Sunday, November 29, 2009

NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN VI: PHÂN BỔ VÀ ĐÃI NGỘ

 Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quan niệm 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Mục tiêu 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Bảo hiểm y tế 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Đào tạo 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược

Thật là khó khăn để tìm những con số cho bài viết có tính khách quan, khi muốn viết chủ đề y tế Việt Nam cần thay đổi gì? Đặc biệt với chủ để phân bổ nguồn vốn, nhân lực và chế độ đãi ngộ với họ trong ngành y tế Việt Nam. Tôi đi tìm ở hầu hết các trang web nào là Bộ y tế, nào là các trường y lớn của Việt Nam như Đại học y Hà Nội, Đại học Y Dươc TPHCM v.v... không thấy nơi đâu có những con số thống kê về mỗi năm đào tạo bao nhiêu bác sĩ, giá cả từng loại dịch vụ thăm khám và chữa trị cho mỗi bệnh nhân và chế độ đãi ngộ cho từng trường hợp phẫu thuật cho các tiểu, trung, đại và siêu phẫu thuật là bao nhiêu? v.v...Thậm chí các con số trên website của bộ y tế cũng chỉ cập nhật đến thời điểm mới nhất là năm 1999 và 2003!!! Cuối cùng đành phải dùng phone để liên hệ bạn bè hỏi một số dữ liệu thô để xác minh lại lời của Bộ trưởng và Cục phó cục quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế.

Thôi thì đành lấy tạm con số cũ và kết hợp các tư liệu thô để mà viết. Dù chưa đúng nhưng nó cũng có chút gì khách quan hơn là cảm tính một vấn đề cần phải viết. Hai trường y lớn nhất nước ở Hà Nội và TPHCM trung bình mỗi năm đào tạo hệ chính qui khoảng 300 bác sĩ ra trường. Y Huế khoảng 200. Các trường khác trung bình khoảng 100. Như vậy với 14 trường y có đào tạo bậc đại học của cả nước, mỗi năm ra trường khoảng sấp sỉ 1.900 bác sĩ. Nhưng trong website bộ y tế theo thống kê cả nước chỉ có sử dụng 38.110 bác sĩ vào năm 1999. Không cần tính số bác sĩ được đào tạo trước 1975 ở cả 2 miền Nam - Bắc, bác sĩ chuyên tu đôn lên từ cái học thủng thẳng của ông Phạm Ngọc Thạch vẽ ra được đào từ 1975 đến năm 1989 bắt đầu đổi mới - Chỉ tính trong 20 năm gần đây, từ ngày cỡi trói số lượng bác sĩ ra trường cũng sấp sỉ con số 38.000, từ 14 trường y có đào tạo đại học. Vậy thì số còn lại họ làm gì? Ở đâu? Làm một bài tính ta sẽ thấy chúng ta đã lãng phí tài nguyên vô hình quá lớn. Hầu hết những học sinh vào trường y, không kể trường y thuộc hệ thống quân đội, thì điểm số thi cử cũng nói lên đây là chất xám thực sự của đất nước. Đặc biệt 3 trường y lâu đời nhất nước ở Hà Nội, Sài Giòn và Huế thì không ai có thể phản biện lại rằng những thí sinh vào đó bằng đường chính qui là thuộc loại "chuột chạy cùng sào" được.

Cái đáng buồn trong phân bổ bác sĩ ra trường không ở đâu giống như ở Việt Nam. Ở ngay các nước Đông Nam Á không ở đâu giống như ở ta là bác sĩ phải đi làm trình dược viên. Nếu tôi không nhầm thì trình dược viên trên thế giới chỉ cần tuyển một người tốt nghiệp phổ thông đào tạo marketing 6 tháng và một ít về sản phẩm cần bán là đi làm tốt (Tôi đã từng làm part-time job với chức danh Medical Advisor cho 1 hãng dược phẩm lớn hàng đầu thế giới vào Việt Nam những năm đầu cỡi trói kinh tế, nên tôi có đi họp và biết rõ việc này khi các đồng nghiệp trên thế giới cứ trố mắt nhìn vì ngạc nhiên là Việt Nam mình dùng chất xám ưu tú quá sang!!!). Số còn lại bỏ nghề đi buôn không ít, hoặc bỏ đất nước ra đi một phương trời khác tiếp tục lấy bằng tương đương, hoặc bỏ nghề đi làm nghề khác vì không thể theo đuổi nghề nghiệp đã từng đeo mang ở Việt Nam.

Ở các nước nếu bác sĩ làm cho hãng dược thì họ chỉ là người làm cô vấn chuyên môn thuê theo phi vụ đi nói chuyên môn về dược hoặc các hãng lớn thuê để nghiên cứu lâm sàng. Thế mà bác sĩ ở ta, những người được tuyển với tiêu chuẩn cao nhất của hệ thống đại học. Họ được đào tạo chính qui liên tục 6 năm đèn sách miệt mài với lâm sàng 4 năm với sách ta, sách tây đủ thứ ra trường rồi bỏ phí với cái công việc của một anh bán rau ở ngoài chợ không hơn, không kém!!!

Trong khi đó những bác sĩ được "đào tạo thủng thẳng" kiểu của ông Phạm Ngọc Thạch thì về nắm quyền lãnh đạo, cầm cân nảy mực cho vận mệnh của sự nghiệp chăm lo sức khỏe toàn dân, để thực hiện lời huấn dạy có tính duy tình: "thầy thuốc như mẹ hiền". Ở đâu cũng vậy, người càng ít học thì danh dự và lòng tự trọng càng thấp, nên không lạ gì khi ngành y Việt Nam càng dễ tha hóa.

Con số lấy được của tôi hôm nay ở một bệnh viện lớn nhất nước là thăm khám bình thường 30.000VND/lượt. Nếu khám theo yêu cầu là 70.000VND/lượt. Trong khi đó làm một siêu phẫu thì người phẫu thuật viên chính chỉ lãnh 100.000VND/case, đại phẫu là 75.000VND/case. Thế thì với số tiền được hưởng đó các thầy thuốc sẽ sống bằng gì khi làm một case siêu phẫu chỉ đủ để mua chưa được 1 đôi giày để mang? Và tiền để các bác sĩ làm nhà nước mua xe hơi đi từ đâu ra? Có người theo tôi biết vì tha hóa, có người đi làm nghề tay trái để kiếm sống vì danh dự. Thế thì làm sao họ có thể dốc hết tâm sức cho khoa học và cho người bệnh? Điều đó có đúng với những gì mà Bộ trưởng y tế và ông Cục Phó cục quản lý khám bệnh nói ra không? Có một sự sai số ghê gớm giữa những người quản lý tối cao của ngành y và thực tế cuộc sống do đâu?

Tại những trung tâm lớn thì thế, vậy những vùng sâu, vùng xa lấy gì để bác sĩ về tham gia công tác? Có phải vì thế mà họ phải đi làm trình dược viên? Một công việc tương đương với công việc của anh bán hoa quả ở các siêu thị của các nước lân bang?

Ngày tôi còn làm nhà nước còn nghe bảo: ban giám đốc thì ăn chia tiền xây dựng cơ bản, nhập trang thiết bị và dược. Phòng tổ chức bệnh viện thì ăn chia tiền đút lót nhận nhân viên mới. Các ban phòng khác thì ăn chia tiền giữ xe bệnh viện ... bác sĩ thì ăn trên bệnh nhân để tồn tại với sự đãi ngộ chưa đúng với lao động trừu tượng mà họ đã làm ra. Nên cuối cùng ai có cái tâm và có trình độ phải chịu đi ra khỏi hệ thống để tìm đúng sự đãi ngộ cho mình và làm đúng với lương tâm, lòng tự trọng mà mình đã có.

Trong quyền được làm người có hai quyền mà ở đâu trên thế giới cũng phải được tôn trọng như nhau đó là quyền được đi học và quyền được chăm sóc sức khỏe. Thế nhưng sự phân bổ về con người làm nghề, về đồng lương và về cung cấp trang thiết bị, đào tạo cho từng nơi của nước ta không bằng nhau. Có nên xem lại việc phân tuyến và việc phân bố nguồn vốn cho các địa phương để tạo ra một môi trường chăm sóc sức khỏe cho người dân tốt hơn không? Vì đào tạo bác sĩ thì như nhau, nhưng các bác sĩ "may mắn" xin được việc ở các bệnh viện lớn không vì trình độ mà vì "lý do khác" ở các trung tâm lớn thì được quyền làm những thủ thuật lớn hơn. Trong khi đó, những nơi được xem là "tuyến dưới" thì không được làm; mặc dù họ đã được đào tạo và làm được. Đó là việc ngành quản lý y tế Việt Nam cũng cần xem lại để góp phần giải quyết nạn quá tải của y tế ở tuyến trung ương. Theo hiểu biết của tôi thì nạn quá tải có 6 nguyên nhân sau:

1. Do phân bổ nguồn đầu tư không đồng đều của cách phân tuyến của ta.
2. Do quan điểm của lãnh đạo các bệnh viện đang quá tải cũng muốn tình hình quá tải tiếp tục xảy ra để kiếm nguồn cung cấp vốn rót từ chính quyền cho xây dựng cơ bản và trang thiết bị.
3. Cách tuyên truyền đến với người dân về chuyên môn của các tuyến dưới về mặt chính quyền chưa hoàn thành tốt. Nên người dân ai cũng muốn được chăm sóc sức khỏe với trình độ chuyên môn và trang thiết bị tối tân nhất đẫn đến quá tải ở các trung tâm lớn.
4. Do trình độ chuyên môn về mặt tiên lượng của các bác sĩ ở tuyến trên còn kém. Nên có tình trạng nhập viện và lưu bệnh quá yêu cầu bệnh tật làm sự sử dụng giường bệnh chưa hợp lý.
5. Một phần khác do tha hóa làm cho kéo dài số ngày nằm viện không cần thiết.
6. Trình độ quản lý của các lãnh đạo các bệnh biện ở Việt Nam còn rất kém.

Nếu tôi không nhầm thì ở các nước tiên tiến có những bệnh viện nằm ở xa  xôi hẻo lánh nhưng vẫn là trung tâm điều trị tốt nhất. Vì họ quan niệm bệnh viện là một khách sạn chuyên chăm sóc sức khỏe cho người bệnh. Nên các yêu cầu để một không gian xây dựng bệnh viện tối thiểu phải có: môi trường bệnh viện phải có không khí thoáng đản, không có tiếng ồn, có đầy đủ cây xanh, có đầy đủ ánh sáng và được xử lý tốt chất thải không gây ô nhiễm môi trường dân cư. Trong khi đó bệnh viện ở ta bệnh viện chen chúc nhau trong không gian chật hẹp của môi trường đông dân cư và đô thị ô nhiễm về tiếng ồn và cả không khí.

