát triển riêng của mình.

Cho tới giờ này, không có một khái quát nào về phát triển mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc. Nhưng các đòi hỏi quá cao đã làm chúng ta thất bại. Như chúng ta đã tiến hành, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa mối quan hệ của chúng ta với Trung Quốc vào trong khuôn khổ khu vực rộng lớn hơn của liên minh an ninh, mạng lưới kinh tế, và kết nối xã hội.

Trong số các cường quốc mới nổi quan trọng mà chúng ta sẽ làm việc chặt chẽ là Ấn Độ và Indonesia, hai trong số các cường quốc dân chủ năng động và quan trọng nhất của châu Á, và cả các nước mà chính quyền Obama đã theo đuổi rộng hơn, sâu hơn, và các mối quan hệ có mục đích hơn. Các đoạn đường biển từ Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca đến Thái Bình Dương là các tuyến đường thương mại và năng lượng sôi động nhất thế giới. Cùng với nhau, Ấn Độ và Indonesia đã chiếm gần một phần tư dân số thế giới. Họ là những nhân tố quan trọng của nền kinh tế toàn cầu, các đối tác quan trọng đối với Hoa Kỳ, và ngày càng là trung tâm đóng góp cho hòa bình và an ninh trong khu vực. Và tầm quan trọng của họ sẽ phát triển trong những năm tới.

Tổng thống Obama nói với quốc hội Ấn Độ năm ngoái rằng mối quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ sẽ là một trong những đối tác toàn diện của thế kỷ 21, bắt nguồn từ những giá trị và lợi ích chung. Vẫn còn những trở ngại để vượt qua và câu hỏi để trả lời ở cả hai bên, nhưng Hoa Kỳ đang thực hiện một đặt cược chiến lược về tương lai của Ấn Độ - vai trò lớn hơn đó của Ấn Độ trên sân khấu thế giới sẽ tăng cường hòa bình và an ninh, nhằm mở cửa thị trường của Ấn Độ với thế giới sẽ là cách đển với thế giới thịnh vượng trong khu vực và toàn cầu, rằng những tiến bộ của Ấn Độ trong khoa học và công nghệ sẽ cải thiện cuộc sống và nâng cao kiến thức của con người ở khắp mọi nơi, và rằng, nền dân chủ đa nguyên rực rỡ của Ấn Độ sẽ cho ra các kết quả cải tiến và thành công cho công dân của mình và truyền cảm hứng cho người khác đi theo một con đường tương tự cởi mở và khoan dung. Vì vậy, chính quyền Obama đã mở rộng hợp tác song phương của 2 nước; tích cực hỗ trợ các nỗ lực hướng về Ấn Độ, bao gồm cả thông qua một cuộc đối thoại ba bên mới với Ấn Độ và Nhật Bản; và vạch ra một tầm nhìn mới cho một tích hợp về kinh tế và ổn định chính trị ở khu vực Nam và Trung Á, với Ấn Độ trở thành trụ cột.

Chúng ta cũng đang tạo dựng một quan hệ đối tác mới với Indonesia, nền dân chủ lớn thứ ba trên thế giới, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới, và là thành viên của G-20. Chúng ta đã tiếp tục liên kết đào tạo những đơn vị lực lượng đặc biệt của Indonesia và đã ký một số thỏa thuận về sức khỏe, trao đổi giáo dục, khoa học và công nghệ, quốc phòng. Và năm nay, theo lời mời của chính phủ Indonesia, Tổng thống Obama sẽ khai trương sự  tham gia của Mỹ trong Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Nhưng vẫn còn một số khoảng cách để phải đàm phán nhiều lần - chúng tôi phải làm việc cùng nhau để vượt qua những trở ngại quan liêu, sự trì trệ do nghi ngờ của lịch sử, và một số khoảng trống trong việc tìm hiểu quan điểm và lợi ích của nhau.

Đón đọc phần 4: Ngoại giao đa phương là cốt lõi

Sài Gòn, 7h10' ngày thứ Năm, 23/6/2016

Wednesday, June 22, 2016

THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ II: CHIẾN LƯỢC KHU VỰC NHƯ THẾ NÀO?


Bài viết gốc: America's Pacific Century

Chiến lược trong khu vực như thế nào? Để bắt đầu, nó đòi hỏi một cam kết lâu dài với những gì tôi đã gọi là ngoại giao "hướng về phía trước-triển khai". Điều đó có nghĩa là tiếp tục gửi đầy đủ các thông điệp về những giá trị ngoại giao của chúng ta - trong đó có các quan chức cao cấp nhất của chúng ta, các chuyên gia phát triển của chúng ta, các đội liên ngành của chúng ta, và các giá trị vĩnh hằng của chúng ta - đến tất cả các nước và các ngõ ngách của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chiến lược của chúng ta sẽ phải chiếm lĩnh và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và đầy kịch tính diễn ra khắp châu Á. Với tư duy này, công việc của chúng ta sẽ tiến hành cùng lúc sáu ý tưởng chính của hành động: tăng cường liên minh an ninh song phương; làm sâu sắc hơn mối quan hệ làm việc của chúng ta với các cường quốc mới nổi, bao gồm cả với Trung Quốc; tham gia với các tổ chức đa phương trong khu vực; mở rộng thương mại và đầu tư; một sự hiện diện quân sự trên diện rộng; và thúc đẩy dân chủ và nhân quyền.

Nhờ vị trí địa lý độc đáo của chúng ta, Hoa Kỳ là quyền lực của cả hai Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Chúng ta rất tự hào về quan hệ đối tác châu Âu của chúng ta và tất cả những gì họ trợ giúp. Thách thức của chúng ta hiện nay là xây dựng một sự nối kết của quan hệ đối tác và các tổ chức trên khắp Thái Bình Dương, đó là sự bền vững và sự phù hợp với lợi ích của Mỹ và các giá trị Mỹ như sự liên kết mà, chúng ta đã xây dựng xuyên Đại Tây Dương(khối NATO - cắt nghĩa của người dịch). Đó là chuẩn mực của những nỗ lực của chúng ta trong tất cả những khu vực này.

Liên minh hiệp ước của chúng ta với Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Philippines, và Thái Lan là điểm tựa cho lần lượt chiến lược của chúng ta đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Họ đã được bảo lãnh cho hòa bình và an ninh khu vực trong hơn nửa thế kỷ, hình thành môi trường cho sự đi lên kinh tế đáng kể của khu vực. Họ tận dụng sự hiện diện trong khu vực của chúng ta và tăng cường vai trò lãnh đạo trong khu vực của chúng ta tại một thời điểm thách thức an ninh đang phát triển.

Thành công như những đồng minh đã có được, chúng ta không thể chỉ đơn giản là để duy trì chúng - chúng ta cần phải cập nhật chúng cho một thế giới đang thay đổi. Trong nỗ lực này, chính quyền Obama được đi theo bởi ba nguyên tắc cốt lõi. Đầu tiên, chúng ta phải duy trì sự đồng thuận chính trị về các mục tiêu cốt lõi của các đồng minh của chúng ta. Thứ hai, chúng ta phải đảm bảo rằng các đồng minh của chúng ta là nhanh nhẹn và thích nghi để họ có thể giải quyết thành công những thách thức mới và nắm bắt cơ hội mới. Thứ ba, chúng ta phải đảm bảo rằng khả năng phòng thủ và truyền thông cơ sở hạ tầng của các đồng minh của chúng ta hoạt động và có khả năng ngăn chặn sự quá khích từ các quốc gia và cả các nhóm ngoài chính phủ.

