Thursday, December 31, 2009

NHÌN LẠI 2009


Một năm lại sắp trôi qua, cũng cần nhìn lại sự được mất dưới cái nhìn duy lý. Về mặt triết học cần xác định bản thể luận và nhận thức luận của những vấn đề. Có thể tóm tắt một số vấn đề như sau:


+ Về tư tưởng, có một số bất cập trong các khái niệm cho kinh tế để làm nền tảng cho kiến trúc thượng tầng bền vững. Dù có một số sự kiện không biết vô tình hay cố ý về lịch sử, nhưng sự bạch hóa một số vấn đề cho thấy tư duy về mặt tư tưởng có tính tích cực như câu chuyện anh hùng Lê Văn Tám hay bạch hóa quốc phòng etc...


+ Về lý luận, Mọi bất cập xã hội bắt nguồn từ lý luận chưa tìm ra hướng đúng và không biện chứng. Có lẽ loạt bài Nói chuyện triết học của người ngoại đạo của tôi đủ để nói lên những gì mà các nhà lý luận cần xem lại để có một nhận thức luận tốt cho tình hình đất nước để đưa ra nhận thức luận đúng cho thời kỳ mới. Đặc biệt, cho lần đại hội thứ XI của đảng sắp đến ở năm 2011.



+ Về chính trị, Vẫn còn trên đường đi tìm bản thể luận, dù có kiên định con đường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song khi chưa có khái niệm thì vẫn chưa có nhận thức luận cho vấn đề. Dù gì đi nữa thì đã nói đi theo kinh tế thị trường thì không thể cho mình là xã hội chủ nghĩa được. Chính trị ổn định, nhưng chính trị đã xen vào đời sống xã hội quá sâu để dẫn đến những quyết định còn bất cập và bao bất cập ở các ngành trong xã hội.



+Về văn hóa, cần xây dựng những thế hệ trẻ với tri thức thời đại mang tầm của thời đại thông qua giáo dục có định hướng tốt. Không nên để bàn tay chính trị xen vào quá nhiều như lâu nay, làm tha hóa con người.Hậu quả dân trí Việt thấp chưa đủ để xứng với thời hội nhập.



+ Về kinh tế, vì kiến trúc thượng tầng còn loay hoay thì kinh tế cũng còn lắm bất cập khi chưa có một mô hình đúng và những hệ quả của nó. Hệ quả đó không có gì khác hơn là lạm phát và thiểu triễn. Một phép tính đơn giản, đồng Việt Nam so với đồng đô la Mỹ đã mất giá 12.8% trong năm 2009. Mặc dù đồng USD đã mất giá so với đồng tiền mạnh trên thế giới đấn 15% trong năm 2009.


+ Về ngoại giao, đã có chiến lược rõ ràng theo đấu sách của Tôn Tử: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" mà cụ Hồ đã áp dụng ngay từ ngày đầu gầy dựng đất nước. Chiến lược này đã mang lại chính sách ngoại giao có tính tích cực trong năm qua, qua những sự kiện là ủy viên không thường trực hội đồng bảo an LHQ và từ thế yên lặng đối phó với Trung quốc ở biển Đông ta đã biết lên tiếng về chủ quyền. Nhưng, về con người cũng còn lắm tha hóa và tham nhũng làm hoen ố hình ảnh quốc gia, dân tộc.


+ Về giáo dục, thì câu chuyện trăm năm trồng người vẫn cứ cải cách và cải cách lần sau tệ hơn lần trước. Chỉ một điều đơn giản mà không ai làm đó là: Cứ xem người ta làm sao thì mình làm vậy, không cần nghiên cứu, không cần cải cách. Còn muốn cải cách thì cần xem lại những hạt sạn trong quản lý và cần cái nhìn duy lý cho giáo dục. Cần nhìn thấy bế tắc giáo dục Việt bắt nguồn từ chính trị đã lấn quá sâu vào giáo dục, cho nên có những qui chế không hợp lý - để đưa ra giải pháp phù hợp.