Để chứng minh cho những tha hóa, quan liêu và không khoa học trong quản lý ngành y Việt, tôi xin lấy ví dụ mới nhất, sống động nhất và đáng buồn cười là: hôm qua các "nhà y học quân đội" được sự phân công của bộ y tế đã họp tại một khách sạn ở Sài Gòn để làm một cuộc thẩm định về các bệnh nhân tâm thần đã được phẫu thụat tại bệnh viện đa khoa Bình Định mà tôi đã viết trong bài: Chữ Tâm hay chữ cường quyền? Tôi không hiểu một thành phố lớn như TPHCM lại không có một bệnh viện thuộc hệ thống quân y như bệnh viện 175 (Quân y viện Cộng Hòa cũ) để các "bác sĩ quân y" trong hội đồng khoa học tổ chức một cuộc thẩm định hay sao mà họ lại kiếm một khách sạn không có trang thiết bị y tế, để làm cuộc khám bệnh cho một công trình khoa học quyết định một chỉ định điều trị cho người bệnh? Ai sẽ bỏ tiền ra để thuê khách sạn cho các nhà "y học quân đội" trong "nghiên cứu và đánh giá khoa học" này? Đã thế cái khách sạn mà các nhà "y học quân sự" lấy làm nơi để "nghiên cứu và đánh giá" phẫu thuật cho bệnh nhân tâm thần lại có một tiền sử không tốt về kinh doanh, vì nó đã từng là một ổ mại dâm!!! Hay thật, các nhà khoa học  y học trên thế giới thì nghiên cứu trong những phòng Lab và bệnh viện, còn ở tổ quốc tôi thì những nhà "y học quân đội" thì lấy số liệu và nghiên cứu ở ...?

Đây chỉ vài dòng phát thảo những bất cập về phân bổ nguồn nhân lực và nguồn vốn cũng như sự đãi ngộ nghề y để mong rằng ngành y tế chúng ta có được những tư duy mới trong quản lý, mong rằng giúp ích cho người dân được công bằng trong chăm sóc sức khỏe ở mọi miền đất nước.

Friday, November 27, 2009

BỆNH LÝ TÂM THẦN YÊU XÁC CHẾT; CẦN XỬ LÝ

Lẽ ra không muốn viết bài này làm gì, khi đọc bài Ái tử thi của nhà văn Nguyễn Quang Lập, ngày hôm qua. Nhưng hôm nay ngồi tìm xem bài viết trên Vietnamnet như thế nào, thì lại thấy trên Vietnamnet có thêm một bài mới mà ông Lê Vân bảo rằng chuyện: Ôm xác vợ 7 năm là chuyện riêng của tui. Tôi mới giật mình khi báo đưa tin các cơ quan, chính quyền địa phương chưa hay biết gì. Và các cơ quan y tế cũng chưa lên tiếng. Thôi thì cũng lên tiếng để góp một chút cái gì đó cho xã hội tốt hơn.

Yêu xác chết được xem là một bệnh lý tâm thần. Nó được Hiệp hội tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association: APA) liệt vào cuốn Sổ tay thống kê và chẩn đoán về những rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders).

Theo thuật ngữ y khoa có đến 3 từ được xem là đồng nghĩa với nhau khi nói đến dạng rối loạn tâm thần này. Từ thường dùng là Necrophilia. Từ này có nguồn gốc của Hy Lạp do hai tiếp đầu ngữ Necro- có nghĩa là hoại tử, xác chết, chết, khô, mục... và tiếp vị ngữ -philia có nghĩa là yêu, thích... Số là từ này ở các thứ tiếng có nguồn gốc La tinh không đủ nên mượn để ghép vào trở thành thuật ngữ y khoa. Thuật ngữ y khoa thì rất nhiều. Đây chỉ là một trong hàng vạn từ cần biết. Ngoài từ necrophilia còn 2 từ nữa thường dùng có thể xem là đồng nghĩa với từ này là: thanatophilianecrolagnia. Nó được định nghĩa là một tình trạng bất thường về khát vọng yêu hoặc quan hệ giới tính với xác chết.

Như vậy, theo định nghĩa trên có 2 tình huống xảy ra ở những người được xem là có bệnh lý này:
1. Là sự thay đổi bất thường về khát vọng yêu với xác chết.
2. Là sự thay đổi bất thường về quan hệ tình dục với xác chết.
Chỉ cần 1 trong 2 điều trên thể hiện được xem là mắc bệnh tâm thần loại này. Nhưng, khi nào thì được xem là bệnh lý mới là quan trọng? Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của APA thì tình trạng này kéo dài 6 tháng trở lên là xem như một tình trạng bệnh lý. Dù người mắc bệnh có tư duy sáng suốt và làm ăn, sinh sống bình thường. Và bệnh lý tâm thần này thuộc lĩnh vực pháp y tâm thần (Forensic Psychiatry).

Như tôi đã viết trong bài: Chữ Tâm hay chữ cường quyền là: "Tâm thần học là ngành dựa trên triết học và tâm lý học để làm ra lý thuyết căn bản cho nó. Một người được chẩn đoán là tâm thần khi mọi hành vi và tư duy của người đó không phù hợp với văn hóa sống với cộng đồng mà người đó hiện sống. Và trong mỗi con người bình thường không bị bệnh tâm thần đều có ít nhất từ 1 đến vài, thậm chí đến 50% triệu chứng của một bệnh tâm thần cụ thể nào đó. Nhưng mọi hành vi và tư duy của người đó vẫn còn hòa nhập với cộng đồng xung quanh thì vẫn là người bình thường."

Qua báo chí, ông này đã ngủ với xác chết của vợ những 7 năm. Thậm chí ông Vân còn làm con trai út của mình lây cái chứng rối loạn tâm thần của mình, khi cháu bé cũng ôm xác mẹ ngủ! Và ông ta còn bảo là ông ôm xác chết của vợ là chuyện của ông. Như vậy là phạm luật. Vì ông ta có 2 vấn đề không đúng:
1. Cái sai thứ nhất là làm ô nhiễm môi trường sống khi mang xác chết về nhà sống chung với mình và với cộng đồng những 7 năm. Về mặt y học, khi một cơ thể đã chết đi, ban đầu các vi sinh vật hiếu khí (vi sinh sống nhờ oxy) sống bám vào cơ thể sẽ chết theo. Nhưng vi sinh vật yếm khí (vi sinh sống không cần oxy) sẽ sinh sôi và sau đó, vi sinh hiếu khí sẽ phát triễn tiếp theo làm hoại tử và phân rã xác chết. Nếu tôi nhớ không lầm là qui định của nhà nước chỉ cho phép người chết được lưu lại 1 khoảng thời gian nhất định trong quan tài trước khi chôn hay thiêu.
2. Ông này mắc một cái sai thứ hai là làm sai luật về qui định phải chôn hoặc thiêu hủy xác chết sau khi chết và về mặt khoa học là ông mắc bệnh tâm thần yêu xác chết, nhưng vẫn bảo là chuyện của ông, không mớ gì mọi người quan tâm.

Thiết nghĩ bên ngành Tâm thần pháp y phải nên tham gia vào việc này để trước hết là điều trị chứng bệnh của ông Lê Vân và sau nữa là đem chôn hoặc thiêu cái xác vợ ông để giữ gìn tốt cho môi trường sống mới đúng. Không biết khi nào thì ngành tâm thần pháp y của tỉnh Quãng Nam hoặc của Trung Ương mới vào cuộc? Nhưng, trước hết chính quyền địa phương cần cô lập xác chết và giải thích cho ông Vân hiểu vấn đề để chờ quyết định của pháp y.

Nên lắm,

Wednesday, November 25, 2009

NGÀNH Y VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN V: ĐÀO TẠO

Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quan niệm 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Mục tiêu 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Bảo hiểm y tế 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Phân bổ và đãi ngộ 

Khi nói đến những thay đổi ngành y Việt Nam mà không nói đến sự cần thiết về thay đổi đào tạo là một thiếu sót lớn. Sự thay đổi đào tạo ngành y Việt Nam hiện tại không chỉ nằm ở bậc đại học mà còn cần quan niệm liên quan đến thay đổi ở bậc trung học, tuyển sinh và nguyên tắc đào tạo. Vì là bác sĩ y khoa không chỉ đơn thuần làm nghề y chữa bệnh mà còn là một nhà tâm lý để chữa tâm bệnh cho người bệnh. Có nhiều nguyên nhân bệnh lý mà cho tới hôm nay y học vẫn cho là nguyên nhân do chấn thương tinh thần (stress) gây ra.

Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả miền Nam Việt Nam trước 1975, không có trường y nào tuyển sinh từ học sinh phổ thông. Vì đã tốt nghiệp trường y là lấy tấm bằng sau đại học. Nên ở Mỹ và các nước tiên tiến, các trường y  (College of Medicine) được xếp vào loại Graduate School, tức là trường chỉ nhận những sinh viên đã có bằng cử nhân. Dù thí sinh đó đã tốt nghiệp bất kỳ một cử nhân nào và đã đi làm chưa không cần biết, nhưng miễn sao thí sinh trãi qua kỳ thi MCAT (Medical College Admission Test) và có đủ tiền đóng học phí (vì trường y ở Mỹ không có chuyện đào tạo chay, ngoại trừ thí sinh đó đủ sức thần đồng nộp hồ sơ để học chương trình double majors: MD/PhD cùng 1 lúc, thì học mới không tốn tiền), và 1 số yếu tố khác tùy trường y yêu cầu thì có quyền được nộp hồ sơ tuyển sinh vào trường y. Càng không là thí sinh thuộc các ngành liên quan đến khoa học cơ sở cho y học thì càng dễ dàng được tuyển vào trường y, nếu bạn vượt qua kỳ thi MCAT và vòng interview của trường y. Ví dụ: giữa 1 thí sinh là cử nhân Piano hoặc kỹ sư  công nghệ thông tin ... và một thí sinh là cử nhân Sinh học cùng có số điểm thi MCAT bằng nhau khi nộp hồ sơ vào một trường y của Mỹ thì hội đồng tuyển sinh sẽ ưu ái nhận thí sinh cử nhân Piano hoặc kỹ sư CNTT hơn là nhận cử nhân Sinh học!!! Đó là một điều đặc biệt mà không phải ở nơi đâu cũng có như Mỹ. Đó là chưa nói đến chuyện để trỡ thành phẫu thuật viên, sinh viên trường y của Mỹ phải là hàng top ten của trường mới được chọn. Vì người Mỹ quan niệm, trước khi làm phẫu thuật viên (bác sĩ ngoại khoa) phải là người am hiểu nhất về nội khoa. Và còn nhiều điều mà ngành đào tạo y khoa Việt Nam cần phải học hỏi.