Đồng minh với Nhật Bản, nền tảng của hòa bình và ổn định trong khu vực, thể hiện qua cách mà chính quyền Obama được đưa ra những nguyên tắc sống. Chúng ta chia sẻ một tầm nhìn chung về một trật tự khu vực ổn định với các quy tắc rõ ràng về hướng đi - từ tự do hàng hải mở cửa thị trường đến cạnh tranh công bằng. Chúng ta đã đồng ý một thỏa thuận mới, trong đó có sự đóng góp từ chính phủ Nhật Bản hơn 5 tỷ đô la, để đảm bảo sự tiếp tục hiện diện lâu dài của quân đội Mỹ tại Nhật Bản, đồng thời mở rộng tình báo, giám sát, và các hoạt động trinh sát chung nhằm ngăn chặn và phản ứng nhanh với khu vực thách thức an ninh, cũng như chia sẻ thông tin tội phạm an ninh mạng. Chúng ta đã ký kết một thỏa thuận không gian mở rằng sẽ tăng cường tiếp cận với các doanh nghiệp và các mối quan hệ người với người, đã phát động một cuộc đối thoại chiến lược về châu Á-Thái Bình Dương, và cùng nhay bắt tay làm việc khi hai nước có tài trợ lớn nhất tại Afghanistan.

Tương tự như vậy, đồng minh của chúng ta với Hàn Quốc đã trở nên mạnh mẽ và hoạt động nhiều hơn tích hợp, và chúng ta tiếp tục phát triển khả năng kết hợp của chúng ta để ngăn chặn và đối phó với hành động khiêu khích của Bắc Triều Tiên. Chúng ta đã nhất trí về một kế hoạch để đảm bảo chuyển tiếp thành công của hoạt động kiểm soát trong thời chiến và trao đổi thân tình thành công trong ngoại giao Hoa Kỳ Hàn Quốc trước thời hạn về Hiệp định thương mại Tự do. Và đồng minh của chúng ta đã có mặt khắp toàn cầu, thông qua công việc của chúng ta với G-20 và các Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân và thông qua các nỗ lực chung của chúng ta ở Haiti và Afghanistan.

Bản đồ khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là chiến lược liên minh của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI

Chúng ta cũng đang mở rộng liên minh của chúng ta với Úc từ một quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương là một đối tác xuyên Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, và thực sự là một đối tác toàn cầu. Từ an ninh mạng đến Afghanistan đến Mùa Xuân Ả Rập đến tăng cường cấu trúc khu vực trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thảo luận và cam kết của Australia là không thể thiếu. Và trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta đang đổi mới và tăng cường các liên minh của chúng ta với Philippines và Thái Lan gia tăng, ví dụ, số lượng các chuyến thăm của tàu hải quân đến Philippines và làm việc để đảm bảo đào tạo thành công của các lực lượng chống khủng bố Philippines thông qua Liên quân lực lượng tác chiến đặc nhiệm Task Force - Joint Special Operations Task Force - của chúng ta ở Mindanao. Tại Thái Lan - đối tác hiệp ước lâu đời nhất của chúng ta trong khu vực châu Á - chúng tôi đang làm việc để thiết lập một trung tâm của các nỗ lực cứu trợ nhân đạo và thảm họa khu vực trong khu vực.

Đón đọc phần 3: Mở rộng đồng minh

Sài Gòn, 7h22' ngày thứ Tư, 22/6/2016

Tuesday, June 21, 2016

THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA HOA KỲ I: TỔNG QUAN

Đây là bài phát biểu của bà cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Trung Tâm Đông Tây Honolulu vào ngày 11/10/2011 cho chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ trong cả thế kỷ XXI. Nếu bà trúng cử Tổng thống Hoa Kỳ tháng 11/2016 sắp tới, ắt chiến lược này sẽ tiếp tục. Đã đến lúc phải làm rõ. Tôi xin chuyển ngữ và lưu thành 5 phần.


Ảnh của Foriegn Policy
Bài viết gốc: America's Pacific Century


TỔNG QUAN

Tương lai chính trị sẽ được quyết định ở châu Á, không phải ở Afghanistan hay Iraq và Hoa Kỳ sẽ là trung tâm quyền lực của hành động.

Khi cuộc chiến tranh ở Iraq đang dần lắng xuống và Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan, Mỹ đứng ở một đỉnh trụ cột quan trọng. Hơn 10 năm qua, chúng ta đã phân bổ nguồn lực lớn cho những hai nơi. Trong 10 năm tới, chúng ta cần phải thông minh và có hệ thống về nơi mà chúng ta đầu tư thời gian và sức mạnh, vì vậy mà chúng ta phải đặt mình vào vị trí tốt nhất để duy trì sự lãnh đạo của chúng ta, đảm bảo lợi ích của chúng ta, và nâng tầm các giá trị của chúng ta. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người lãnh đạo nước Mỹ trong thập kỷ tới sẽ không thể thay đổi một gia tăng đầu tư đáng kể - ngoại giao, kinh tế, chiến lược, và mặt khác - trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành một động lực chính của nền chính trị toàn cầu. Trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ đến các bờ biển phía tây của Mỹ, khu vực trải dài hai đại dương - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - đang ngày càng gia tăng sự liên kết vận tải và chiến lược. Khu vực tự hào có gần một nửa dân số thế giới. Nó bao gồm nhiều chìa khóa quan trọng của nền kinh tế toàn cầu, cũng như những nước đang phát triển thải ra lượng lớn nhất của các khí gây hiệu ứng nhà kính. Đó là nơi có nhiều đồng minh chủ chốt của chúng ta và những cường quốc mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia.

Vào thời điểm mà khu vực này đang xây dựng một nền an ninh và cấu trúc kinh tế chín mùi hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, sự cam kết của Hoa Kỳ có là điều cần thiết. Nó sẽ giúp xây dựng và chia sẻ vai trò lãnh đạo liên tục của Mỹ trong thế kỷ này, cũng như cam kết sau Thế chiến II của chúng ta trong xây dựng một mạng lưới xuyên Đại Tây Dương lâu dài của các tổ chức và các mối quan hệ tốt đẹp hơn gấp bội - và tiếp tục làm vì thế. Đã đến lúc Hoa Kỳ phải thực hiện những đầu tư tương tự như một quyền lực ở Thái Bình Dương, một phương hướng chiến lược được thiết lập bởi Tổng thống Barack Obama ngay từ ngày đầu của chính quyền và đã được xem là quyền lợi của Hoa Kỳ.

Với Iraq và Afghanistan vẫn còn trong quá trình chuyển đổi và những thách thức kinh tế nghiêm trọng ở đất nước của chúng ta, trong bối cảnh chính trường Mỹ, các chính khách và dân đang kêu gọi chúng tôi không chuyển trục, mà phải trở về nhà. Họ hạn chế sự tham gia ngoại giao của chúng tôi, ủng hộ các áp lực ưu tiên quốc nội. Những xung động là điều dễ hiểu, nhưng là sai lầm. Những ai nói rằng chúng ta không còn có thể đủ khả năng để tham gia với thế giới là thực sự lạc hậu - chúng ta không thể không mở rộng ngoại giao. Từ việc mở rộng thị trường mới cho các doanh nghiệp Mỹ để kiềm chế phổ biến vũ khí hạt nhân, để giữ gìn tự do hàng hải cho thương mại và những công việc của chúng ta ở nước ngoài nắm giữ chìa khóa cho sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta ở nhà. Trong hơn sáu thập kỷ qua, Mỹ đã chống lại lực hấp dẫn của những cuộc tranh luận "trở về nhà"  và tiềm ẩn lý lẽ chẳng lợi lộc gì - zero-sum - của những lập luận này. Chúng ta phải tiếp tục con đường đã đi.

Ngoài biên giới của chúng ta, người ta cũng đang tự hỏi về ý định của Mỹ - Thiện ý của chúng ta là vẫn tham gia và để lãnh đạo. Ở châu Á, họ hỏi liệu chúng ta có thực sự ở lại, cho dù chúng ta có thể sẽ bị phân tâm một lần nữa bởi sự kiện ở những nơi khác, cho dù chúng ta có thể làm - và giữ - cam kết kinh tế và chiến lược đáng tin cậy, và liệu chúng ta có thể trở lại những cam kết thành hành động. Câu trả lời là: Chúng tôi có thể, và chúng tôi sẽ.