+ Về y tế, cũng loạt 6 bài: Y tế Việt Nam cần thay đổi gì sẽ trả lời ngành y tế cần làm gì cho tương lai sự chăm sóc sức khỏe dân Việt.

+ Về vấn đề đô thi hóa, đây là vấn đề nhức nhối ở các đô thi lớn hiện tại và các đô thị trung và nhỏ trong tương lai. Do tư thế và tâm thế hội nhập chưa được chuẩn bị đàng hoàng, nên hiện trạng của qui hoạch đô thị không xứng tầm với tiến trình đô thị hóa, dẫn đến bao bất cập: ách tắc giao thông, ngập úng nặng nề, ô nhiễm môi sinh, ect...



Tóm lại, trong năm 2009 đầy sóng gió với sự tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và chuẩn bị cho con đường đi cho sau 2011, Việt Nam vẫn còn lắm bất cập nằm trong một vòng xoắn bệnh lý, có những cơn cấp tính trên nền mãn tính chưa có thuốc chữa. Tất cả mọi bất cập ấy thể hiện do hậu quả của một tư duy và lý luận chính trị không biện chứng dẫn đến giáo dục yếu kém, kinh tế thiểu triễn và lạm phát, kiến trúc thượng tầng còn đang mò mẩm etc... Nên hậu quả của những vấn đề trên đã dẫn đến tha hóa và tham nhũng hầu hết ở mọi ngành trong cơ sở hạ tầng của đất nước. Nước Việt đang rất cần một tư duy biện chứng cho những bước đi vững chải.


Năm mới hạnh phúc và phát triễn vững bền đến mọi nhà và đất nước,



1h18 ngày 31/12/2009

Monday, December 28, 2009

LÀM SAO DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TỐT?


Thời đại toàn cầu mà không có thêm một ngôn ngữ thứ hai quả là bất tiện. Nhưng để biết thêm một ngôn ngữ thứ hai, thứ ba etc... như những con người xuất chúng thì quả là một chuyện không đơn giản. Ai đã từng học ngoại ngữ ở tuổi trưởng thành cũng thấy khó khăn. Vì ngôn ngữ không chỉ thể hiện cho cái tôi của loài người như tôi đã nói trong bài: Nói chuyện triết học của người ngoại đạo: Tha hóa và tham nhũng. Mà ngôn ngữ còn là đại diện cho một nền văn hóa của một cộng đồng dân sống trên một vùng địa lý với những luật lệ riêng. Cũng vì thế mà có tình trạng trong tiếng Anh gọi là Vietlish. Singlish, Chinalish etc... Vì nói và viết theo văn hóa của từng dân tộc mà không theo văn hóa của người Anh, Mỹ. Vậy làm thế nào để học một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ mẹ đẻ tốt?


Như trong phân tâm học, ngôn ngữ là một thuộc tính của con người. Đã là con người mà không nghe nói đọc viết được thì mất đi một thuộc tính của con người. Ngoại trừ đứa trẻ sinh ra bị điếc bẩm sinh. Nhưng dù có câm điếc bẩm sinh, nếu được học thì vẫn có thể nghe bằng ngôn ngữ môi và nói được tốt. Nếu không điếc, trẻ sẽ nghe và bắt chước để nói theo. Sau khi nói trẻ sẽ được học để đọc. Và cuối cùng học văn phạm để viết. Đó là trình tự tự nhiên của một quá trình biết một ngôn ngữ bình thường của con người. Học ngôn ngữ không cần trí thông minh. Học ngôn ngữ cần phản xạ tập nhiễm kiểu Paplov. Nó lập đi, lập lại hằng ngày. Nó sẽ hằn lên phần vỏ não có chức năng ngôn ngữ và trỡ thành một phản xạ hiểu biết.