Còn đối với miền Nam trước 1975 thì cũng khác bây giờ trong tuyển sinh vào y khoa. Trước khi vào trường y thí sinh phải trải qua 1 năm học ở đại học khoa học để lấy chứng chỉ SPCN (Science, Physics, Chemisty, Natural) hoặc MPC (Mathematics, Physics, Chemistry). Sau khi lấy xong một trong hai chứng chỉ này rồi thí sinh mới nộp hồ sơ tuyển sinh vào trường y. Có nghĩa là trường y không tuyển sinh thẳng những thí sinh từ phổ thông trung học lên. Để làm gì? Để chọn ra những thí sinh có đủ năng lực về khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội. Vì làm nghề y không chỉ chữa bệnh thể xác mà còn chữa cả bệnh về mặt tinh thần (tâm bệnh). Để thí sinh y khoa có cái nhìn toàn diện về khoa học cả tự nhiên và xã hội. Việc đào tạo thí sinh không chỉ dừng ở chỉ riêng một trường phái triết học như ở ta bây giờ ngay từ phổ thông hoặc ngay đại học là triết học Marx-Engels mà hầu hết cả 2 nhóm triết học Đông phương và triết học Tây phương đã được đào tạo từ lúc còn là năm lớp 12 (tú tài II), năm lớp 12 trước 1975, môn văn không cần học nữa mà thay bằng triết Đông và Tây. Nói đến điều này làm tôi nhớ đến khi đi thi môn Vi sinh học (Microbiology) hồi năm thứ hai trường y thành phố Hồ Chí Minh sau giải phóng. Ông giáo sư cho 1 câu trắc nghiệm như sau:
Khi các bạn đi thi môn này hôm nay, các bạn đã bước lên thang lầu vào phòng thi (trước cửa bộ môn có 1 cầu thang đi lên, vì bộ môn nằm ở tầng lầu 1), cầu thang ấy có bao nhiêu bậc (kể cả nhịp cuối cùng lên tầng lầu):
A. 19 bậc.
B. 20 bậc.
C. 21 bậc.
D. 22 bậc.
Hầu hết ai cũng làm sai, chỉ có một vài bạn trả lời đúng câu này. Khi sinh viên phản đối giáo sư bảo rằng: "Chúng tôi đang đào tạo các bạn trở thành những con người có óc quan sát, vì các bạn sẽ trỡ thành một nhà khoa học tương lai. Tại vì gạo bây giờ bán theo giá cửa hàng, nên tôi bỏ đi câu hỏi gạo hôm nay giá bao nhiêu. Gà hôm nay giá bao nhiêu 1 kg đấy các bạn." Nhưng rồi sau đó, kiểu câu hỏi này mỗi ngày mất đi ở trường y. Vì có một số cán bộ giảng trường y từ Bắc vào không đồng ý với loại câu hỏi như vậy mà chỉ được hỏi thuần túy về chuyên môn! Thực lòng tôi thấy tiếc cho việc này.

Một điều thứ hai mà tôi thấy tiếc là việc học y mà không được đào tạo Phân Tâm học của  Sigmund Freud và cả các trường phái triết học khác là một điều thiếu sót lớn. Vì trường phái triết học Marx-Engels chỉ đơn thuần có duy vật biện chứng là cần cho khoa học. Hai bộ phận còn lại Marx làm ra từ việc ngồi trong thư viện 20 năm, vợ nuôi và bắt đầu từ phát kiến từ "giá trị thặng dư" mà thời đó giới tư sản đã bóc lột sức lao động của người làm công một cách tàn bạo. Nên ở 2 bộ phận này Marx thuần túy cổ súy loài người là "muốn có hạnh phúc phải đấu tranh", điều này rất thiếu nhân bản. Làm nghề y, cần người thầy thuốc nhân bản hơn người bình thường. Nên cần phải đào tạo người thầy thuốc tương lai cái nhân bản cần có. Nên không thể một thầy thuốc mà chỉ có biết Marx-Engels được. Như thế là đi không bằng hai chân mà chỉ đi một chân, đi lệch. Không trách tại sao, thầy thuốc Việt Nam ngày càng yếu kiến thức và yếu cả đạo đức nghề nghiệp.

Có bạn quen bảo rằng thấy đau lòng khi nghe tôi kể một sinh viên bị tác dụng phụ của thuốc tự mua uống. Tôi bảo nhập viện điều trị không nghe và có thể mù lòa và suy thận mãn chạy thận nhân tạo suốt đời. Tôi bảo: giáo dục như vậy, pháp luật như vậy thì chỉ có thể tạo ra những thế hệ thiếu một trí tuệ mẫn tiệp và không thể có một sức khỏe cường tráng được. Chúng ta không thể trách các cháu, mà phải tự trách thế hệ chúng ta đã tạo ra con cháu chúng ta như thế.

Một điều quan trọng nữa là ngành y Việt Nam đã kéo dài quá lâu chương trình đào tạo chuyên tu. Tức là một học viên y tá có thể trỡ thành bác sĩ, nếu chịu học các chương trình chuyên tu mà nhà nước đã và đang áp dụng. Theo hiểu biết của tôi, chương trình chuyên tu là do ông Phạm Ngọc Thạch cổ súy vì thời đó chiến tranh, nước mình còn lạc hậu, thiếu người có học đến hết bậc phổ thông như bây giờ. Trong khi chiến trường thiếu người làm y tế. Nên đào tạo cấp tốc ở địa phương, rồi vào chiến trường vừa chiến đấu, vừa đào tạo để đáp ứng chiến tranh. Nhưng chiến tranh đã qua hơn 1/3 thế kỷ chúng ta vẫn tiếp tục đào tạo chương trình này. Không biết vì lý do gì? Nếu vì lý do quản lý không có thành phần trung kiên với đảng, giữ chương trình này để kiếm cán bộ quản lý thì là một sai lầm đáng tiếc. Vì quản lý không cần phải hôc đến cái bằng bác sĩ, mà quản lý cần có bằng quản lý như tôi đã nói trong bài Năng lực khoa học và năng lực lãnh đạo. Và ngay cả bác sĩ chuyên tu như lâu nay cũng không thể có năng lực khoa học để chăm lo sức khỏe cho người dân. Vì chương trình học y sĩ không được học khoa học cơ bản trong ngành y đầy đủ, thì với cái nền không có móng làm sao xây được tòa nhà vững chắc? Chỉ có giết người thôi, biết gì mà chữa bệnh?

Theo hiểu biết của tôi, thì không có ở đâu trên thế giới này lại có cái chuyện đào tạo y tá rồi thủng thẳng học tiếp để mai sau thành bác sĩ như ở ta. Thế giới này chỉ có đủ năng lực thì học ra bác sĩ, không đủ thì học ra y sĩ, không đủ nữa thì ra y tá. Từ y tá không thể lên y sĩ và từ y sĩ không thể lên bác sĩ. Nếu y tá có muốn học nữa thì lấy cử nhân y tá, hoặc thạc sĩ y tá (bây giờ gọi là điều dưỡng) chứ muôn đời không có chuyện "tu nghiệp" để nâng cấp lên thành bác sĩ!!! Cũng giống như tôi đã viết trong bài Chuyện thầy tôi và chuyện nhân văn. Anh không có tú tài thì khi đi lính, anh suốt đời là thượng sĩ già. mà không thể thành sĩ quan! Và cũng vì thế mà ở nước ta tiến sĩ y khoa có nguồn gốc từ y tá 6 tháng cấp tốc được tu nghiệp ra đường đông như trấu. Có tiến sĩ còn phải hợp thức hóa cấp tốc từ y tá để chuẩn bị cơ cấu cán bộ nắm vận mệnh sức khỏe tòan dân.

Cũng chưa có nước nào có cái kiểu đào tạo kỳ quặc là đã tốt nghiệp bác sĩ rồi mà phải quay lại học thạc sĩ như ta. Câu chuyện này, phải nhớ đến "cái công" cải cách giáo dục theo kiểu giật gấu vá vai của cựu phó thủ tướng Nguyễn Khánh, của chính phủ thời cụ Võ Văn Kiệt, sau khi ông Khánh đi tham quan các universities của phương Tây về làm một một cuộc cải cách giáo dục vô tiền khoáng hậu, không giống ai. Tất cả mầm móng sai đường bắt đầu từ sự chóang ngợp của ông khi đi tham quan. Cần xem lại điều này nếu muốn y học nước nhà tốt đẹp hơn, khi ngày nay ai cũng khoe mình là thạc sĩ y khoa, tiến sĩ y khoa, nhưng không biết nghiên cứu, chỉ biết làm bậy và làm sai nhan nhãn trong đời sống xã hội.

Ba vấn đề nhức nhối trong đào tạo y khoa nước nhà có lẽ đã góp phần không nhỏ trả lời tại sao ngành y Việt Nam bây giờ lắm thợ mổ và thợ thuốc hơn là thầy phẫu thuật và thầy thuốc. Đồng thời nó cũng góp phần không nhỏ về việc tha hóa trong ngành y Việt Nam. Mong rằng các nhà vạch ra sách lược, chiến lược cần bổ sung cái cần bổ sung và cần dứt bỏ cái cần dứt bỏ càng sớm thì tội lỗi với dân tộc càng ít vậy. Tôi viết ngắn, mong hiểu nhiều, nếu muốn dân Việt có một tư duy mẫn tiệp và một sức vóc như Thánh Gióng trong tương lai.

Mong lắm,

Monday, November 23, 2009

NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN IV: BẢO HIỂM Y TẾ

 Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quan niệm 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Mục tiêu 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Đào tạo 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Phân bổ và đãi ngộ

Sau khi hoàn thiện về mặt quản lý y tế, thì thành trì cuối cùng để chống tham nhũng trong ngành y là hệ thống bảo hiểm y tế. Trong các loạt bài trước tôi đề cập đến cải cách ngành y Việt Nam qua 3 vấn đề: quan niệm, mục tiêukhoa học quản lý. Tuy bảo hiểm y tế là một lĩnh vực trong hệ thống quản lý ngành y. Nhưng về mặt vĩ mô, nó là một vấn đề lớn mà cả thế giới đang đau đầu nhức óc vì nó. Ngay cả Mỹ, dù có một mạng lưới y học tốt về chuyên môn và quản lý, nhưng hễ cứ mỗi lần phe dân chủ lên nắm quyền là một lần phải có chương trình cải cách y tế. Mọi sự cải cách đều xoay quanh vấn nạn tham nhũng và thâm hụt vì bảo hiểm y tế mà thương viện Mỹ mới vừa thông dự luật cho nó qua ngay ngày cuối tuần rồi. Nước Mỹ đi đầu trong việc cho người làm công chỉ làm việc 5 ngày trong tuần, bây giờ họ lại tiếp tục cho người làm việc hành chánh làm việc 4 ngày mỗi tuần để giảm thiểu tiêu tốn năng lượng vì đi lại. Nhưng, một điều đáng học hỏi ở họ là Quốc hội, Thượng, hạ viện luôn làm việc suốt tuần hoặc suốt ngày đêm đến khi nào xong việc cấp bách cho quốc gia dân tộc. Và một trong những hành động đó được minh chứng qua việc thượng viện Mỹ phải họp suốt cả ngày nghỉ tuần qua để có sự đồng thuận mà ông Obama đề ra việc cải cách ngành y tế, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm y tế đả ngốn hằng năm đến 17% GDP của họ. Theo thống kê của năm 2008, GDP của Mỹ là 14.440 tỷ USD. Tỷ lệ này góp phần không nhỏ đến sự thâm hụt ngân sách Mỹ trong suốt 60 năm qua. Các bạn cứ nghĩ mà xem, chỉ cần con số lẻ chi tiêu y tế của Mỹ cũng đã bằng GDP của 86 triệu dân Việt Nam mình làm ra trong năm 2008, trong đó có cả tiền kiều hối gửi về cho thân nhân, đầu tư nước ngòai vào Việt Nam, vay nợ ODA và tiền bán tài nguyên thiên nhiên ban tặng!!!