Khai thác sự tăng trưởng và tính năng động của châu Á là trung tâm lợi ích kinh tế và chiến lược của Mỹ và ưu tiên quan trọng của Tổng thống Obama. Mở cửa thị trường ở châu Á cung cấp cho Hoa Kỳ với những cơ hội chưa từng có cho đầu tư, thương mại, và tiếp cận với công nghệ tiên tiến. phục hồi kinh tế của chúng ta ở quê nhà sẽ phụ thuộc vào xuất khẩu và khả năng của các doanh nghiệp Mỹ để khai thác vào các cơ sở tiêu dùng rộng lớn và ngày càng tăng của châu Á. Về mặt chiến lược, duy trì hòa bình và an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương ngày càng quan trọng đối với sự tiến bộ toàn cầu, thông qua việc bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông, việc chống lại những nỗ lực gia tăng vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, hoặc đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động quân sự của quốc gia chủ chốt của khu vực .

Cũng như Châu Á là quan trọng đối với tương lai của Mỹ, một nước Mỹ tham gia vào khu vực là quan trọng đối với tương lai của Châu Á. Khu vực này háo hức sự lãnh đạo và kinh doanh của chúng ta - có lẽ là nhiều hơn so với bất cứ lúc nào trong lịch sử hiện đại. Chúng ta là sức mạnh duy nhất với một mạng lưới các đồng minh mạnh mẽ trong khu vực, không có tham vọng lãnh thổ, và một ghi nhận lâu dài đóng góp vì lợi ích chung. Cùng với các đồng minh của chúng ta, chúng ta có bảo đảm an ninh khu vực trong nhiều thập kỷ - tuần tra các tuyến đường biển của châu Á và duy trì sự ổn định - và điều đó đã lần lượt giúp tạo ra các điều kiện cho sự phát triển. Chúng ta đã giúp tích hợp hàng tỷ người trên toàn khu vực vào nền kinh tế toàn cầu bằng cách thúc đẩy kinh tế sản xuất, nâng cao vị thế xã hội, và lớn hơn là liên kết người với người. Chúng ta là một đối tác chính thương mại và đầu tư, là nguồn sáng tạo có lợi cho người lao động và doanh nghiệp trên cả hai bờ Thái Bình Dương, là nơi có đến 350.000 sinh viên châu Á du học mỗi năm, một nhà vô địch của các thị trường mở, và một đối tác bênh vực cho nhân quyền phổ quát.

Tổng thống Obama đã dẫn đầu một nỗ lực nhiều mặt và liên tục để toàn bộ chính phủ có đầy đủ vai trò không thể thay thế của chúng tôi ở Thái Bình Dương. Đây là một nỗ lực trong lặng lẽ. Rất nhiều công việc của chúng tôi đã làm không được đưa lên trang đầu của báo chí, bởi vì bản chất của nó - đầu tư dài hạn là kém sôi động hơn so với các cuộc khủng hoảng trước mắt - và vì tính cạnh tranh tiêu đề với các phần khác của thế giới.

Là bộ trưởng ngoại giao, tôi đã phá vỡ truyền thống và bắt tay vào chuyến đi nước ngoài chính thức đầu tiên của tôi đến châu Á. Trong bảy chuyến đi của tôi kể từ đó, tôi đã có đặc quyền để tận mắt nhìn thấy những biến đổi nhanh chóng đang diễn ra trong khu vực, toan tính bao nhiêu tương lai của Hoa Kỳ được gắn liền với tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Một xoay trục chiến lược tới khu vực phù hợp một cách hợp lý trong nỗ lực tổng thể toàn cầu của chúng ta để bảo vệ và duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ. Sự thành công của cuộc xoay trục này đòi hỏi phải duy trì và thúc đẩy một sự đồng thuận lưỡng đảng về tầm quan trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đến lợi ích quốc gia của chúng ta; chúng tôi tìm cách xây dựng dựa trên một truyền thống mạnh mẽ sự tham gia của Tổng thống và bộ trưởng ngoại giao của cả hai đảng trên nhiều thập kỷ. Nó cũng đòi hỏi phải thực hiện thông minh của một chiến lược khu vực thống nhất nhằm tính toán sự ảnh hưởng toàn cầu của sự lựa chọn của chúng ta.

Video tóm tắt hơn 60 phút chiến lợợc Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ

Đón đọc phần 2: Chiến lược trong khu vực như thế nào?

Sài Gòn, 17h17' ngày thứ Ba, 21/6/2016

Monday, June 20, 2016

LIỆU CUỘC CHIẾN VIỆT TRUNG CÓ XẢY RA KHÔNG?

Bài đọc liên quan:

Từ hôm 14/6/2016, sau khi chiếc Su30MK2 rơi trên biển đến nay, nhiều người hỏi tôi cùng một câu hỏi: Liệu chiến tranh Việt Trung có xảy ra không? Tôi xin trả lời rằng: Có và Không!

Tại sao có và tại sao không?

Vì cho đến thời điểm này, Trung cộng chỉ còn 2 đồng minh duy nhất là Việt cộng và Pakistan. Bắc Hàn thì chỉ là tiền đồn để lo tự do dân chủ nhảy vào từ Hàn Quốc, ngooài ra không có giá trị địa chính trị với Trung cộng.

Từ Pakistan Trung cộng sẽ đâm bị thóc, thọc bị gạo Ấn Độ, và làm ăn với Trung Đông

Pakistan là ngỏ hẹp để đi vào xâm lược Ấn Độ, và ra biển Ả Rập để phục vụ việc giao thương khối Hồi giáo ở Trung Đông, nên Trung cộng không thể bỏ. Trung cộng phải o bế Pakistan chứ không dám bộp tai, đá đít, vì lợi thế địa chính trị của nước này, ngoài ra, trước chiến tranh thế giới II, Pakistan là 1 bang của Ấn Độ. Kéo Pakistan về phía mình là Trung cộng kiềm chế được Ấn Độ, cường quốc đông dân thứ 2 toàn cầu chỉ sau Trung cộng.

Sau khi nắn gân Miến Điện và Thái Lan để tìm đường thoát khỏi eo biển Malacca không được, thì việc thôn tính biển Đông, và bắt Việt cộng phải thần phục cúi đầu là việc Trung cộng phải làm, nếu muốn thực hiện mộng bá quyền châu Á.

Đối với Việt cộng thì khác. Việt Nam có địa chính trị quá quan trọng đối với biển Đông và Đông Nam châu Á. Lấy được Việt Nam, không những Trung cộng thôn tính cả Đông Nam Á, mà còn đe dọa cả châu Á và Úc Châu. Về mặt quan hệ Việt cộng và Trung cộng hiện nay là mối quan hệ theo kiểu doublethink của Goerge Orwell, nhưng nếu có dịp là chuyển sang ngay thoughtcrime. Có nghĩa là giả dối, bằng mặt mà không bằng lòng nhau, nhưng Trung cộng sẵn sàng nện Việt cộng khi Việt cộng không làm hài lòng Trung cộng.

Thôn tính được Việt Nam Trung cộng sẽ đi đến Úc

Về phía Việt cộng thì, tiền đã hết, vũ khí trang bị cũng không đủ sức để đánh đấm được 1 tuần. Nếu chiến tranh thì Việt cộng lấy gì để đánh, vũ khí thì tiền đâu mua, dân thì không còn chết vì đảng cộng sản, chưa đánh đã thua. Xưa đánh VNCH là nhờ Liên Sô và Trung cộng viện trợ. Đánh Pol Pot là nhờ Liên Sô viện trợ. Giờ nhìn quanh chẳng còn ai viện trợ, đi vay cũng chẳng ai cho vay. Nên Việt cộng sẽ buộc phải nhũn nhặn nghe theo lời Trung cộng, mặc dù hằng năm Trung cộng giết hại hơn 2000 ngư dân trên biển, nhưng Việt cộng không dám hó hé nửa lời! 

Hơn nữa, từ 1950 đến nay, chỉ có 1 giai đoạn ngắn từ 1976 đến 1990 là Việt cộng và Trung cộng không giao hảo với nhau. Còn lại, Trung cộng giúp Việt cộng từ cục xà phòng, đến bánh lương khô, trang quân dụng để phục vụ chủ nghĩa Maoist Đại Á. Hiện nay, Việt cộng cũng phải nhờ ơn Trung cộng trong hơn 90% các dự án lớn xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, hình thái kinh tế chính trị mà Việt cộng áp dụng vào Việt Nam cũng là của Trung cộng. Nợ của Việt cộng vay từ Trung cộng không được thống kê và minh bạch cho dân, nhưng chắc chắn là lớn hơn con số nợ công đã được công bố!