Ngày tôi đọc phân tâm học khi còn sinh viên, tôi mãi suy tư về điều này. Và tôi thấy cách dạy ngoại ngữ trong trường phổ thông ở nước ta hiện nay là chưa đúng với trình tự của việc học một ngôn ngữ. Có lẽ vì thế mà người Việt giỏi về viết kiểu Vietlish, giỏi hơn là English, nhưng rất nhát về nói và nghe. Vì khi học chủ yếu người Việt chỉ được học ngữ pháp và từ mới hơn là học nghe và học nói trước? 


Ngoài ra, người ta thấy rằng trong ngôn ngữ về mặt âm tiết có 2 loại: ngôn ngữ đa âm và ngôn ngữ đơn âm. Việt Nam thuộc ngôn ngữ đơn âm, tức là mỗi từ, mỗi chữ khi phát âm chỉ có một âm tiết. Chính vì thế mà phát âm cũng khó khăn khi học một ngôn ngữ đa âm như tiếng Anh, tiếng Pháp etc... Nhưng ngôn ngữ Việt có cái ưu điểm nhờ vào các nhà truyền đạo đã giúp Latinh hóa chứ không dùng chữ tượng hình của người Trung Hoa đã muốn đồng hoá chúng ta.



Một yếu tố khác làm cho khó khăn khi học một ngôn ngữ khác là về mặt y học, người ta thấy rằng đặc điểm giải phẫu của vùng phát âm sẽ hoàn thiện từ sau tuổi 12, do sự hoàn thiện về phát âm và giải phẩu ở tuổi dậy thì. Nên nếu học ngôn ngữ trễ sau 12 tuổi thì sẽ khó khăn cho phát âm, đặc biệt đối với một dân tộc có ngôn ngữ đơn âm, mà đi học một ngôn ngữ đa âm.


Cho nên để học một ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ tôi khuyên nên theo những nguyên tắc sau:
1. Học sớm trước 12 tuổi.

2. Học theo trình tự: Nghe, nói, đọc, viết. Nghe đúng thì nói đúng và hiểu văn hóa dân tộc đó đúng.

3. Phải học liên tục không ngơi nghỉ, tạo thành phản xạ tập nhiễm hằng ngày. Không cần vận dụng trí thông minh mà chỉ cần làm sao nhớ tốt. Nhớ tốt thì không gì bằng là tạo một phản xạ tập nhiễm.


Cứ nghĩ mà xem, 1 đứa trẻ sinh ra, không biết nói, nhưng khi nó nghe mọi người nói. Nó bắt chước nói và biết nói. Nói đúng với văn hóa của dân tộc nó sống. Nhưng một đứa trẻ sinh ra nếu bỏ lên rừng sống với thú vật. Nó chỉ biết gầm, rú, hú theo thú vật. Nên để dạy và học ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ tốt, ngành giáo dục Việt Nam cần phải đổi cách dạy và cách học hiện nay ở nhà trường. Mọi người nghĩ sao?

19h30 28/12/2009

Friday, December 25, 2009

TỔNG KẾT TÂM LÝ ĐÁM ĐÔNG

Thế là đã hơn 9 tháng từ ngày tôi bắt đầu viết blog. Từ ngày 10 tháng 3 đến hôm nay của năm 2009. Với 9 tháng 15 ngày, tôi viết 150 entries, với nhiều đề tài khác nhau. Các lĩnh vực viết gồm: y học cộng đồng, triết học, chính trị học, văn hóa học, lịch sử và kinh tế. Tôi dùng 3 nơi để phổ biến những entries này: Blogspot, multiply và facebook. 

Tất cả những việc làm này dùng để tôi làm một khảo sát có tính định lượng để tìm hiểu về nhận thức người Việt có trình độ đại học. Tôi khảo sát 2 vấn đề nhận thức sau để làm biến sồ phụ thuộc:
1. Đám đông vô thức loại Gustave le Bon ở người Việt có trình độ đại học.
2. Đám đông hữu thức loại James Surowiecki ở người Việt có trình độ đại học.