Nhìn chung, chỉ có 4 loại mô hình bảo hiểm y tế đang sử dụng trên toàn thế giới dưới hình thức phi lợi nhuận như sau:
1. Loại mô hình của cố thủ tướng Đức Otto von Bismarck: tư nhân lo toàn bộ và phi lợi nhuận, nhà nước chỉ lo cho người nghèo và người về hưu.
2. Loại mô hình do vương công William Beveridge lập ra từ năm 1942: nhà nước lo hoàn toàn thông qua British National Health Services(BNHS). Bệnh viện tư và BS tư vẫn hoạt động, nhưng vẫn thông qua BNHS để người dân sử dụng bảo hiểm y tế của mình.
3. Mô hình bảo hiểm y tế quốc gia của Tommy Douglas lập ra năm 1944 cho Canada: dành cho xã hội có dịch vụ y tế là do tư nhân cung cấp, nhưng mọi loại hình và phí bảo hiểm y tế do chính phủ thành lập và kiểm soát oàn toàn phi lợi nhuận. Nó giống như nhà nước và nhân dân cùng làm.
4. Mô hình ăn bánh tự trả tiền: Tức người dân có bệnh thì khi khám chữa bệnh ở bất kỳ nơi nào cung cấp công hoặc tư và tự móc ví để trả tiền mà không cần thông qua các tổ chức bảo hiểm y tế.

Thông qua đó, mỗi nước đều có cách để áp dụng cho riêng mình, tùy theo hoàn cảnh mỗi nước mà kết hợp các mô hình với nhau hoặc đơn thuần một mô hình. Nhưng có 1 điều quan trọng là bảo hiểm y tế được tạo ra trên quan niệm PHI LỢI NHUẬN.

Phải nói rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của nhiều tư tưởng của nhân loại góp phần vào cả hai mặt cả tốt lẫn xấu cho sự thịnh vượng, phát triễn và kể cả làm khổ loài người. Trong đó, người Đức luôn là người tiên phong cho ra những ý tưởng này. Bên hệ thống Triết học có một loạt các ông: Feuerbach, Hegel, Engels rồi Marx, ... Còn bên quản lý y tế có cố thủ tướng Otto von Bismarck đưa ra  mô hình bảo hiểm y tế năm 1883, để cố gắng đưa các nước Phổ nhập vào Đức như ngày nay. Ông không chỉ có công thống nhất các quốc gia riêng lẻ thành nước Đức ngày nay, mà ông còn là cha đẻ của ngành bảo hiểm y tế thế giới khi ông đưa ra luật bảo hiểm y tế cho toàn dân nước Đức cho đến ngày nay. Dù ngày nay, hệ thống y tế của Pháp được xem là hệ thống tối ưu nhất, nhưng người Pháp cũng phải thừa nhận là đã copy và paste về lĩnh vực bảo hiểm y tế của Đức, có sửa chữa để tối ưu nhất. Nhưng dù có tối ưu thì bất kỳ mô hình nào cũng có kẻ hở để những con người tha hóa tìm ra để bòn rút tiền bạc. Còn tôi thì tôi vẫn thích mô hình của Canada do Tommy Douglas lập ra.

Thế thì tham nhũng xảy ra ở đâu khi có sự hoàn thiện từ quản lý đến cung cấp dịch vụ? Tham nhũng sẽ xảy ra như dạng này ở bất kỳ đâu. Theo hiểu biết của tôi là loại tham nhũng này là loại cò con, mới xuất hiện sau khi người Việt di dân đi khắp thế giới. Còn trước đây, loại tham nhũng về bảo hiểm y tế là loại có kết hợp giữa các công ty dược với các tập thể người làm ngành y kê đơn khống đề lãnh thuốc ra bán ở chợ thị trường tự do, hoặc dùng kê toa để lãnh tiền bảo hiểm khi cần đi du lịch, v.v... Còn đối với những mô hình của Tommy Douglas dùng cho Canada thì tham nhũng sẽ xảy ra với sự kết hợp của cán bộ quản lý và kiểm soát bảo hiểm y tế và các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ. Họ chia nhau % lợi nhuận của dịch vụ y tế và nâng giá dịch vụ lên phù hợp với mức chia, dù tất cả đều ứng trên quan niệm nhân đạo và phi lợi nhuận.

Tóm lại, mặc dù các nhà xã hội học đã cố gắng đưa ra nhiều mô hình bảo hiểm y tế để tìm được sự hoàn hảo. Nhưng vì con người là một bài toán vô vàn nghiệm ẩn trong đầu, nên việc kiểm soát bằng luật lệ chặt chẽ là điều phải cần làm. Bài viết này chỉ có tính tổng quát và cho cái nhìn quản lý tham nhũng trong các mô hình bảo hiểm y tế trên toàn thế giới. Không có tham vọng đi sâu từng mô hình của bảo hiểm y tế, ngoài việc đưa ra điều gì cao xa hơn những cảnh báo về tham nhũng trong bảo hiểm y tế.

Một tuần mới sức khỏe và hạnh phúc,

Sunday, November 22, 2009

XEM CUỘC THI HOA HẬU QUÍ BÀ

Một cuộc chơi lớn không thể đi bằng đôi chân đất.

Saturday, November 21, 2009

NGÀNH Y VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN III: QUẢN LÝ

Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quan niệm 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Mục tiêu 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Bảo hiểm y tế 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Đào tạo 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Phân bổ và đãi ngộ

Lẽ ra bài này được viết ngày hôm qua 20/11. Nhưng vì phải viết cho thầy, nên làm nó chậm lại đến ngày hôm nay. Hơn nữa, sau loạt bài Hạt sạn trong quản lý và Phần 1: Quan niệm với Phần 2: Mục tiêu trong loạt bài Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì? Thì ngay hôm qua BBC đã có phỏng vấn ông tiến sĩ Trần Tuấn, đương kiêm giám đốc trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng về vấn đề nhập nhằng trong lĩnh vực y khoa, trong cuộc họp về chủ đề "tham nhũng trong y tế" được tổ chức trong năm nay. Trong đó ông Tuấn có phát biểu: "Phải có bộ phận độc lập với nhà nước, ở xã hội dân sự, có chuyên môn để thực hiện phần giám sát, đánh giá chất lượng dịch vụ". Thiết nghĩ, cũng không nên bàn luận nhiều và đưa ra phương pháp quản lý làm sao để cho ngành y Việt Nam tốt hơn hiện tại. Vì dù sao, một tập thể lớn của nhà nước vẫn sáng suốt và tốt hơn bởi tư duy của một cá thể.

Ở bài này tôi chỉ bàn thêm một vài điểm quan trọng đứng trên phương diện triết học Marx-Engels nhìn về quản lý vĩ mô. Theo hiểu biết của tôi, trong 3 bộ phận triết học Marx - Bộ phận duy vật biện chứng mà Engels đã có công đúc kết từ trường phái chủ nghĩa duy vật do Ludwig Andreas Feuerbach  và trường phái Phép biện chứng do Georg Wilhelm Friedrich Hegel - là bộ phận có giá trị về mặt lý luận. Ở đây, tôi xin phép không nhắc đến phần Kinh tế chính trị học của ông Lenin phát triễn từ bộ phận duy vật lịch sử của Marx, vì cho tới giờ này nó đã được chứng minh là duy ý chí và sai lầm trong vận dụng triết học để đưa ra hình thái xã hội cho chính trị học thông qua sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1990.

Thế thì ta cần gì ở bộ phận duy vật biện chứng mà Friedrich Engels đã tặng cho Karl Marx? Khi ông Trần Tuấn phát biểu câu mà tôi đã tô đậm ở trên là ông đã nói lên điều mà phép biện chứng của trường phái Hegel được Engels tập hợp lại với chủ nghĩa duy vật của trường phái Feuerbach trong 3 qui luật: qui luật lượng và chất(còn gọi là qui luật chuyển hóa), qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập(còn gọi là qui luật mâu thuẩn) và qui luật phủ định của phủ định. Tức là: một xã hội có đối lập và biết thống nhất các mặt đối lập đi đến đồng thuận một cách biện chứng thì lượng mới tích đủ đế thay đổi chất. Và lúc đó xã hội mới phát triển tốt một cách cân bằng và đồng bộ.

Ngành y Việt Nam cần một tổ chức dân sự, độc lập với nhà nước, có chuyên môn như ông Trần Tuấn đã nói. Nhưng độc lập và dân sự như thế nào thì mới là vấn đề đáng bàn luận. Đã nói là độc lập thì phải hoàn toàn không có sự tham gia của bất kỳ chức danh hay hàm vị nào trong chính trị và hoàn toàn dân sự thì mới đủ để nói tiếng nói trong sáng khi kiểm tra và giám sát dịch vụ y tế, như tôi đã viết trong bài Hạt sạn trong quản lý. Hình thái mà ông Trần Tuấn đề ra trong quản lý y tế Việt Nam tương lai là hình thái mà thế giới và VNCH đã làm. Bây giờ làm lại, không có gì mới. Chứng tỏ nó hoàn hảo hơn hình thái quản lý y tế mà chúng ta đang làm.

Nhưng, nếu áp dụng cái mà tôi đã nếu lên và ông Trần Tuấn nhắc lại trong bài phỏng vấn của BBC thì đi ngược lại tôn chỉ của đảng và không đúng với chủ trương của đảng là đảng phải lãnh đạo và nhà nước phải quản lý. Như vậy, độc lập thì độc lập như thế nào? Và tổ chức dân sự, độc lập với nhà nước có được không? Nếu độc lập được thì có được quyết định không hay phải hỏi lại đảng và nhà nước? Và nếu không độc lập được thì tốt hơn hay xấu hơn? Hay là dù có lập ra thêm một tổ chức mới để tốn thêm lương, tốn thêm chi phí thì Vũ Như Cẩn?

Và cuối cùng, nếu ta vẫn giữ cách lãnh đạo và quản lý như lâu nay thì làm sao áp dụng được phép biện chứng của bộ phận duy vật biện chứng trong quản lý - Khi xã hội không có đối lập, không có mâu thuẩn và không làm động lực cho quy luật lượng và chất diễn ra? Câu hỏi này không chỉ cho ngành Y mà cho toàn bộ các ngành của xã hội Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Vài lời lạm bàn cuối tuần,

Friday, November 20, 2009

CHUYỆN THẦY TÔI VÀ CHUYỆN NHÂN VĂN

Khi ta bước đến giai đoạn xế bóng, ta thường muốn tìm về tuổi thơ. Vì tuổi thơ, ở đó có sự vô tư không vụ lợi. Vì ở đó cũng có những người thầy, cô thật đáng kính. Vì ở đó có những người thầy, cô nắn cho ta từng nền móng để bước đi trên con đường công danh, không thể nào quên.

Hồi đó ở miền Nam, muốn thành sĩ quan thì ít nhất phải tốt nghiệp tú tài I(lớp 11 bây giờ). Còn nếu không được tú tài I thì muôn đời là anh thượng sĩ già. Ngẫm lại cái tiêu chuẩn này cũng là một cái tốt, nên hầu hết sĩ quan ở miền Nam thời đó trông rất uy nghi và đàng hoàng. Dĩ nhiên ở đâu cũng có người xấu, người tốt. Sĩ quan chế độ VNCH cũng có những người tha hóa. Nhưng đa phần các sĩ quan quân đội VNCH ngày ấy đều trọng danh dự vì họ có học, mà thời đó có học thì hầu hết xuất thân từ gia đình danh gia vọng tộc.

Ngày tôi còn học tiểu học, đất nước trong khói lửa chiến tranh. Hầu hết các thầy ở miền Nam phải vào quân dịch vì lệnh tổng động viên. Hồi đó, người ta gọi những thầy giáo vào quân dịch là "Sĩ quan biệt phái". Nghe chữ biệt phái ai cũng thấy nó là cái gì đó ghê gớm lắm. Nhưng thực ra nó chỉ nói lên là những người làm nghề khác, có trình độ, không phải trong quân đội, nhưng vì lệnh tổng động viên, nên phải vào quân đội. Nhưng vẫn phải làm thầy giáo và khi lên lớp có thể mặc đồ quân đội.