Nên chữ có ở đây là nếu có thì thỉnh thoảng Trung cộng sẽ làm vài cái tát tai Việt cộng kiểu như giàn khoan 981, rơi máy bay trên biển, giết hại ngư dân, ép thuế hoặc đóng cửa xuất khẩu hàng hóa, chặn dòng Mekong gây hạn mặn vựa lúa miền Tây, khui thâm cung bí sử của các đời lãnh đạo Việt cộng nằm trong tư liệu mật chưa khui để bôi nhọ, v.v... phủi bụi nắn gân cho có. Trung cộng mà đánh Việt cộng thật sự như năm 1979 thì còn ai để làm chư hầu?

Còn chữ không ở đây là tuyệt đối không, vì Việt cộng thà làm đàn em lép vế, nhận tiền vay để giữ ghế ăn chia, hơn là để chiến tranh xảy ra, thì mất cả chì lẫn chài. Ghế kiếm ăn, dù là ghế của thái thú vẫn hơn là không còn ghế, hơn nữa, nhờ Trung cộng bảo vệ ngai vàng thì còn gì bằng? Hoa Kỳ ư? Còn khuya, vì nước xa không cứu được lửa gần, và lại khác ý thức hệ, khác chủ nghĩa tôn thờ, khác cả cách làm ra tiền bỏ túi làm sao dung hòa với Hoa Kỳ được?

Lịch sử của 2 nước Việt Trung từ hơn 2600 năm qua cũng cho thấy, khi Trung Hoa mạnh là lúc mà các lãnh đạo triều đại của Việt Nam dù ở thời đại nào cũng phải chịu làm thái thú để yên thân kiếm ăn trên xương máu dân tộc. Cái dân tộc tính tự nguyện làm nô lệ của người Việt nó cũng là bản chất của bao triều đại Việt Nam ăn vào máu chịu làm thái thú đê hèn, không thể tự gột rửa được.

Lịch sử cũng cho thấy rằng, Hoa Kỳ, Trung cộng và Nga đã đi đêm trên lưng của Việt Nam cộng hòa. Việt cộng và Trung Hoa cũng đi đêm trên lưng của Lào và Cambodia qua Hội nghị Thành Đô. Và hiện nay thì chưa có chuyện Hoa Kỳ và Trung Hoa đi đêm trên lưng Việt cộng, nhưng tương lai vẫn có thể có chuyện Hoa Kỳ và Trung Hoa đi đêm trên lưng của Việt cộng ở khu vực sau khi Hoa Kỳ chuyển trục Thái Bình Dương lắm chứ? 

Bài học đồng minh Việt Nam cộng hòa của Hoa Kỳ vẫn còn đó, từ 1954 đến 1967 là đồng minh không thể bỏ, nhưng từ 1967 đến 1972 là phải buông tay dần, nhưng đến sau cái bắt tay Mao Nixon cuối năm 1972 đi đêm trên lưng VNCH, buộc VNCH phải ký xong Hiệp định Paris là vứt bỏ. Nhưng một quốc gia nhược tiểu như Việt Nam hiện nay thì chính quyền Việt cộng lại đi đêm trên lưng của dân tộc để kiếm ăn.

Thế giới ngày nay là thế giới của những nước lớn hơn đi đêm trên lưng của những nước bé hơn để toan tính lợi ích cho nước mình. Chính trị là nghệ thuật của sự có thể. Vấn đề quan trọng là, nước nhỏ có được lãnh đạo đủ đức, tài và tầm để làm cho nước nhỏ nhưng không nhỏ như Thái Lan, Miến Điện, Singapore hay không để nói chuyện ngang hàng với Trung cộng chứ không ở thế chư hầu!

Sài Gòn, 17h10' ngày thứ Hai, 20/6/2016

Wednesday, June 15, 2016

BẤT HỒI TỐ LÀ CỐT LÕI CỦA HIẾN CHƯƠNG BẤT TUÂN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM


Bài đọc liên quan:

Trong bài Ai và làm gì cho phong trào bất tuân dân sự? tôi có viết các tổ chức dân sư người Việt cần phải có một hiến chương để hành đông thành công. Hiến chương ấy như thế nào, đây là chủ đề bài viết này.

Cha đẻ của sức mạnh mềm hiện đại là do Joseph Nye, nhưng ông chỉ đưa ra lý thuyết sức mạnh mềm cho chính quyền của đảng dân chủ do Bill Clinton sử dụng để làm đối thủ của Hoa Kỳ yếu đi, rồi sau đó Obama đã thành công hơn ở Bắc Phi và Trung Đông, kể cả chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 5/2016 vừa qua.

Song sức mạnh mềm của dân là quyền quay lưng với chính quyền độc tài vô pháp luật là do Étienne de La Boétie nhà tư tưởng Pháp ở thế kỷ XVI đưa ra. Sau đó, dân Hoa Kỳ dùng nó để thành công cuộc Cách Mạng Trà và lập quốc, và nhiều quốc gia khác làm theo thành công.

Bất tuân dân sự theo nghĩa dễ hiểu nhất là dân cắt bầu sữa nuôi chính quyền.

Một chính quyền của dân, do dân và vì dân là chính quyền làm thuê ăn lương của dân trả qua thuế. Hiến pháp là hợp đồng khế ước của dân với chính quyền vì của dân, do dân và vì dân.

Một chính quyền độc tài sẽ đẻ ra hiến pháp và pháp luật trên giấy và chỉ để chính quyền sử dụng đàn áp dân.

Việc người dân hiểu được mình là người chủ làm ra tiền nuôi chính quyền là việc rất đơn giản, ai cũng thực hiện, nhưng hầu hết dân không bao giờ thấy sức mạnh của mình là ở mình tạo ra bầu sữa để chính quyền sống.

Tại sao người dân không chịu hiểu sức mạnh của mình, mà thậm chí còn cho rằng, chính quyền bị sụp đổ sẽ không có chính quyền nào có thể lo cho dân tốt hơn chính quyền độc tài vô luật pháp hiện tại, là một câu hỏi lớn của nhiều vấn đề tâm lý học đã được thế giới nghiên cứu và trình bày. Trong số đó, Hội chứng Stockhom là vấn đề quan trọng nhất để giải thích điều này.

Hội chứng Stockholm được lấy tên từ vụ cướp tại ngân hàng Kreditbanken, ở hội trường Norrmalmstorg, thủ đô Stockholm, Thụy Điển. Bốn nhân viên ngân hàng gồm, ba nữ một nam bị giữ làm con tin từ ngày 23 đến 28 tháng 8 năm 1973, trong khi kẻ bắt cóc là hai nam đang thỏa thuận với bên cảnh sát. Trong khoảng thời gian 6 ngày, nạn nhân bắt đầu từ cảm giác sợ hãi, căm ghét sang quý mến, đồng cảm, có thể tới mức bảo vệ và phát triển phẩm chất xấu của kẻ bắt cóc. Họ từ chối sự trợ giúp từ chính quyền rồi đứng ra bảo vệ kẻ bắt cóc trước truyền thông và giới cảnh sát sau khi được giải thoát sau sáu ngày giam cầm.

Tuy nhiên, những cảm xúc nói trên của "nạn nhân" hoàn toàn vô lý vì họ đang nhầm lẫn hành vi hành hạ với lòng tốt của kẻ bắt cóc, mặc cho những nguy hiểm mà họ đã phải trải qua. Hệ thống quản lý dữ liệu bắt cóc của FBI ước tính ít nhất tám phần trăm nạn nhân có biểu hiện của hội chứng Stockholm

Một trong những giả thiết giải thích sự tồn tại của Hội chứng Stockholm được dựa trên lý thuyết của nhà phân tâm học Anna Freud: Sự đồng cảm của nạn nhân với kẻ hành hạ là cách mà nạn nhân phản ứng với nỗi đau mà họ đang phải trải qua. Bằng cách đồng hóa bản thân với kẻ hành hạ, bản ngã của nạn nhân được bảo vệ. Khi đó, nạn nhân chia sẻ chung những suy nghĩ, thái độ và giá trị với kẻ hành hạ, "tạm quên mất" rằng mình đang bị đe dọa.