Tôi sử dụng 5 vấn đề để khảo sát: triết học, chính trị học, văn hóa học, lịch sử và kinh tế. Những lĩnh vực mà để đánh giá nhận thức của các tầng lớp xã hội - qua đó đánh giá dân trí Việt ở đâu trong thời đại bùng nổ thông tin qua internet. Mỗi lĩnh vực tôi khảo sát nhận thức của 5 lĩnh vực trên tương ứng với 6 cặp phạm trù: nguyên nhân - kết quả; hiện tượng - bản chất; nội dung - hình thức, ngẫu nhiên - tất nhiên; khả năng - hiện thực và cái chung - cái riêng làm biến số cố định trong khảo sát. Cỡ mẫu là 100, được chọn ngẫu nhiên cho cả người Việt trong nước và người Việt ở nước ngoài có trình độ đại học. Khảo sát có tính cắt ngang trong mỗi lần khảo sát ở các entries. Sau khi thu thập dữ liệu tôi xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS theo phương pháp thống kê đa biến, để tìm ra mối tương quan dân trí Việt có trình độ đại học đang ở đâu trong nhận thức qua hiểu biết về 5 lĩnh vực khảo sát?

Kết quả cho thấy: 95% là thuộc loại đám đông vô thức dạng Gustave le Bon. 5% còn lại thuộc dạng đám đông hữu thức dạng James Surowiecki. Các nhóm tuổi tôi khảo sát là: U30, U40, U50 và O50 (over 50). Trong đó, U50 và O50 chiếm 92% của 5%, tức 4.6% của toàn bộ khảo sát có trí tuệ đám đông hữu thức. Phần còn lại, từ 30-40 tuổi chiếm tỷ lệ 5% của 5%, tức 0.25% của toàn bộ số khảo sát. Còn lại U30 chiếm 3% của 5% tức chiếm 0.15% của toàn bộ số khảo sát. Tất cả khảo sát có ý nghĩa thống kê với p< = 0.01.

Qua đó, tôi có một số nhận xét về trí tuệ đám đông của dân Việt có trình độ đại học như sau:

1. Thế hệ lớn hơn 40 tuổi mà có trí tuệ đám đông kiểu vô thức (dạng adzua) rất đáng ngại. Mặc dù thế hệ này có vốn sống, nên hiểu biết về văn hóa nhiều, nhưng có sự nhầm lẫn giữa chính trị học và triết học., cảm tính nhiều hơn duy lý. Nên họ không xác định được nhận thức vấn đề chính của tình hình xã hội ta hiện tại.

2. Tôi không giấu được nỗi thất vọng khi thấy thế hệ O40 (over 40) chưa nhận thức một cách đúng về lịch sử sự phát triễn các hình thái xã hội và vấn đề dân chủ có một mối tương quan mật thiết. Nên có một số người nhầm lẫn, bốc đồng và đi vào con đường sai lầm cơ bản.

3. Thế hệ U40 có một tỷ lệ nhận thức về các lĩnh vực xã hội thấp hoặc không có. Điều này chứng tỏ các thế hệ kế thừa và nắm vận mệnh đất nước trong tương lai gần đang thiếu hụt tri thức một cách toàn diện, và một hy vọng có sự thăng hoa của xã hội Việt trong tương lai gần là khó.

4. Nhận xét cuối cùng của tôi qua khảo sát này là các thế hệ người Việt được trang bị một hành trang vào đời dù ở mức đại học, nhưng rất thiếu cơ bản. Nếu muốn được có sự cơ bản về mặt kiến thức vào đời thì không nên thụ động chờ ở trường lớp mà cần phải biết tự trang bị, tự đào tạo. Chỉ khi đó mới mong đất nước Việt hùng cường.

Đây có thể là những nhận xét có tính võ đoán qua một khảo sát định lượng có tính định hướng cho những khảo sát sau công phu hơn và tốt hơn.

Giáng sinh làm một entry có tính ngâm cứu để có cái nhìn cơ bản về dân trí Việt. Một công việc không đơn giản, nhưng nó nói lên tầm vóc Việt trong vòng vài ba thập niên tới. Mong rằng thế hệ trẻ tương lai biết chủ động tự đào tạo để nâng mình ngang với tầm của thời đại, hòng giúp đất nước phú cường.