Nếu nhìn đúng về các sĩ quan biệt phái thời đó thì cũng giống như sĩ quan dự bị của thời bây giờ. Sĩ quan dự bị bây giờ chỉ là tấm giấy cấp của hiệu trưởng của một trường quân đội thuộc một quân khu trao cho những học viên tốt nghiệp một đại học khác, nhưng được chọn vào học khóa sĩ quan dự bị, để nếu đất nước có chiến tranh thì sẽ tham gia. Còn không thì vẫn làm dân sự. Chỉ có sự khác nhau giữa sĩ quan dự bị bây giờ và sĩ quan biệt phái hồi xưa ở miền Nam là khi đi làm một bên không mặc đồ lính và một bên là phải mặc đồ lính để hun đúc tinh thần học trò.

Thế nhưng, sau 1975 thầy tôi bị đi học tập cải tạo cũng chỉ vì cái từ "biệt phái". Nhưng khi tra từ thì tôi thấy nó không có gì là ghê gớm như những gì người ta áp dụng với thầy tôi. Cuộc đời tôi, người tôi khắc ghi mãi trong tâm khảm là thầy. Hồi đó thi đệ thất (lớp 6 bây giờ) là một cuộc thi quan trọng của đời một học sinh. Thầy không chỉ dạy chúng tôi tư duy độc lập và logic mà thầy còn uốn nắn chúng tôi từng nét chữ. Chỉ vì chữ tôi viết ngày ấy rất xấu. Ngay cả tôi đọc lại những gì mình đã viết còn không đọc được! Sau khi qua học thầy chỉ 1 năm chữ tôi trỡ thành chữ để viết báo tường.

Bi kịch gia đình thầy bắt đầu từ sĩ quan biệt phái. Trong hoàn cảnh học tập cải tạo thầy hay làm thơ để nhớ về gia đình. Trong số những bài thơ ấy, có một bài có tên là: "Dép ngược". Lâu quá tôi không còn nhớ rõ hết các khổ thơ. Tôi chỉ còn láng máng nhớ khổ thơ cuối cùng:
"...Bố nhớ con nhiều lắm bé ơi
Con mang dép ngược, bố la hoài
Bên này chân phải thành chân trái
Chân lý! Trời ơi! Cũng thế thôi!"
Từ bài thơ này thầy tôi đã bị kết án đến tử hình rồi hạ xuống còn chung thân và bị tịch thu toàn bộ gia sản, trong đó có một ngôi trường tư thục mà thầy đã mở trước năm 1975. Nhưng sau khi dự vụ án thầy ở mức tử hình là tôi xa quê lo chuyện công danh. Trong thâm tâm tôi là thầy đã mất, vì không biết tin thầy đã được giảm án chung thân cho lần phúc thẩm sau. Thời ấy, tất cả đều tranh tối tranh sáng, chuyện của thầy là chuyện thường ngày. Có khi là chuyện ân oán cá nhân. Khác với bây giờ mọi việc rõ ràng hơn và chuyện thầy tôi, nếu xảy ra bây giờ chắc không trầm trọng như thế.

Năm rồi về quê, gặp lại thầy vừa mới ra tù, vừa mừng, vừa tủi. Hỏi chuyện gia đình thầy, thì 5 người con của thầy đều tan đàn lẻ nghé, học hành không đến nơi, đến chốn. Thậm chí có đứa phải làm nghề bị xem là không tốt (dù biết rằng chỉ có người hèn chứ nghề không hèn). Thầy nhờ tôi nếu có thể xin chính quyền lấy lại dùm ngôi trường tư thục mà thời trước 1975 thầy xây dựng để thầy có chỗ kiếm sống. Tôi cố gắng hỏi han bạn bè và tìm hiểu, nhưng mọi cách đều bất khả thi. Vì trường của thầy ngày xưa đã được quốc hữu hóa và trở thành một trường mầm non công lập.

Tôi chỉ biết an ủi thầy tất cả là định mệnh. Định mệnh của một cá thể lồng trong định mệnh của một dân tộc. Thôi thì ráng sống cho xong một kiếp người. Khi con người ta không còn tin vào khả năng của mình, người ta giao niềm tin vào một chỗ khác mơ hồ và không căn cứ, để tự an ủi mình. Đó là điều tất nhiên, để con người ta còn đủ nghị lực sống và hy vọng có ngày mai tốt đẹp.

Câu chuyện thế mà ngót mãi hơn 30 năm. Ba mươi năm chỉ là một quãng thời gian rất ngắn so với lịch sử một dân tộc. Nhưng ba mươi năm là 1/3 đời một con người. Cũng chỉ vì một danh xưng bị hiểu nhầm và sự ra đời của một bài thơ.

Dân tộc chúng ta đã trải qua những giai đoạn bi kịch, nhưng có lẽ bi kịch nhất là cuộc Nam Bắc phân tranh của thế kỷ XX. Chưa ở đâu trên trái đất này có cuộc tang thương tốn kém về con người, nhân văn, tiền bạc, chất độc hóa học và bom đạn như cuộc tang thương này.

Kể cả 2 cuộc chiến tranh thế giới cộng lại cũng không thể bằng. Vậy thì tại sao sau cuộc tang thương đó chúng ta không biết yêu thương nhau hơn? Ngược lại, sau cuộc tang thương đó, chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta lại có một cuộc di dân bỏ nước ra đi nhiều như vậy. Và cho đến hôm nay vết thương của cuộc tang thương này vẫn chưa lành miệng, khi chúng ta vẫn còn tan đàn lẻ nghé với những chiều tư tưởng khác nhau. Dù nhà nước đã nhiều lần kêu gọi sự đồng thuận. Có lẽ đó cũng là định mệnh?

Thế kỷ XXI là thế kỷ của sự tranh giành lương thực và năng lượng. Tại sao dân tộc ta vẫn còn mãi ngồi để tranh giành nhau về ý thức hệ? Sao chúng ta không biết ngồi lại với nhau bằng tình thương và sự đồng thuận?

Có nên chăng nhà nước phải nhìn lại mình và những người con tha phương có ý thức hệ khác cũng cần nhìn lại mình, để cùng ngồi lại với nhau bên bóng của lịch sử ngàn năm thương đau mà gầy dựng lại tổ quốc đau thương này?

Nhân chuyện thầy tôi viết cho ngày nhà giáo Việt Nam, miên man suy nghĩ chuyện thầy và chuyện nước nhà. Chỉ mong tư duy của dân tộc cùng một hướng, hòng Việt Nam đủ sức đứng vũng và hùng cường trong giai đoạn khó khăn. 

Viết bài này xong, tôi hỏi ý kiến 2 người bạn. Một là nhà kinh tế. Một là nhà giáo và nhà khoa học. Nhà giáo thì bảo nên đăng cho thế hệ trẻ học điều ngay lẽ phải và sự trung thực. Nhà kinh tế thì bảo chuyện "nhạy cảm". Tôi nghĩ mình tới giờ này vẫn là nhà khoa học, dù đã bỏ nghiên cứu những 8 năm rồi. Đã là nhà khoa học thì 3 đức tính: trung thực, óc quan sát và tư duy độc lập logic là cần thiết để đưa vấn đề tốt cho xã hội. Nên tôi phải đăng. Xin cảm ơn hai bạn.

Thursday, November 19, 2009

KIẾP TẰM

Kiếp tằm thì phải nhả tơ, câu chuyện ngụ ngôn mà tôi được Bà kể từ tấm bé, hôm nay hiện về. Không phải ngẫu nhiên mà nó hiện về trong tâm trí tôi trong lúc này. Trong một tháng nay, trên một vài phương tiện truyền thông internet có nhắc đến tên tôi nhiều lần. Trong đó, một lần làm tôi aí ngại, rồi đâymột lần nữa làm tôi phải có entry này. 


Thậm chí có trang copy và paste bài tôi mà không hỏi chủ nhân 1 câu, như ở đây, và nhiều nơi khác nữa.

Tôi mệnh Thái âm, có Thái dương chính chiếu về được xếp vào nhóm Nhật Nguyệt Tịnh Minh chiếu hư không chi địa thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương. Mệnh có  Khoa, Riêu, Y, Hư. Phúc có Quyền và Bạch Hổ ngộ Hình, nhưng Điền-Quan ngộ triệt và Tật-Tài ngộ tuần. Ông cụ lấy lá số tử vi cho tôi bảo với mẹ tôi rằng: "Thằng này có bộ chính tinh và phụ tinh tuyệt đẹp, đóng đúng chỗ, thông minh hơn người, nhưng chỉ khổ nỗi là đàn ông quan trọng ở Quan, Điền, Tài. Nhưng tất cả đều bị khóa. Nên kiếp này nó làm kiếp tằm để nhả tơ. Bà không nên cho nó vào chốn công đường mà hại thân. Làm y hay làm giáo thì được, nhưng chỉ làm ở ngoài chốn công đường".

Ngẫm lại, cho đến giờ này đã qua bên kia cái dốc cuộc đời mới thấy đúng gần như 100%.


Ai sinh ra đời cũng có một nhiệm vụ. Nhưng không ai biết mình được hoặc bị làm nhiệm vụ gì? Vì thế ai cũng cố sống và hy vọng để làm cái mà mình chưa biết. Kẻ may thì làm được khối việc cho đời. Người không may thì vấp ngã khi chưa làm được gì. Kẻ ác thì xả rác vào đời. Người thiện thì dọn rác. Khi hiểu được mình sinh ra đời để làm gì là lúc cũng sắp rời xa đời.

Kiếp tằm thì phải nhả tơ cho đời. Tôi không có ý nguyện gì hơn như một số thông tin đã "thương hay ghét" để ban cho tôi đặc ân là làm "dân chủ với một hình thái khác". Tôi muốn sửa cái đã có hơn là đập cái cũ để làm cái mới. Vì tôi sống đã 3 giai đoạn xã hội, tôi chưa thấy cái mới tốt hơn cái cũ ở xứ này. Tôi mong quý vị đã ban đặc ân này cho tôi nên ít hoặc không nên quan tâm đến tôi để tôi làm chuyện nhả tơ cho đời. Đừng nâng tôi lên quá độ để rồi tôi chết như nàng Thị Tơ qua câu chuyện ngụ ngôn mà ngày xưa Bà tôi đã kể.

Mong lắm thay,

Tuesday, November 17, 2009

NGÀNH Y VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN II: MỤC TIÊU

 Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quan niệm 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Bảo hiểm y tế 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Đào tạo 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Phân bổ và đãi ngộ

Trước khi nói về thay đổi mục tiêu ngành y tế, chúng ta cần phải thấy tất cả các ngành y tế của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có nước ta  - đều vì phục vụ cho người bệnh. Chỉ có con người vì một lý do nào đó làm cho mục tiêu ngành y tế đi chệch hướng. Nhưng có lẽ lý do đầu tiên, ở các nước tiên tiến quan niệm về ngành y và ngành giáo không cảm tính và đòi hỏi như ở Việt Nam. Có thể là nguyên nhân từ văn hóa duy tình, làng xã và từ ảnh hưởng văn hóa Khổng Nho. Chính vì quan niệm rạch ròi mà ở các nước tiên tiến cho rằng mục đích của ngành y và ngành giáo là phục vụ cho đối tượng được hưởng. Tức là: giáo dục phải vì học sinh. Y tế phải vì người bệnh. Lấy đối tượng hưởng về giáo dục và y tế để làm trung tâm. Tất cả mọi hoạt động, dịch vụ phải xoay quanh học trò và người bệnh.