Nhà tội phạm học, tâm thần học Nils Bejerot, với tư cách chuyên gia tầm thần học tham gia trong cuộc điều tra vụ cướp Norrmalmstorg, là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ hội chứng Stockholm dưới tên gọi Hội chứng Norrmalmstorg  - tiếng Thụy Điển: Norrmalmstorgssyndromet, tiếng Anh: The Norrmalmstorg Syndrome - sau đó được biết đến rộng rãi dưới tên hội chứng Stockholm. Nhà tâm thần học Frank Ochberg là người đưa ra định nghĩa hội chứng Stockholm để trợ giúp cho những vụ thỏa thuận con tin.

Hồi cứu lại năm 1930, khi vẫn đang nằm trong tay phát xít Đức, một số người Do Thái đồng thanh hô "Hãy tham gia cùng chúng tôi" và ủng hộ chính sách của Hitler. Đó là trên bình diện rộng hơn của một xã hội, một quốc gia.

Nước Việt cận đại trải qua các triều đại Đệ nhất, đệ nhị cộng hòa và chế độ cộng sản ở miền Bắc và cả nước. Các triều đại sau xấu xa hơn triều đại trước. Trong quá trình đó, có một sự sai lầm trong cảm thông trong dân chúng với chế độ chính trị hiện tại của cộng sản ở Việt Nam hiện nay. Một hội chứng Stockholm hình thành trong dân chúng đã và đang giết chết mọi lĩnh vực và làm nước Việt yếu hèn. Nó cũng giống như cộng đồng Asean đang yếu hèn với Trung cộng.

Làm sao để dân Việt thoát khỏi hội chứng Stockholm không chỉ là việc của trí thức, mà cả của người dân phải biết tìm hiểu, đưa tin đến mọi ngõ ngách của xã hội. Bằng cách nào để dân Việt hiểu được mình là chủ, chính quyền là chó. Chủ nuôi chó để giữ nhà, nếu chó không hoàn thành nhiệm vụ giữ nhà, chủ cắt lương thực thì chó ắt phải tuân thủ cũng là việc của trí thức phải làm, và dân phải tìm hiểu. Công việc này đòi hỏi thời gian và sự đồng lòng của nhiều tầng lớp dân trong xã hội.

Khi toàn xã hội từ người dân cùng đinh đến trí thức hiểu sức mạnh của mình nhằm bảo vệ chính bản thân và gia đình mình trước sự xâm thực của cái xấu, lúc ấy Bất tuân Dân sự sẽ là sức mạnh mềm to lớn để buộc chính quyền độc tài phải nghe theo dân.

Hầu hết các cuộc cách mạng có tính bạo lực trong Bất tuân Dân sự trên thế giới không có hiến chương Bất Hồi Tố - nonretroactivity - đều đưa đến thất bại trong tương lai về mặt nhân bản và phát triển xã hội, và rơi vào vòng quay độc tài, tàn ác. Ở Việt Nam có thể lấy ví dụ các cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, cuộc xâm lược miền Nam của cộng sản Bắc Việt vào 30/4/1975. Thế giới gần đây cũng cho thấy một Iraq không thể tốt hơn khi Saddam Hussein bị treo cổ. Libya không thể hàn gắn vế thương khi Gaddafi bị xử tử sau chui cống...

Nhưng để chính quyền độc tài nghe theo dân và chịu xây dựng một xã hội tự lực, tự cường thì dân cần phải có một hiến chương cho bất tuân dân sự nhân bản và độ lượng với kẻ cầm quyền. Bất hồi tố là cốt lõi của mọi hiến chương trong Bất tuân Dân sự thành công từ Hoa Kỳ và Ấn Độ với Anh, Cách mạng Nhung và Hoa Hồng ở Đông Âu, Cách mạng vàng của bà Aung San Suu Kyi đối với nhà cầm quyền độc tài quân phiệt ở Miến Điện. 

Bất Hồi Tố sẽ giúp nhà cầm quyền độc tài an tâm chuyển giao quyền lực sau khi đã no đủ. Và Bất Hồi Tố chỉ có thể thực hiện được với những người đại diện cho dân có đủ cả tâm, tài, đức để cùng chung tay xóa bỏ quá khứ đau buồn, xây dựng lại tương lai, chứ không nhỏ nhen, đầy thù hằn như cách đối xử của người cộng sản.

Vì thế, vấn đề Bất tuân Dân sự cần phải có sự cảm thông giữa đại diện của dân và chính quyền độc tài ở cốt lõi của vấn đề là Bất Hồi Tố. Song ểể có một hiến chương Bất Hồi Tố là cốt lõi, trước tiên nước Việt phải có người cầm đầu và soạn thảo hiến chương Bất Hồi Tố cho tổ chức dân sự ở Việt Nam cho thời kỳ hậu cộng sản.

Sài Gòn, 14h59' ngày thứ Ba, 15/6/2016

Friday, June 10, 2016

TƯ DUY TRONG TIỂU THUYẾT 1984 CỦA GEORGE ORWELL


MỞ ĐẦU

George Orwell là một nhà văn thiên tài. Hầu hết người Việt biết đến ông nhân cách hóa súc vật thành người trong xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa của Lý Ninh, Mao và các tay sai như Hồ chí Minh, Fidel Castro, Kim Nhật Thành trong Animal Farm - Trại súc vật - được xuất bản năm 1945. Nhưng không chỉ thế, ông còn đưa ra một cặp khái niệm về tư duy rất mới mà nhân loại trước ông chưa nghĩ ra: Doublethink - tư duy nước đôi - và Thoughtcrime - tư duy tội ác - trong tiểu thuyết 1984 - Nineteen Eighty-Four - của ông xuất bản Năm 1948.

Tiểu thuyết 1984 của ông mô tả một siêu quốc gia nằm trên Đại Tây Dương có lịch sử chiến tranh triền miên, bị một hệ thống chính trị áp đặt có cái tên là Xã hội Chủ nghĩa, dưới sự kiểm soát của một tầng lớp đặc quyền kiểm soát cả tư duy và hành động của dân chúng, Tầng lớp đặc quyền đó có một Ông trùm Cha - Big Brother's Father - cầm đầu nhiều ông trùm Anh - Big Brother - được tập hợp lại trong một đảng độc quyền cai trị, tẩy não cộng đồng dưới cái tên chính đảng được gọi là Đảng Inner. 

Đảng Inner chỉ quan tâm đến quyền lợi của các đảng viên để ăn chia, mà không quan tâm đến quyền lợi các cá nhân ngoài đảng và đất nước. Bằng cách đó, đảng Inner đã chi phối toàn bộ tư duy, niềm tin và hành vi của dân tộc bằng một chương trình tẩy não quốc gia. 

Với chương trình tẩy não quốc gia nhà cầm quyền biến dân thành đám đông những cá thể có tư duy nước đôi và hành động cũng nước đôi. Từ cộng đồng doublethink sẽ xuất hiện những nhóm người nổi tiếng có uy tín cộng đồng chịu làm sai nha cho đảng Inner cho ra những thoughtcrime - tư duy tội ác - để dẫn dắt đám đông và thiên hạ đại loạn trong tư duy, một xã hội hỗn loạn tranh cãi quên đi hành động thiết thực sẽ giúp nhà cầm quyền độc tài được hưởng lợi.

Ai chưa có cơ hội đọc truyện thì xem phim 1984 qua link này nhé.

DOUBLETHINK - TƯ DUY NƯỚC ĐÔI

Doublethink là gì? Là hành vi sự chấp nhận cả tư duy lẫn niềm tin trái ngược nhau là đúng từ một hậu quả của văn hóa tuyên truyền chính trị hoặc chế độ độc tài.

Tư duy nước đôi có liên quan đến, nhưng lại khác với đạo đức giả và thể hiện sự trung lập. Doublethink là sự bất hòa nhận thức, nơi mà niềm tin mâu thuẫn gây ra xung đột trong tâm trí của một người. Doublethink là do sự bất hòa nhận thức - do đó người đang bị doublethink chi phối họ hoàn toàn không biết về bất kỳ xung đột hay mâu thuẫn gì đang xảy ra từ tư duy đến niềm tin lẫn hành vi của họ.