Mong lắm, chúc một giáng sinh và một năm mới sắp đến an lành với đất nước và với mọi nhà,

Sài Gòn, 1h14 AM 25/12/2009

Wednesday, December 23, 2009

NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO: THA HÓA VÀ THAM NHŨNG


Nên đọc Phần I, phần II, phần IIIphần IV


Bài viết riêng tặng cho các nhà lý luận và các sinh viên xã hội học. Nó được lý luận trên phương diện triết học duy vật biện chứng, phân tâm học, nhị nguyên luận và hiện sinh học để nhìn tệ nạn tha hóa và tham nhũng toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Như trong bài viết về bất cấp của loài người. Tôi đã nói đến 3 thuộc tính của động vật nói chung và loài người nói riêng trong phân tâm học. Thực chất những thuộc tính của loài người còn thêm 3 thuộc tính cơ bản nữa là: biết ngôn ngữ, biết lao động để làm ra sản phẩm cho cuộc sống và biết dùng lửa để nấu chín thức ăn. Các thuộc tính ấy luôn song hành với những cặp nhị nguyên: tha hóa - thăng hoa, dấn thân - vong thân, tốt - xấu, etc... Thói đời rằng: cái xấu dễ nhiễm hơn cái tốt, nếu cái tốt không được bảo vệ bằng giáo dục, đạo đức và luật pháp nghiêm minh. Một xã hội mà các thể chế chính sách đi ngược lại thuộc tính của loài người và luật pháp không nghiêm minh, giáo dục và đạo đức sống người dân suy đồi là xã hội sẽ có nhiều bất cập.

Thế nhưng, ở những xã hội có thể chế và chính sách dù có trọn vẹn đến đâu thì sự tha hóa và tham nhũng của con người vẫn cứ tồn tại. Vì đâu? Vì 3 thuộc tính: tư hữu, quyền lực và sinh tồn của loài người là nguyên nhân của lòng tham dẫn đến kết quả là tha hóatham nhũng.

Theo định nghĩa thì tha hóa là biến thành cái khác xấu hơn về mặt phẩm chất. Nếu là con người thì bị biến thành mất phẩm chất đạo đức. Còn đối với tham nhũng thì được định nghĩa là dùng quyền lực để tham ô và nhũng nhiễu dân. Ngay cả nước Mỹ, luôn cho rằng văn minh và dân chủ hơn mọi nơi theo như tuyên ngôn độc lập của họ từ thời mở cõi của những con người không chịu khuất phục sự già cỏi và xơ cứng của lục địa già. Nhưng nước Mỹ cũng bị tham nhũng xâm lấn vào lĩnh vực y tế làm thâm thủng ngân sách lên đến 17% GDP và cú lừa thế kỷ của Madoff cũng có vấn đề dính dáng đến các quan chức chính quyền. Mặc dù nước Mỹ có luật chống độc quyền, khi ngay cả các lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm như quốc phòng, năng lượng họ luôn song song tồn tại cả tư nhân và nhà nước hoạt động.