Với giáo dục thì chủ yếu đào tạo ra những thế hệ biết tư duy độc lập, phục vụ cho học trò, không vì mục tiêu khác chen vào. Với y tế thì quyền lợi của người bệnh là trên hết. Vì vậy cho nên cái tên của Bộ y tế Mỹ không chỉ đơn thuần là bộ y tế như Việt Nam mà nó có tên là dịch vụ con người và sức khoẻ. Có người bảo rằng vì kinh doanh nên Mỹ mới có cái tên là bộ cung cấp dịch vụ con người và sức khỏe. Thế nhưng, ở Mỹ không chỉ có những bệnh viện chỉ biết tính tiền để bán cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà còn có những nhà thương thí cho người nghèo, vô gia cư không có tiền lo thuốc thang và viện phí. Thậm chí các bác sĩ ở những nhà thương thí lại có chuyên môn và đạo đức cao hơn ở những nhà thương lấy tiền. Họ đến đây để làm việc thiện nguyện và vì cho cộng đồng.

Như vậy, từ quan niệm cung cấp một dịch vụ chăm sóc sức khỏe làm cho mục tiêu của các ngành y tế của các nước có khác nhau. Mặc dù bất kỳ ngành y tế nào cũng vì mục tiêu là người bệnh thân yêu. Nhưng trong phong cách phục vụ người bệnh, đãi ngộ giới làm nghề y và qui định pháp luật đối với giới làm nghề y cũng có khác nhau rất rõ.

Ở các nước có quan niệm y tế là ngành dịch vụ chăm sóc sức khỏe xem bệnh viện là khách sạn chăm sóc sức khỏe. Vì người bình thường không bệnh mà còn ở khách sạn khi mỗi lần đi du lịch, nghỉ ngơi. Không lý do gì người bị bệnh lại không được chăm sóc tại một nơi có dịch vụ chăm sóc như du lịch và điều trị tốt. Nhưng ở nước ta thì khác, khi khỏe đi du lịch thì được chăm sóc như vương giả. Nhưng khi bị bệnh thì nằm giường đôi, kể cả hành lang, ồn ào, nóng nực và còn chịu sự gắt gỏng của nhân viên y tế. Tất cả những bất cập trên không phải vì chúng ta thiếu đầu tư y tế mà do chúng ta thiếu trình độ quản lý y tế chuyên nghiệp và thiếu tư duy duy lý trong quan niệm và mục tiêu của nghề y trong xã hội.

Ở xã hội tiên tiến bệnh viện nào tính tiền cho người bệnh là chỉ tính tiền. Không bố thí. Cơ sở y tế nào là nhà thương thí là cho tất cả. Không có chuyện nhập nhằng lẫn lộn như ta. Trong bệnh viện công lại có khoa dịch vụ cao cấp thu tiền cao hơn mức bình thường, được ưu đãi khu nằm điều trị với điều kiện tốt hơn. Nhưng không bệnh viện nào có điều kiện tốt nhất cho người bệnh. Dĩ nhiên, bây giờ nhờ vào cái gọi là xã hội hóa y tế đã có những bệnh viện tư nhân thu viện phí cao với điều kiện dịch vụ cao cấp. Nhưng cần phải làm lại một cuộc cách mạng trong quản lý cho đồng đều hơn ở các cơ sở khác nhau. Công ra công, tư ra tư, thu tiền thì dịch vụ phải cao. Và có những nhà thương thí phục vụ cho người nghèo. Không nên vì giá dịch vụ thấp mà lại dẫn đến lương ngành y tế thấp để rồi nhập nhằng ngay trong lòng bệnh viện thu viện phí thấp lại có khoa dịch vụ cao cấp thu viện phí cao để gọi là tăng thu nhập cho nhân viên. Nhưng đó lại là cái sân sau của cán bộ quản lý bệnh viện, là điều kiện để tha hóa đạo đức của giới làm y. Và như thế là tạo ra một sự bất công bằng trong chăm sóc sức khỏe người dân. Và vì thế nên theo WHO (World Health Organization: tổ chức y tế thế giới) ngành y tế của chúng ta xếp thứ 183/194 về công bằng về chăm sóc sức khỏe của người dân. Một vị thứ không thể nói lên lời, trong khi cập nhật y tế nước ta không tồi. Không nên để tình trạng trong cùng 1 bệnh viện có người được ưu đãi như vua, còn người khác thì phải đi xin ăn từng bữa như lâu nay. Đó là sai nguyên tắc nhân hậu của ngành y và là mất đạo đức, công bằng trong đối xử về quyền con người.

Khi duyệt bất kỳ một dự án thành lập bất kỳ bệnh viện nào, bộ phận duyệt dự án đều yêu cầu bệnh viện đó bắt buộc phải có 10% giường bệnh dành cho người nghèo không có khả năng chi trả. Nhưng tôi chưa thấy bất kỳ bệnh viện nào có được con số cơ hữu đó cho những người nghèo. Ai kiểm tra việc này? Hay là nó chỉ nằm trên giấy? Và việc này đúng hay sai? Một điều cần suy nghĩ về việc cơ cấu và quản lý ngành y của nước nhà.

Có người bảo là không làm được với ý tưởng của cậu đâu. Nhưng từ thời Pháp thuộc, họ xem dân ta là nô lệ và mọi rợ, nhưng họ vẫn có nhà thương thí cho dân nghèo không có khả năng chi trả. Tại sao thời đó làm được, bây giờ không làm được? Và hiện nay ở nước ta vẫn có mô hình này tồn tại. Vậy thì nguyên nhân từ đâu? Tôi sẽ nói ở phần 3, về vấn đề hệ thống quản lý y tế nước nhà.

Sunday, November 15, 2009

NGÀNH Y VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI GÌ? PHẦN I: QUAN NIỆM

Bài liên quan:
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý dược
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Mục tiêu 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Quản lý 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Bảo hiểm y tế 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Đào tạo 
+ Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì: Phân bổ và đãi ngộ 


Lẽ ra không có bài bày nếu không có sự thôi thúc của một tiến sĩ đang làm nhiệm vụ quản lý của một ngành có liên quan đến lo phần hồn của con người, ngành giáo. Không biết có duyên nợ gì giữa 2 ngành y và giáo. Nhưng, một là kỹ sư tâm hồn. Một còn lại không chỉ là kỹ sư tâm hồn mà còn là kỹ sư về thể xác. Khác với kỹ sư bên ngành kỹ thuật. Máy hư thì sửa, sửa không được thì thay, sửa thay không được thì vứt, mua máy khác. Ngành y và giáo sửa phần hồn và phần xác con người. khi nói đến sửa và thay thì thật gian nan. Nói đến chuyện này lại  nhớ đến ông bạn vong niên.  Gọi là vong niên vì ông cùng thời với các cụ Huỳnh Tấn Phát bên kiến trúc, Huỳnh Văn Tiểng bên văn hóa truyền thông, Trịnh Kim Ảnh bên y khoa và Trần Đức Thảo bên triết, Lê Văn Thiêm bên giáo dục ... Những con người đã về chốn vĩnh hằng, chỉ còn lại mình ông đi tìm tụi trẻ, nhưng đã xế chiều làm quen, tâm tình và hỉ hả với nhau bên chén rượu nồng cho những năm tháng còn lại. Ông làm thú y, ông vẫn tự trào về mình: "Mấy thằng làm về liên quan đến con người nó ra đi hết. Chỉ còn lại thằng bác sĩ chó ở lại nhìn đời bằng con mắt của tên đổ tể. Vì chó, heo bệnh, nếu thấy tốn kém điều trị thì giết thịt là xong. Còn nghề của mày, đâu được giết. Đó là lương tâm, trách nhiện nhe con!".

Khi nói đến thay đổi ngành y Việt Nam thì phải nói đến thay đổi tư duy về quan niệm của nghề y. Từ rất lâu, do ảnh hưởng Khổng Nho mà quan niệm người Việt cho rằng ngành y là ngành cứu người. Thậm chí có người còn nâng tầm nó lên đao to búa lớn hơn là: cứu nhân độ thế. Nên mới có câu "Lương y như từ mẫu" nghe bảo của cụ Hồ răn dạy ngành y tế. Câu này rất đúng, làm nghề y mà không xem người bệnh như ruột thịt của mình thì khó lòng lo sức khỏe cho người bệnh trọn vẹn cả phần xác lẫn phần hồn được.

Thế nhưng, khi người thầy thuốc lo sức khỏe và lo cho phần hồn người bệnh tốt, thì đáp lại xã hội phải xem nghành y với quan niệm khác hơn là quan niệm lâu nay: cứu người. Khi được đòi hỏi cao thì phải được đãi ngộ lớn xứng với tầm của đòi hỏi phải không? Thế thì khi được đãi ngộ xứng tầm thì đòi hỏi ngành y phải có trách nhiệm cao hơn. Vậy thì làm y phải chịu sự ràng buộc của pháp luật rõ ràng để có tính răn đe người làm y có trách nhiệm và danh dự nghề nghiệp tối đa khi người khác giao phó tính mạng của mình cho các thầy thuốc.

Như vậy, khi đòi hỏi trách nhiệm cao, để có đãi ngộ cao gắn liền đến pháp lý cho công bằng xã hội thì quan niệm về ngành y phải như thế nào? Theo tôi, không nên dùng quan niệm xưa cũ theo văn hóa Khổng Nho để nhìn ngành y như một nghề cứu người. Mà nên nhìn ngành y là một ngành cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đừng nâng vai trò nó quá đáng, mà cái gì quá đáng sẽ dẫn đến cực đoan và cảm tính. Khi quan niệm cung cấp một dịch vụ chắm sóc sức khỏe, mọi người sẽ nhìn ngành y khác hơn. Là nghề y không chỉ cứu người theo nghĩa đen, mà nghề y có nhiệm vụ như bao nghề khác. Nông dân làm ra lúa gạo, kỹ sư làm ra máy móc, nhà văn làm ra tác phẩm đọc, bác tài xế làm nhiệm vụ chuyên chở, chú công an canh giấc ngủ bình yên cho đường phố hay  ngay cả lãnh tụ đưa ra quyết sách cho quốc gia .v.v. và v.v... tất cả đều là sự phân bố nhiệm vụ của xã hội giao phó, không ai hơn ai, không nhiệm vụ nào quan trọng hơn nhiệm vụ nào. Hãy thử nghĩ, nếu bác sĩ quan trọng hơn bác nông dân, thế thì xã hội không có người làm nông thì chúng ta sẽ sống ra sao? Nhìn như thế sẽ thấy sự bình đẳng về quan niệm sống. Và người làm nghề y cũng thấy mình làm nghề y vì nghiệp phải làm chứ không có quan niệm ban ơn với người bệnh. Khi thấy được cái nghiệp của nghề y, thầy thuốc sẽ có trách nhiệm, lương tâm hơn. Và khi thấy được cái nghiệp của nghề y, xã hội sẽ có cái nhìn đãi ngộ hơn với những người làm nghề y sòng phẳng hơn. Và khi có sự đãi ngộ tốt hơn thì nghề y cũng phải chịu sự giám sát của luật pháp sát sao hơn nhằm ngăn chặn những sai lầm đáng tiếc trong nghề y.