Trong một xã hội mà nền chính trị và văn hóa càng thói nát thì tình trang sử dụng doublthink càng diễn ra nhiều trong mỗi cá thể thành viên của xã hội. Họ sử dụng một cách tự nhiên, hồn nhiên như một văn hóa sống thường quy, nhưng nó lại là bất thường của một xã hội tự do dân chủ và minh bạch. Họ sử dụng doublethink một cách trái khuấy, nhưng họ mặc định đó là hiển nhiên và không hề biết mình sai trái, đúng hay sai.

Tôi chứng kiến rất nhiều người Việt Nam cả trong và ngoài nước có tư duy nước đôi. Gần đây xảy ra quá nhiều chuyện lớn trong xã hội Việt, một số showbize và chính khách đã thể hiện kiểu tư duy nước đôi để sống sót trong xã hội cộng sản được yên thân.

Tôi xin lấy 2 ví dụ đơn cử sau đây để chúng ta cùng bàn luận. Tôi xin nói rõ, tôi chỉ ví dụ cụ thể để mọi người dễ hiểu, chứ hoàn toàn tôi không có ý đả kích những người mà tôi lấy làm ví dụ cụ thể ở đây.

VÍ DỤ CỤ THỂ

Người thứ Nhất là MC. Phan Anh, khi anh ta thể hiện sự cương quyết bảo vệ lẽ phải trong clip 60 phút cá chết của cô MC Tạ Bích Loan và nhà báo, kiêm nhà thơ, kiêm đại tá an ninh Hồng Thanh Quang dàn dựng. Nhưng sau đó, Phan Anh tỏ ra nhủn nhặn và vuốt ve 2 đối thủ đã công kích bôi nhọ mình trong clip ở cộng đồng facebook. Đó là một cách nhượng bộ của Phan Anh để bảo toàn lực lượng và mưu cầu hạnh phúc của mình trong một xã hội mà luật pháp không có, và tham nhũng tràn lan không kiểm soát được do cộng sản gây ra.

Sống trong tư duy nước đôi người ta có những không hài lòng với chính quyền, bạn bè, người thân, người ta sẽ chọn lựa sự giả dối với nhau, bằng mặt mà không bằng lòng để thủ thế cho sự an nguy. Đồng sàng dị mộng! Hôm nay họ còn là cha con chồng vợ bạn bè nhưng luôn không tin nhau, ngày mai chỉ cần một thoughtcrime của lũ sai nha chính quyền dẫn dắt, họ sẽ sẵn sàng cầm dao đâm nhau.

Người thứ Hai là chị Tôn Nữ Thị Ninh. Tôi đã từng làm việc cùng chị tại nhà riêng. Chị em tâm sự rất thân tình và cởi mở. Thực tình trong tôi, chị là một trí thức có tâm, nhưng bị cái tư duy nước đôi nó làm chị phải sống hai mặt. Những gì chị thể hiện trên cộng đồng không phải là chị, mà là của người khác, nhằm bảo toàn cuộc sống an toàn cho chị. Nó như một con bài có 2 mặt, lá mặt và lá trái. Đó cũng là cách của một nhà ngoại giao vẫn thường phải sống.

Nên tôi thông cảm cho chị Ninh về cái tư duy nước đôi trong cuộc sống của chị, nhưng tôi không đồng ý chị đem cái tư duy nước đôi kiểu không hướng thiện làm ảnh hưởng cộng đồng dân trí thấp, nhất là thế hệ trẻ ở nền giáo dục trong nước bị che mắt, bịt tai và đóng đinh và sọ não của đảng cộng sản Việt Nam.

Sống trong thoughtcrime người thân trở thành kẻ thù của nhau và của cộng đồng, luôn tấn công cộng đồng, đẩy cộng đồng vào chỗ sụp đổ cả văn hóa lẫn ngu muội.

THOUGHTCRIME - TƯ DUY TỘI ÁC

Nhưng khi doublethink lập đi lập lại thì cá nhân ấy sẽ từ lượng biến thành chất thoughtcrime - tư duy tội ác.

Từ doublethink chuyển sang thoughtcrime lúc nào MC Tạ Bích Loan và các nhà phản biện với MC Phan Anh không còn là phản biện mà là tội ác

Thoughtcrime là một sự xuất hiện hoặc thể hiện của tư tưởng gây tranh cãi hoặc những tư tưởng mà xã hội không thể chấp nhận được. Đó là tư duy sai trái của những cá nhân có doublethink mà thành, những cá nhân này trung kiên với nhà cầm quyền độc tài. Thoughtcrime là hậu quả tẩy não của một nhà cầm quyền độc tài cố gắng kiểm soát cộng đồng dân chúng thông qua những nhà hoạt động xã hội có tiếng tăm và uy tín.

Cái cách sử dụng Doublethink của Phan Anh nhân bản, vì chưa bị tẩy não thành Thoughtcrime làm hại cộng đồng. Cao hơn một bậc, doublethink của chị Tôn Nữ Thị Ninh, cô Tạ Bích Loan, nhà thơ Hồng Thanh Quang, tiến sĩ xã hội học hành vi Đặng Hoàng Giang và một số nhà xã hội học mới vừa ra trường trong 2 clip 60 phút mở là những doublethink đã được thuần hóa thành thoughtcrime. Tội ác!

60 phút mở với chủ đề: "Người ta làm từ thiện vì ai" đã là một kiểu tư duy tội ác làm hỗn looạn xã hội

KẾT

Tôi viết bài này chỉ để mọi người cần xem lại mình đã bị vướng vào doublethink chưa, doublethink đã bị chuyển thành thoughtcrime chưa, để còn tự sửa mình theo hướng thiện, chứ đừng quá cuồng tín ai đó, hay vì chén cơm, địa vị etc mà đánh mất tính thiện của chính mình.

Một xã hội muốn cường thịnh cần tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo trong một nền chính trị có quyền con người được khai phóng với sự minh bạch và luật pháp công minh, chứ không phải cần những cái đầu bị tẩy não dẫn dắt cộng đồng bằng những tư duy nước đôi và tư duy tội ác chỉ đẩy quốc gia dân tộc xuống bùn nhơ như George Orwell đã viết từ 68 năm trước trong tiểu thuyết 1984.

Một xã hội mà chỉ toàn những con người sống với nhau bằng doublethink là một xã hội giả dối. Một xã hội quá nhiều thoughtcrime là một xã hội băng hoại chờ ngày sụp đổ.

Từ ngày dân ta có đảng cộng sản lãnh đạo với chiến chiến dịch tuyên truyền ngu dân, người dân đi từ doublethink chuyển thành thoughtcrime. Những thế hệ giả dối và độc ác ra đời. Để tẩy rửa những thế hệ nhơ bẩn trong trí não và hành vi này phải mất vài thế kỷ.

Sài Gòn, 16h24' ngày thứ Sáu, 10/6/2016

Thursday, June 9, 2016

NÓI RÕ VỀ TIỀN TÀI TRỢ FUV TỪ TÀI SẢN CỦA CHÍNH PHỦ VNCH Ở HOA KỲ

Ông Bob Kerrey nói sẽ không từ chức chủ tịch hội đồng tín thác của Fulbright University Vietnam


Tôi đã không muốn viết về vấn đề Fulbright University Vietnam - FUV - ngoài bài viết về học thuật và tính nhân bản. Nhưng vì câu chuyện FUV đã đi quá đà khi thông tin báo chí và bà Tôn Nữ Thị Ninh không còn tính trung thực.

Nhiều người không hiểu biết gì nợ nần của chính phủ VNCH và chính phủ Hoa Kỳ từ trước 30/4/1975, nhưng cứ nói bừa. Ví dụ điển hình là những gì bà Tôn Nữ Thị Ninh đã viết trên báo Infonet là: "Chính phủ cộng sản Việt Nam phải trả nợ 100 triệu đô la cho chính phú Hoa Kỳ từ nợ mà VNCH đã nợ, rồi VEF lấy tiền đó chuyển cho FUV, chứ không phải tiền của Hoa Kỳ tài trợ FUV". Đây là một sự hiểu biết hoàn toàn sai của bà Ninh. Sau đó cô phóng viên VTV Nguyễn Thị Thu Uyên cũng hùa vào nội dung sai quấy này của bà Ninh.