Nhìn lại đất nước ta, từ quản lý đến hoạt động kinh tế chúng ta chủ trương có sự độc quyền từ quản lý đến kinh tế. Vì như chúng ta đã biết lãnh đạo và quản lý thì chỉ có đảng và nhà nước lo. Một khi chính sách và hệ thống xã hội nuôi dưỡng sự độc quyền thì ba qui luật cần cho sự phát triễn xã hội mà triết học duy vật biện chứng đã đưa ra không có đất sống trong đời sống xã hội.  Ba qui luật mà không có đất sống là vì mâu thuẩn và đối lập không có. Đối lập và mâu thuẩn trong xã hội nó như bộ lọc sóng âm cho chiếc radio, để âm thanh phát ra từ radio không rè, không bị nhiễu. Một xã hội mà vắng sự đối lập và mâu thuẫn thì khi đó, xã hội sẽ hình thành sự bất cập và trì trệ bắt đầu từ lòng tham là hậu quả của nguyên nhân là thuộc tính xấu của con người. Cho nên tôi không thấy lạ khi năm 2009 tổ chứ minh bạch thế giới xếp hạng tham nhũng tính theo thang điểm 10 thì Việt Nam được 2,7/10 và thứ hạng của Việt Nam là 121/180 nước được khảo sát trên thế giới, mặc dù có tăng được 2 bậc so với năm 2008. Và tôi cũng không thấy lạ khi một lãnh đạo của một doanh nghiệp nhà nước cấp tỉnh có lương cao ngất mỗi tháng lên đến 238 triệu đồng! Nó còn cao hơn đồng lương chóng mặt của các quan lãnh đạo tổ chức tài chính của cấp nhà nước (SCIC), như báo chí đã đưa.  Và tại sao có chuyện các lãnh đạo thua lỗ nặng ở các tổng công ty tư bản nhà nước như lâu nay, mà vẫn hạ cánh an toàn. Vì đứng trên phương diện triết học đó là điều tất nhiên chứ không thể là ngẫu nhiên.

Về mặt lý luận triết học, thì điều kiện cần để có tha hóa và tham nhũng là phải tồn tại thuộc tính xấu của con người, trong một điều kiện đủ là môi trường xã hội không có sự tồn tại của đối lập và mâu thuẩn, để ba qui luật triết học duy vật biện chứng sống sót.

Như vậy, về mặt triết học, Việt Nam chúng ta đang cần một cơ chế vận hành theo đúng với duy vật biện chứng luận chứ không phải là cơ chế khô cứng và sai lầm, đi ngược lại với những gì mà duy vật biện chứng đã được copy và paste về từ các mô hình xã hội như từ hơn nữa thế kỷ nay đã sử dụng. Duy vật biện chứng luận của Engels đúc kết hay lắm lắm, nếu không nói là trùm bầu trời triết học của nhân loại. Đừng bóp chết nó, vì bóp chết nó thì sự thoái triễn, bất cập, tha hóa, tham nhũng và thất bại là tất nhiên.


Bài viết ngắn, nhưng chỉ mong thấu hiểu một cách khoa học và triết học. Mong lắm, để dân tộc và nước nhà có cơ hội bước về phía trước vũng vàng.

Asia Clinic, 13h30 ngày 23/12/2009

Tuesday, December 22, 2009

VIDEO ONLINE DÀNH CHO CÁC NHÀ GIÁO DỤC, TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM THẦN HỌC



Mấy hôm nay thông tin về y học, giáo dục và tâm lý học cứ dồn dập đổ về. Tôi đọc, nghe mà muốn ứ nự. Không có thời gian viết bờ lốc, bờ liếc gì cả. Mặc dù còn những thông tin về biochemistry, biology và bioinformatics của thế giới mỗi tuần nó tống đến tôi khoảng từ 30-50 những phát minh thật kinh hoàng. Kiểu này chắc sắp vào nhà thương khùng vì quá tải thông tin?


Đúng là thế giới khoa học ngày nay đang đi đến chỗ vô cùng và quá chi tiết. Với những khả năng hữu hạn của bộ óc con người khó mà ôm nỗi, ngay cả chỉ ôm cái tựa của phát minh cũng không thể kham được, huống hồ chi nói đến ôm hết nội dung của các phát minh!


Thế nhưng lọc ra, cũng thấy cần thiết phổ cập cho các thầy giáo có tâm huyết về các ngành: giáo dục, tâm lý học và tâm thần học về các vấn đề Phân tâm học thần kinh (Neuropsychoanalysis). Ai thích thú với triết học của Freud có liên quan đến giáo dục, tâm lý học và y học về tâm thần thì chịu khó vào The candidate perspectives from an Evolve Psychoanalytic Community mà nghe nhé. Các bạn thấy sẽ có những ô vuông, trong đó có tên từng giáo sư hoặc các nhà khoa học được viết bằng chữ màu xanh. Các bạn rê chuột vào nó sẽ hiện lên giao diên giới thiệu họ và bạn cứ click chuột vào. Nó sẽ bật lên 1 video thảo luận của khoa học gia đó đang được phỏng vấn các vấn đề liên quan về Phân tâm học, tâm lý học và tâm thần học với cộng đồng có liên quan đến những ức chế, những san chấn tinh thần ... và cách để truyền nghị lực cho đối tượng như thế nào trong cuộc sống thời hiện đại.