Khi nào mỗi cá nhân làm nghề y hiểu rằng người bệnh là người thầy của thầy thuốc. Vì không có người bệnh thì lấy đâu ra để thầy thuốc học hỏi bệnh tật và làm việc. Sách vở chỉ là một màu xám xịt, như Johann Wolfgang  Von Goethe đã từng nói. Chỉ có người bệnh là cây đời sinh động cho thầy thuốc. Và lúc đó nghề y mới chín được. Và những ai đang làm nghề y cũng đừng nên cho rằng làm y khoa là làm nghề cứu người mà hãy nghĩ đến chuyện cứu mình trước khi chưa muộn.

Nếu các bạn đồng ý về thay đổi quan niệm nhìn nghề y là một nghề cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì tôi sẽ bàn tiếp vấn đề này ở phần 2, trong một entry khác. Cuối tuần vui vẻ,

Saturday, November 14, 2009

THUYẾT NGỜ VỰC II HAY CUỘC CHIẾN USD VÀ YUAN?



Theo bài viết mới nhất của Lê Hồng Giang lý giải tại sao giá vàng tăng và nhà nước Việt Nam đồng ý cho nhập vàng vì lý do vàng là nơi trú ẩn tốt nhất khi cuộc chiến đồng usd và nhân dân tệ làm cho đồng usd không còn là nơi bảo đảm cho cổ phiếu chính phủ Mỹ mất thăng bằng. Và một số đề nghị, trong đó đáng chú ý nhất là đề nghị của Nick Row là Why can't Fed just buy yuan? giống như Mỹ đã từng làm với Nhật ở thập niên 1990. Khi cuộc chạy đua giữa 2 đồng bạc đang được cho là thống trị và làm đảo lộn kinh tế thế giới này.

Nhưng, với tôi, tôi lại nghĩ khác, đơn giản hơn của kẻ ngọai đạo về kinh tế học. Tôi cho rằng đã hơn một thập kỷ qua, Mỹ đã liên tục đề nghị Trung Quốc phải nâng đồng nhân dân tệ. Nhưng, Trung Quốc vẫn khăng khăng giữ một đống Yuan yếu vì kinh tế Trung Quốc đang chủ yếu dựa vào xuất khẩu. Nếu nâng giá trị đồng Yuan thì xuất khẩu sẽ đình đốn, nhà máy sẽ đóng cửa, công nhân sẽ thất nghiệp và điều gì sẽ xảy ra cho nền chính trị Trung Quốc? Không, TQ sẽ không bao giờ làm điều ấy để tự chôn mình. Cho nên, từ ngày ông Bush gây áp lực thì tỷ giúa USD/Yuan có giảm từ 7.8 xuống còn 6.8 vào tháng 7/2008 đến nay tỷ giá 6.8 vẫn chưa có gì thay đổi. Mặc dù, chỉ số USD liên tục hạ từ > 120 đến những ngày gần đây chỉ còn quanh quẩn con số 75. Tức là, với chính sách hạ lãi suất của FED với mục đích hạ giá đồng USD, nếu đồng Yuan không chịu hạ.


Thế thì, với cuộc chiến nếu mày không nâng giá mày thì tao hạ giá tao ai sẽ thắng và ai sẽ thua? Liệu với dự trữ trên 2.000 tỷ USD của Trung Quốc có thể trụ vững với con số dự trữ của Mỹ gấp hơn 15 lần của Mỹ? Vấn đề đặt ra ở đây là Trung Quốc tiếp tục bảo hộ đồng Yuan đến bao giờ nếu Mỹ cứ tiếp tục chính sách hạ lãi suất cho vay đồng USD? Và hiện tại đồng USD đang tràn ngập trên thị trường thế giới khi các tổ chức tài chính đi vay của Mỹ và đem cho vay lại ở các nước cần USD như Việt Nam với lãi suất cao hơn để kiếm lợi, như một bạn đã đưa ra giả thuyết: Bong bóng Châu Á!

Về mặt thực lực tương quan kinh tế Mỹ và Trung Quốc trong hiện tại thì cuộc chiến đồng USD và Yuan ta cũng dễ thấy Trung Quốc chưa đủ sức để trụ lại trong lúc này. Nhưng, những nước nghèo như Việt nam, sau khi đã mình đầy thương tật như tôi đã viết trong thuyết ngờ vực thì liệu họ có đủ sức kéo dài tàn lực trong cuộc đua tranh này bao lâu nữa? Và người hưởng lợi trong cuộc chiến này sẽ là ai? Một mình Mỹ hay cặp vợ chồng đồng sàng nhưng dị mộng Mỹ-Trung? Và tại sao tới giờ này Mỹ không thực hiện cuộc mua đồng Yuan như đã làm như làm với Nhật vào thập niên 1990 để dạy cho Trung Quốc một bài học? Có phải đang vổ béo để giết thịt một lần "trọn gói"?

Tôi cho rằng, hoặc chỉ có Mỹ hoặc chỉ có Trung Quốc. Vì Mỹ và Trung Quốc không ai muốn chia sẻ quyền lực với bất kỳ ai. Và nhìn về thực lực hiện tại tôi vẫn thấy nước cờ chủ động suy thóai để giật tiền thiên hạ rồi sau đến là chiến lược hạ giá đồng USD bằng số tiền giật được, cộng với dự trữ quốc gia khổng lồ, Mỹ sẽ là kẻ nở nụ cười sau cùng. Mặc dù, hiện tại Trung Quốc đang cười tít mắt, nhưng thời điểm cuối của cuộc chiến có thể Trung Quốc sẽ là người rơi lệ có nhuốm màu máu của lá cờ đầy biểu tượng muốn làm thống sóai thế giới. Hãy chờ xem ai là người nở nụ cười cuối cùng trong cuộc chiến?

Cuối tuần vui vẻ,

Friday, November 13, 2009

HỘI NGHỊ THẦN KINH HỌC LIÊN QUAN ĐẾN Y TẾ VÀ GIÁO DỤC


Hôm nay có thông tin này thấy nó liên quan đến cả 2 ngành: y tế và giáo dục. Nên post lên cho bà con ai thấy thích thú thì ngâm cứu. Dù gì thì cũng 1 năm nữa hội nghị này mới tổ chức tại San Diego, California, USA từ 13-17 tháng 11 năm 2010.

Hội nghị này là một hội nghị về thần kinh học có liên quan đến xã hội, đặc biệt là giáo dục. Do Society for Neuroscience tổ chức. Ai muốn tham gia thì vào đây để đăng ký thành viên mới.

Chỉ có thế, ngoài ra không có gì ngoài thông báo vài dòng. :D

Wednesday, November 11, 2009

ĐÔNG Y , TÂY Y VÀ NHỮNG BẤT CẬP CỦA QUẢN LÝ

Mấy hôm nay, báo đài liên tục công kích các phòng khám đông y Trung Quốc nào là một loạt 9 bài thâm nhập phòng khám đông y có BS Trung Quốc, nào là thuốc bán giá cao, nhưng không khỏi bệnh,và Thông tấn xã Việt Nam cũng có bài đầy quyết tâm. Thiển nghĩ cũng nên viết ra đây một chút về khái niệm đông, tây y và bất cập hiện nay để có cái nhìn thật chính xác đâu là y đạo, đâu là y tặc và phải làm gì để quản lý ngành y trong thời đại kim tiền.

Đông y là ngành y bắt đầu từ lý thuyết mang tính triết học của phương đông. Nó đi từ nền tảng lý thuyết có trước là con người và sinh vật là tiểu vũ trụ sống trong đại vũ trụ là trái đất trong thái dương hệ có ngày đêm, nước lửa, đàn ông đàn bà, nóng lạnh, âm dương ... những cặp nhị nguyên trong trái đất và vũ trụ lớn có ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đông y chia cơ thể con người ra thành những tạng và kinh mạch. Các tạng và kinh mạch cũng tương ứng với ngũ hành và âm dương. Tiểu vũ trụ phải biết hòa mình sống cùng đại vũ trụ. Mọi cách sống trái với qui luật của đại vũ trụ đều tạo ra mất quân bình ngũ hành và âm dương sinh ra bệnh tật. 

Khi có sự mất quân bình hoặc bế tắc về ngũ hành hoặc âm dương thì sẽ sinh ra bệnh. Mọi bài thuốc chữa bệnh đông y vì thế cũng là lấy những sinh vật có từ trong trái đất và theo phương pháp gia giảm các yếu tố ngũ hành và âm dương để tạo ra những vị thuốc. Sau đó bốc thành những than thuốc đông y dùng để bổ (bồi bổ cho vượng lên) hoặc tả (đánh để cho hạ xuống) vào những rối loại tùy theo người thầy thuốc bắt mạch và tìm ra sự rối loạn đó bị ở đâu? tạng nào? thuộc hành nào? Cần bổ ở đâu? Và tả vào đâu để làm quân bình trở lại những rối loạn hay bế tắc mà người bệnh đang mang. 

Về mặt khoa học, lý thuyết đông y có trước bằng nền tảng triết học. Rồi thực hành đông y mới có sau để kiểm chứng điều lý thuyết đã định hình. Tuy vậy, đông y rất giỏi và thành công trong lúc bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng rõ rệt và rối loạn sinh học trong máu như Tây y. Nên theo hiểu biết của tôi, đông y rất hay về phòng bệnh mà họ gọi là hư bệnh. tức bệnh chỉ biểu hiện mơ hồ bằng các triệu chứng như mỏi mệt, biếng ăn, mất ngủ ... mà đi xét nghiệm máu của người bệnh có thể hoàn toàn bình thường.

Khác với đông y, tây y là ngành y đi từ thực nghiệm rồi mới hình thành lý thuyết sau. Tây y làm việc đúng với phép biện chứng duy vật. Tức là từ thực tiễn khách quan(thực nghiệm) đi vào tư duy trừu tượng(hình thành lý thuyết) rồi từ tư duy trừu tượng trỡ lại kiểm chứng bằng thực tế khách quan. Đó là con đường nhận thức chân lý, chân lý khách quan. Hơn nữa, ngay từ đầu thành lập ông tổ ngành tây y đã có những lời thề có một điều rất quan trọng đầu tiên để cho những người hành nghề tây y không dấu nghề. Nên Tây y phát triễn mạnh và trường tồn lấn át đông y. Đặc biệt, tây y có công hiệu khi bệnh đã thành thực bệnh, lúc mà đông y thường phải bó tay. Ví dụ: viêm ruột thừa phải phẫu thuật thì dù có quân bình âm dương hay ngũ hành thì cũng không làm được gì mà chỉ có đẩy bệnh nhân vào chổ biến chứng hoặc chết khi ruột thừa đã vỡ mủ.

Tuy thế, dù là đông y hay tây y thì cái đích cuối cùng cũng là chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh tật. Một số thuốc tây y cũng có nguồn gốc từ sinh vật trong trái đất. Chỉ khác nhau trong khi tây y trích ra hoạt chất có tác động mạnh nhất đến nguyên nhân và hậu quả của bệnh. Còn đông y thì để nguyên vị thuốc từ sinh vật và bằng cách bổ tả ngũ hành để tạo ra thuốc cho người bệnh. Chính vì thế khi dùng thuốc đông y người ta ít thấy tác dụng phụ (side effect) hơn là dùng thuốc tây y.