Hôm nay, 09/6/2016, FUV sợ mất tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ với FUV vì thông tin không đúng sự thật của bà Tôn Nữ Thị Ninh về cái quỹ VEF đăng trên báo đại diện bộ 4T, nên gửi ngay thông báo FUV để đính chính lại thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh là hooàn toàn sai.

Sự thật của món nợ 100 triệu đô la dân sự của VNCH với Hoa Kỳ là có thực. Nhưng nợ đó được thế chấp bằng những giá trị bất động sản và một tài khoản ngân hàng to lớn hơn gấp nhiều lần số nợ này mà chính phủ VNCH đã mua và làm tài sản hoạt động của VNCH tại Hoa Kỳ. Khi chính quyền VNCH sụp đổ, tài sản tại Hoa Kỳ và tài khoản ngân hàng bị xem như đóng băng và được Hoa Kỳ trưng dụng làm ra lãi suất.

Về mặt pháp luật, chỉ có một chính quyền đại diện của VNCH đứng ra trả nợ 100 triệu đô la để lấy lại tài khoản ngân hàng và các bất động sản này. Chính quyền VNCS không có tư cách pháp nhân để trả nợ và nhận lại tài sản này. Vì chiểu theo Hiệp định Paris 1973, thì VNCS đã phá bỏ luật pháp quốc tế xâm lược VNCH.

Trong 41 năm qua số tài sản này của VNCH đã làm ra nhiều lợi nhuận để giúp Quỹ Giáo dục Việt Nam - VEF - hoạt động tăng học bổng Fulbright cho du học sinh Việt Nam.

Sau 30/4/1975, chính phủ Việt Nam cộng sản đã nhăm nhe những tài sản này của chính phủ VNCH tại Hoa Kỳ và rất muốn Hoa Kỳ chuyển nó cho mình, nhưng chưa được vì 2 lý do:

1. Hoa Kỳ chưa có đạo luật về việc này dành cho Việt Nam sau chiến tranh. Nhưng chính Cựu Thượng nghị sĩ, Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV Bob Kerrey đóng vai trò chủ chốt trong quá trình vận động thông qua đạo luật số HR 83 tháng 12/2014 nhờ xây dựng được một liên minh lưỡng đảng ở cả Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ.

Đạo luật số HR 83 (Luật về Ngân sách hợp nhất và tiếp tục tăng cường 2015 - Consolidated and Further Continuing Appropriations Act of 2015) được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 15/12/2014, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ sử dụng nguồn tiền trong Quỹ Trả Nợ Việt Nam (Vietnam Debt Repayment Fund) để tài trợ cho một trường đại học tư thục phi lợi nhuận ở Việt Nam. Số tiền này nằm ngoài số tiền mà Chính phủ Hoa Kỳ đã cam kết tài trợ cho Quỹ Giáo dục Việt Nam- VEF. 

Vì vậy, số tiền này không phải là tiền của Quỹ Giáo dục Việt Nam, mà là số tiền từ số bất động sản và tài khoản ngân hàng của VNCH bị chính phủ Hoa Kỳ đóng băng đã làm ra lợi nhuận. Ước tính, số tiền còn lại vào khoảng 17,5 triệu USD. Trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư gửi Ban Quản lý Khu Công nghệ Cao TP.HCM và hồ sơ xin thành lập FUV gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng tôi đã thể hiện rõ số tiền này - trích thông cáo báo chí FUV.

2. Muốn được sử dụng những bất động sản và tài khoản ngân hàng của VNCH đã mua và bị Hoa Kỳ đóng băng tại Hoa Kỳ vì nợ dân sự 100 triệu đô la thì một tổ chức đại diện chính phủ VNCH phải trả cho Hoa Kỳ 100 triệu đô la dân sự kia. Chính phủ VNCS không có vai trò được hưởng tài sản đóng băng của VNCH, dù có muốn trả 100 triệu đô la nợ dân sự của VNCH để nhận lại tài sản này. Tiền lâu nay từ lợi nhuận của tài sản VNCH bị đóng băng dùng tài trợ cho VEF là để cho học bổng Fulbright du học Hoa Kỳ. Nay có FUV thì tiền đó chuyển sang cho FUV và chấm dứt học bổng Fulbright.

Sài Gòn, 17h59' ngày thứ Năm, 09/6/2016

Saturday, June 4, 2016

HAI NHẠC PHẨM VỀ THIÊN AN MÔN ĐẪM MÁU


Ngày 04/6/1989 cách nay 27 năm là ngày cả thế giới không bao giờ quên sau quyết định của Đặng Tiểu Bình giết chết hơn 10.000 sinh viên trí thức đòi một Trung cộng tự do dân chủ ôn hòa trước Thiên An Môn.

Có 2 bản nhạc nổi tiếng thời đó do 2 tác giả khác nhau viết ra cho phim tài liệu "Thiên An Môn đẫm máu":

Nhạc phẩm thứ nhất là "Tưởng niệm ca Thiên An Môn đẫm máu" của một tác giả nặc danh Trung Hoa sáng tác bằng tiếng Hoa đầy bi tráng. 

Đây là clip của bản nhạc bi tráng viết theo rock and rool "Tưởng niệm ca Thiên An Môn đẫm máu". Các bạn nghe sẽ thấy rất bi tráng dù không cần hiểu lời. Tạm dịch lời sang tiếng Việt như sau:

TƯỞNG NIỆM CA THIÊN AN MÔN ĐẪM MÁU
"Bịt mắt chúng ta, họ muốn chúng ta không thấy
Bịt tai chúng ta, họ muốn chúng ta không nghe
Tuy nhiên, sự thật là trong trái tim của chúng ta
Cơn đau của chúng ta nằm trong lồng ngực
Bao lâu nữa chúng ta phải chịu đựng
Bao lâu nữa chúng ta phải câm lặng?
Nếu nước mắt có thể rửa sạch tất cả bụi ...
Nếu máu có thể được trao đổi lấy sự tự do ...
Hãy để ngày mai nhớ máu của dân phản đối hôm nay
Hãy để cho cả thế giới thấy vết thương của lịch sử!"

Tưởng niệm ca Thiên An Môn đẫm máu - tác giả Trung Hoa, nặc danh

Nhạc phẩm thứ hai là, "The Blood on the square" do Phillip Morgan viết đầy bi thảm cho sự kiện Thiên An Môn đẫm máu do Đặng Tiểu Bình giết dân và sinh viên, trí thức Trung Hoa biểu tình ôn hòa ngày 04/6/1989. Nước mặt của hàng triệu con tim trên toàn thế giới đã tuôn rơi theo tác phẩm này của ông. Lời tiếng Anh của bản nhạc này như sau:

THE BLOOD ON THE SQUARE
"A song was heard in China
in the city of Beijing.
In the spring of 1989
you could hear the people sing.
And it was the song of freedom
that was ringing in the square,
the world could feel the passion of
the people gathered there.
Oh children, blood is on the square.
For many nights and many days,
waiting in the square.
"To build a better nation"
was the song that echoed there.
"For we are China's children,
we love our native land,
for brotherhood and freedom
we are joining hand in hand."
Oh children, blood is on the square.
Then came the People's army
with trucks and tanks and guns.
The government was frightened
of their daughters and their sons.
But in the square was courage and
a vision true and fair,
the Army of the People would not harm
the young ones there.
Oh children, blood is on the square.
On June the 3rd in China,
in the spring of '89,
an order came from high above
and passed on down the line.
The soldiers opened fire,
young people bled and died,
the blood of thousands on the square
that lies can never hide.
Oh children, blood is on the square.
For four more days of fury
the people faced the guns.
How many thousands slaughtered
when their grisly work was done?
they quickly burned the bodies
to hide their coward's shame,
but blood is thick upon their hands and
darkness on their names.
Oh children, blood is on the square.
There are tears that flow in China
for her children that are gone.
There is fear and there is hiding,
for the killing still goes on.
And the iron hand of terror can
buy silence for today,
but the blood that lies upon the square
cannot be washed away.
Oh children, blood is on the square./."