Còn vào đây là dành cho các nhà phân tâm học thần kinh.



Chúc vui, nhưng không bị khùng điên ba trợn. Hehehe,

Sunday, December 20, 2009

SÁNG KIẾN QUẢN LÝ THUỐC CỦA FDA


Thị trường thuốc trên thế giới gần đây các hãng dược phẩm đã có những mưu mẹo chuyển đổi thuốc bắt buộc phải kê toa  của bác sĩ mới được bán (prescription drugs) sang loại thuốc không cần kê toa của bác sĩ (over-the-counter drugs), hòng đạt được doanh thu và lợi nhuận cao. Cho nên gần đây FDA đã có hàng loạt cuộc hội thảo và khảo sát để đưa ra qui định những loại thuốc không được phép chấp nhận là thuốc không kê toa. Bà con nào làm trong ngành y, nha, dược quan tâm thì vào những links mà tôi liệt kê sau đây tham khảo. 

Nó cũng rất cần cho bộ y tế Việt Nam, vì theo hiểu biết của tôi, hiện nay có những loại thuốc rất độc cho gan, đặc biệt với trẻ con, ví dụ như Paracetamol, nhưng từ những năm nữa cuối thập niên 1990 đã được bộ y tế (thời của cố bộ trưởng Đỗ Nguyên Phương) duyệt thành loại thuốc không cần kê toa. Việc quảng cáo thuốc này trên tivi cũng rất không y đức và không đúng luật ngành y của thế giới. Những links đó như sau:



Nhưng tốt nhất đối với cơ quan quản lý dược thì nên click vào đây để lấy file PDF về mà đọc, sau khi đã tham khảo các links trên. Chúc các bạn hạnh phúc với thông tin này. :D

Thursday, December 17, 2009

NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO: BÓNG ĐÁ VÀ TIỀN


 Nên đọc Phần I, Phần IIphần III


Bài viết này chỉ ghi lại sự kiện có thật mà tôi đã nghe tại một điểm xem bóng đá. Nó không ám chỉ điều gì, chỉ để suy nghĩ về bóng đá nước nhà trên phương diện duy vật biện chứng luận và phân tâm học về bản ngã.

Suy nghĩ mãi có nên viết bài này không? Nếu viết mà không duy lý thì sẽ hàm oan. Viết duy lý thì cũng tội cho các cháu trong đội tuyển U23 Việt Nam. Vì lương cầu thủ Việt Nam đã thấp dưới sàn. Các cháu còn trẻ, dù có giỏi lương cũng chỉ đủ lấp miệng. Vào được đội tuyển cũng là cách để đánh bóng mình để hy vọng lên đời. Nhưng nếu có lên đời thì lương cao nhất hiện tại cũng chỉ vài ba chục triệu mỗi tháng như Công Vinh. Đời cầu thủ thì ngắn, giữ giỏi cũng chỉ chục năm nữa là tàn. Sau khi tàn biết làm gì ăn? Tôi có vài thân chủ là vận động viên số 1 trên đường đua xe đạp và bóng chuyền nữ Việt Nam một thời đình đám với nhiều huy chương. Họ lấy nhau, chồng còn làm huấn luyện viên cho đội đua, vợ ở nhà làm vợ, làm mẹ. Họ sống thanh đạm và vất vã.