Nhưng cũng chính vì thuốc tây y có tác dụng như bộ đội chủ lực đánh giáp lá cà, nên có tác dụng hiệu quả nhanh hơn, còn thuốc đông y có tác dụng như làm dân vận, nò chậm hơn. Cho nên gần đây, có nhiều loại thuốc đông y như cao đơn hoàn tán và dạng bột, dạng thuốc bốc than một số lương y bất hảo đã học lóm tây y để mua thuốc tây về tán nhuyển pha vào cho bệnh nhân cảm giác mau lành bệnh. Các loại thuốc tây y được dùng pha vào này thường là những loại có tác dụng chữa triệu chứng, nhưng không chữa nguyên nhân bệnh tật mà còn có tác dụng phụ rất nguy hiểm. Đã có không ít những bệnh nhân suy thận cấp, mãn hay hoại tử tế bào gan cấp v.v... vào nhập viện tây y khi dùng thuốc đông y là vậy. Dù chưa có công trình nào, báo cáo nào tổng kết cho những tai hại này, nhưng người viết bài này đã từng chứng kiến những cảnh tượng đau lòng vì dùng thuốc đông y do những lương y vì tiền hơn là vì nghiệp.

Tuy 2 con đường đi ngược nhau, nhưng cùng một đích đến. Nếu làm đông y đến thượng thừa thì rất công phu và đáng kính lắm. Tây y cũng thế. Một vị tướng cầm quân lên đến chức tướng thì số quân họ nướng trên chiến trường đến vài ba nghĩa địa. Một thầy thuốc để giỏi nghề thì số bệnh nhân chết trên tay họ cũng không thua một nghĩa địa. Không có bên nào hơn bên nào nếu nhìn dưới góc độ khoa học và khách quan. Chỉ có cái tâm của người làm nghề có thấu hiểu được lý thuyết và thực hành của mỗi lĩnh vực hay không.

Qua câu chuyện bất hảo của các phòng khám đông y Trung Quốc, cũng như những bất cập các phòng khám tây y không kê toa mà chỉ bán bọc thuốc cho người bệnh, nhà thuốc bán thuốc không cần toa của BS ... Thiết nghĩ ,nhà nước phải cần có một cơ chế quản lý ngành y tế khoa học hơn và độc lập với chính trị hơn thì mới có thể chấn chỉnh ngành y của đất nước hơn là với cơ chế quản lý hiện nay.

Tất cả những bất cập và tha hóa trong ngành y nước nhà lâu nay cần được nhìn dưới góc độ sai lầm ở quản lý vĩ mô và vi mô của ngành y tế, chứ không nên nhìn ở góc độ vi mô của 1 bộ phận hành nghề. Vì chúng ta vốn dĩ là con người. Trong mỗi chúng ta tồn tại một nữa con và một nữa người. Phần con biểu hiện ở  đòi hỏi bản năng và phần người biểu hiện qua sự thánh thiện. Tùy theo lớp vỏ đạo đức được trui rèn qua sự giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội mà lòng tự trọng và danh dự nghề nghiệp có khác nhau ở mỗi cá thể. Lòng tham và sự thiếu hiểu biết ở con người thì ở đâu cũng có. Nhưng tại sao bất cập và tha hóa lại xảy ra ở ta hầu như ngành nào cũng có? Một câu hỏi lớn mà các nhà nắm vận mệnh quốc gia cần suy nghĩ.

Monday, November 9, 2009

THỬ HIỂU KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ GIẢI PHÁP CHO NGHỊCH LÝ

Suốt ngày hôm nay tôi theo dõi phần đặt câu hỏi và bàn luận của quốc hội về tập đòan kinh tế nhà nước. Dù có nhiều ý kiến khá gay gắt và sôi nỗi. Nhưng kết luận cuối cùng của quốc hội vẫn giữ các tập đòan kinh tế tư bản nhà nước và nó là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân trong thời gian tới, dưới sự giám sát của luật riêng cần sọan thảo cho nó. Mặc dù hiện tại các tập đòan thua lỗ, nhưng các lãnh đạo tập đòan vẫn hạ cánh an tòan, nhưng các bộ trưởng vẫn bảo vệ sự tồn tại của các tập đòan kinh tế tư bản nhà nước. Tức có nghĩa là không có sự tái cơ cấu kinh tế trong kỳ đại hội XI tới?

Qua theo dõi và hiểu biết của tôi thì nền kinh tế Việt Nam đã và đang đi theo con đường kiên định Xã hội Chủ nghĩa. Nên mới có cụm từ "Định hướng Xã hội Chủ Nghĩa". Cho tới giờ này chưa có định nghĩa của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa(XHCN), như phát biểu của đại biểu Vũ Văn Ninh, đương kiêm bộ trưởng bộ tài chính chiều nay: "Thực chất mô hình kinh tế của chúng ta đang đi theo là một mô hình chưa từng có trên thế giới, nên chúng ta vừa làm vừa rút kinh nghiệm". Và điều này được ông Hà Văn Hiền, chủ nhiệm ủy ban kinh tế quốc hội nhấn mạnh lại dưới một hình thức khác: Sẽ rút kinh nghiệm khi hình thành các tập đòan mới

Mặc dù có những khái niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN rất trừu tượng và chung chung. Nhưng nếu tôi không nhầm sau bao năm tháng suy nghĩ thì kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa là nền kinh tế được vận hành theo đúng nghĩa kinh tế thị trường, nhưng được điều tiết chủ đạo bỡi các tập đòan kinh tế tư bản nhà nước. Các tập đòan này có nhiệm vụ làm chủ đạo nền kinh tế quốc dân. Chúng làm ra lợi nhuận để phục vụ cho những chi phí công và các họat động cộng đồng cho chính phủ. Nếu như thế thì rõ ràng mục đích này quá tốt đẹp, nếu. Lại một chữ nếu, và nếu nó là gì? Có lẽ nếu nó được đặt trong một nhà nước pháp quyền với sự độc lập của lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, làm thế nào để nền kinh tế thi trường định hướng XHCN nằm dưới sự độc lập của tam quyền phân lập? Một câu hỏi rất đơn giản mà không đơn giản chút nào.

Nếu đúng như suy nghĩ và định nghĩa của tôi thì có 3 vấn đề trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như sau:
1. Nền kinh tế ấy phải vận hành theo qui luật cung cầu để xác định giá cả, số lượng hàng hóa và dịch vụ của thị trường.
2. Nền kinh tế ấy phải chịu sự chủ đạo của các tập đòan kinh tế tư bản nhà nước.
3. Lợi nhuận của các tập đòan tư bản nhà nước dùng để phục vụ chính sách công của chính phủ.

Vấn đề số 1 thì dễ hiểu, vì bản chất của nền kinh tế từ thời lòai người khai sinh lập địa là nền kinh tế thị trường. Nó bất di, bất dịch từ khi lòai người còn chế độ Cộng sản nguyên thủy. Chỉ khác nhau về các dịch vụ trên thị trường, còn qui luật cung cầu và xác định giá cả qua hình thức trao đổi hàng hóa giữa bộ tộc này với bộ tộc khác thì về mặt bản chất không khác gì ngày nay. Chỉ khác nhau khi các thành viên phân chia nhu cầu tối thiểu cuộc sống trong cùng một bộ tộc, dòng họ, gia đình.

Vấn đề số 2 mới là điều rắc rối. Nó rắc rối vì nếu các tập đòan tư bản nhà nước làm nhiệm vụ chủ đạo nền kinh tế quốc dân thì nó phải có quyền và có ưu tiên trong họat động kinh tế. Vì nếu nó không được quyền và ưu tiên thì nó khó có thể nắm và làm chủ đạo nền kinh tế quốc dân. Đến đây, nhiệm vụ này của nó làm phá vỡ tính công bằng của qui luật kinh tế thị trường. Vì kinh tế thị trường là cạnh tranh sòng phẳng, không khoan nhượng, không thiên lệch. Như vậy, làm sao để không phá vỡ tính công bằng của kinh tế thị trường giữa các tập đòan tư bản nhà nước và tư bản tư nhân? Có lẽ như các nhà lập pháp đã bàn chiều nay là cần phải có luật cho riêng các tập đòan tư bản nhà nước. Như vậy, luật đó phải thế nào? Và luật đó được áp dụng ra sao, trong khi các tập đòan kinh tế tư bản nhà nước vẫn có quyền của nó? Và trong khi lập pháp và tư pháp vẫn còn yếu kém như lâu nay? Đó là điều cần phải đặt ra cho tương lai gần cho những con người có trách nhiệm với đất nước.

Đến vấn đề số 3, đó là điều hiển nhiên mà các tập đòan tư bản nhà nước phải làm. Vì anh được quyền lợi thì anh phải có công cống hiến cho công ích và chính sách công của chính phủ. Anh không thể đổ thừa vì lý do khách quan, chủ quan anh phải thua lỗ và anh được tồn tại là tất yếu, trong khi anh đang là gánh nặng quốc gia. Và trong khi các tập đòan và doanh nghiệp tư nhân cũng phải làm việc, cũng phải đóng thuế, cũng phải trả lương nhân viên, cũng phải làm công ích xã hội qua các quỹ phúc lợi xã hội v.v... và v.v... không khác gì các tập đòan tư bản nhà nước với điều kiện không được quyền ưu tiên.

Thế thì giải pháp nào cho sự công bằng trong kinh tế thị trường? Độc quyền kinh tế cho các tập đòan tư bản nhà nước như bấy lâu nay trong các lĩnh vực là một sự tự nhiên hay là một sự dung túng và nuôi những đứa con khổng lồ trên đôi chân đất sét? Rồi lại còn chuyện rút kinh nghiệm cho các tập đòan mới là sao? Có phải là dần dần trỡ lại thời bao cấp mà ta đã từ chối nó khi cỡi trói? Hãy cứ nhìn ra cuộc sống sinh động, không có một vĩ nhân nào đi ra từ nhung lụa mà không có một thời thơ ấu và quá khứ gian khổ. Một đứa trẻ muốn đi bằng đôi chân của mình thì cha mẹ nó phải biết cho nó tự đi, không thể đi xe nôi mãi. Làm kinh tế cũng thế, không có một doanh nghiệp chân chính và thành đạt nào mà không đi bằng khả năng tự có của nó. Hãy nghĩ mà xem. Và hãy tìm giải pháp nào để dung hòa giữa 3 vấn đề hóc búa của kinh tế thị trường định hướng XHCN. khi trong một xã hội XHCN thì sự công bằng đặt lên hàng đầu thì nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngay từ đầu bản chất của nó là một sự không công bằng.

Có nghịch lý không? Không biết luật của quốc hội dành riêng cho các tập đòan như thế nào? Nhưng để vừa làm, vừa rút kinh nghiệm như các ông quan đã nói thì người dân Việt còn phải khổ bao lâu nữa? Đất nước còn tụt hậu so với thế giới bao lâu nữa? Và liệu người dân Việt có đủ khả năng nuôi các tập đòan tư bản nhà nước như lâu nay được bao lâu nữa? Hay là ...???


Tư gia, 23h31' ngày 09/11/2009