The blood on the square của Phillip Morgan

Hôm nay kỷ niệm lần thứ 27 hàng ngàn sinh viên trí thức Trung Hoa đã ngã xuống vì tự do dân chủ, tôi tổng kết bài này như là nén nhang đến những hương hồn oan khuất đã vì tự do dân chủ cho toàn nhân loại. Một dấu ấn lịch sử nhơ nhớp của cộng sản được lập lại thời Đặng Tiểu Bình.

Rất tiếc là vì lợi ích của các quốc gia phương Tây và Hoa Kỳ mà lúc ấy họ chỉ cấm vận vũ khí với Trung cộng, chứ không cấm vận kinh tế. Chính vì thế mà, hôm nay có một Trung cộng trổi dậy đầy khát máu.

Sài Gòn, 13h18' ngày thứ Bảy, 04/6/2016

Thursday, June 2, 2016

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ FULBRIGHT UNIVERSITY VIETNAM


Bài đọc liên quan:

Mấy hôm nay xôn xao về việc phía Việt Nam dấy lên phong trào đề nghị ông Thượng nghị sĩ Bob Kerrey từ chức Chủ tịch hội đồng tín thác Fulbright University Vietnam - FUV - vì ông là cựu lính SEALs đã tham gia thảm sát làng Thạnh Phong tháng 02 năm 1969.

Không đơn giản mà phải chọn ông Bob Kerrey vì chức chủ tịch hội đồng tín thác là cực kỳ quan trọng êể cho nguồn tài chính của một trường phi lợi nhuận phát triển và trường tồn. Chọn một cựu thượng nghị sĩ và cũng là một cựu ứng viên tổng thống Hoa Kỳ là việc rất đúng.

Có nhiều ý kiến đề nghị một vị nào đó là người Việt Nam trong nước lên ngồi vào ghế chủ tịch này, ví dụ bà Tôn Nữ Thị Ninh như một ý kiến đề nghị, nhưng cũng có nhiều người phản đối. Theo tôi thì có 2 vấn đề về lớn đối với Fulbright University Vietnam.

VẤN ĐỀ HỌC THUẬT

FVU là đại học tự chủ đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, chứ không có nghĩa là đầu tiên của quốc gia Việt Nam. Vì trước 30/4/1975 ở nền chính trị Việt Nam Cộng Hòa đã có hệ thống giáo dục với triết lý: Dân tộc, Khai phóng, và Nhân bản.

Một triết lý giáo dục tự chủ là phải đạt 3 mục tiêu: tự do học thuật, tự chủ tài chính và tạo ra những thế hệ có tư duy độc lập. FUV đang thực hiện 3 tiêu chí này, nhưng FUV không có giáo dục bậc phổ thông. Giai đoạn đầu FUV chỉ đào tạo sau đại học về khoa học xã hội. Trong khi đó, muốn một thế hệ có tư duy độc lập thì thế hệ đó phải được đào tạo theo tự chủ giáo dục từ trẻ mầm non. 

Không thể tạo ra những thế hệ có tư duy độc lập, mà họ đã được trồng và nhồi sọ hơn 20 năm từ mầm non đến đại học! Đây là một khiếm khuyết chết người của FUV cần phải suy nghĩ. Trồng cây muốn cây vương thẳng phải uốn nó từ lúc nẫy mầm, đó là quy luật!

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LÂU DÀI

Ông Bob Kerrey chủ tịch hội đồng quản trị FUV và bà àím Bích Thủy hiệu trưởng FUV trong ngày 25/5/2016 nhận giấy phép thành lập FUV

Thứ nhất, FUV là công lao của ông Bob Kerrey đã cố gắng kêu gọi thành lập từ năm 1991 đến nay như là một lời và hành động tạ lỗi của riêng ông với những gì bản thân ông đã gây ra trong cuộc nội chiến ở Việt Nam. Ông Bob Kerrey đã từng là người có tội trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong ở vai trò của một người lính, chứ không là một nhà chiến lược tạo ra cuộc nội chiến Việt Nam. Ngày nay, ai cũng rõ cuộc nội chiến này là do Bắc Việt gây ra. Sao cứ mãi soi ra những hận thù không cần thiết khi hai quốc gia đã và đang xích lại gần nhau. Liệu tư duy có sai lầm như bà Tôn Nữ Thị Ninh đã bày tỏ: Lẽ nào nước Mỹ không còn ai ngoài Bob Kerrey?

Thứ hai, FUV có lộ trình 3 giai đoạn, Trường được xây dựng trên cơ sở phát huy nguồn vốn và con người của Trường Fulbright. Vốn đầu tư thực hiện dự án Trường Đại học Fulbright Việt Nam là 70 triệu đô la Mỹ. Trong đó, mức đầu tư giai đoạn đầu (đến năm 2016) là 5,3 triệu đô la Mỹ, giai đoạn hai (2017 – 2020) là 20 triệu đô la Mỹ, và giai đoạn ba (2020 – 2030) là 44,7 triệu đô la Mỹ. Thực ra, xây dựng một đại học nghiên cứu ở thời buổi này với số vốn chỉ 70 triệu đô la thì chả bỏ bèn gì, nhất là 2 phân khoa kỹ sư và y khoa thì không đủ để xỉa răng chỉ cho phân ngành khoa học tự nhiên, chứ đừng nói đến phân ngành kỹ sư hay y khoa! Vì chúng tôi làm dự án xây dựng trường phổ thông đúng chẩn quốc tế cho triết lý giáo dục Việt Nam đã  hơn 100 triệu đô la rồi.

Thứ ba, Ông Bob Kerrey từ chức thì được, nhưng ông ấy phải hoàn thành trách nhiệm của ông sau khi đã hoàn tất giai đoạn II của FUV, tức là xây dựng cả nhân lực và vật lực xong social science department - phân khoa khoa học xã hội - của FUV rồi hãy từ chức.


Thứ tư, Khi ông Bob Kerrey từ chức thì phải tìm một nghị sĩ hoặc một nhà quản lý điều hành có uy tín xã hội và giới chuyên môn có quốc tịch Hoa Kỳ lên thay thì FUV mới có thể trường tồn theo hiến chương của nó. Nếu không thì với cái văn hóa làng xã cộng thêm tôn giáo cộng sản thì FUV sẽ giống như Đại học Hoa Sen, Đại học Tân Tạo hoặc Đại học Việt Đức đang ngoi ngóp chết chìm và bị tôn giáo sản thôn tính bằng tư tưởng Mác Lê và Hồ. Điều này tự bản thân tôi đã có kinh nghiệm khi gầy dựng và muốn sự trường tồn của Go West Foundation sau gần 2 năm thành lập và hoạt động. Điều này không có nghĩa là người Việt trong nước không có nhân tài, nhưng cộng đồng người Việt mãi sa đà vào đả kích cá nhân hơn là đi tìm nguyên nhân làm cá nhân sai lầm. Nên người Việt kém khả năng đồng thuận và đưa ra giải pháp tối ưu cho một vấn nạn xã hội và con người, đây là cốt lõi của triết học!

KẾT

Như tôi đã viết, Việt Nam đang cần một triết lý giáo dục trước khi đưa triết lý ấy vào nền giáo dục nước nhà cụ thể ở các bậc giáo dục từ mầm non đến sau đại học. Đó là cốt lõi của vấn đề để xây dựng lại một Việt Nam đã phá sản cả phần xác lẫn phần hồn trong 71 năm qua.

Bốn mươi mốt năm sau nội chiến chính quyền cộng sản ở Việt Nam chưa làm được việc khó nhất sau chiến tranh là hòa giải và hòa hợp dân tộc, nên người Việt mãi ngồi nhìn vấn đề lớn của dân tộc ở tư duy nông dân làng xã. Bao giờ dân và nước Việt mới chịu lớn?

Asia Clinic, 9h29' ngày thứ Năm, 02/6/2016