Nói thế để thấy tại sao chiều nay trận túc cầu đầy cao vọng của đội tuyển U23 nam của ta với đội Malaysia có kết quả tồi? Hiệp I, đội hình Việt Nam ra quân 4-4-2, thế nhưng hàng tiền vệ lại áp đảo hàng tiền vệ đội Malaysia và đá hầu như chỉ trên nữa sân đội khách. Đúng như ông Calisto đã vạch điểm yếu của đội Malaysia là ở hàng tiền vệ. Hiệp II, ông huấn luyện viên trưởng thay đổi đội hình thành 4-5-1, thiên về phòng thủ từ xa. Ấy thế mà 5 tiền vệ lại thi  đấu không bằng 4 tiền vệ so với hiệp I. Đã thế hàng thủ bỏ ngỏ cả 2 cánh một cách khó hiểu? Các chú bình luận viên truyền hình thì cho rằng các cháu U23 Việt Nam không còn thể lực, và đổ lỗi cho trọng tài. Thế nhưng, với thể lực ấy, các chàng trai Việt đã đấu chưa bao giờ thấy mệt ở những trận vòng ngoài. Thậm chí các chàng trai Việt đã vùi dập đối thủ những 3-1! Bây giờ với đối thủ ấy, hiệp I thì áp đảo; còn hiệp II thì bỏ ngỏ khung thành và 5 người tuyến giữa không bằng 4 người ở hiệp I. Người ta bảo rằng: bóng đá là trò chơi tập thể, chỉ cần 1 cá nhân trong 1 tập thể buông chèo là đội hình sẽ rối và thuyền sẽ lật.

Xem hiệp II, tôi nghe bình luận viên thông báo: Nếu huy chương vàng sẽ được thưởng nóng 200.000USD. Nếu huy chương bạc cũng sẽ được thưởng nóng 100.000USD do một công ty truyền thông đình đám. Thấy hôm nay cả hiệp I các chàng trai Việt đá cứ như gà mắc tóc, dù có tấn công áp đảo. Tôi trộm nghĩ, nếu thế thì chỉ cần huề 2 hiệp chính chắc các cháu sẽ có 1 số tiền mà người ta thường gọi là bán độ. Rồi hai hiệp phụ sẽ thanh toán cũng chưa muộn.  Mấy hôm nay hễ có trận bóng đá nam Việt Nam vào trận là clinic vắng hoe, đường xá không xe chạy. Trước clinic của tôi có một quán nước mía, và cũng là sân chơi của dân cá cược với truyền hình trực tiếp. Tôi cũng ra ngồi uống nước mía, xem cùng để hô hào ủng hộ đội tuyển U23 Việt Nam.  Vào phút 60 trận đấu, một tay  cò nói rằng: Nó bán cho thua luôn, vì kèo bây giờ là đá đồng Việt Nam lún tiền. Tôi hỏi lún tiền là sao? Cậu ta bảo: Bố ơi, bố không hiểu thì đừng hỏi, vì hỏi mà biết thì sẽ ghiền, mà ghiền thì hết nhà đấy bố. Cứ ngỡ cậu ta nói chơi. Ai ngờ là thật. Phút 84 định mệnh khi cậu hậu vệ biên có bóng, không chịu phá ra biên khi bóng quanh quẩn ở khu 16,50 mà lại đưa cho cầu thủ Malaysia. Điều gì đến đã đến. Thế là cầm vàng mà để vàng rơi.

Ở một đất nước có nền văn hóa duy tình, đạo Khổng còn ăn trong máu. Hôm qua, các cô gái vàng vắt kiệt sức để cầm cự vì luống tuổi, để cuối cùng chiến thắng bằng ý chí, tinh thần thép trên chấm phạt đền. Trên đường về tôi chợt chạnh lòng khi đường phố vắng hoe. Thiển nghĩ, vàng nào cũng là vàng. Tại sao vàng nữ thì coi thường mà vàng nam thì được chăm sóc? Hôm nay, cứ ngỡ sẽ kẹt xe trên đường về. Nhưng chỉ 15 phút hiệp II xảy ra là tôi biết kết quả là đội U23 nam Việt Nam sẽ thua. Chuyện có thật như đùa. Tan trận, tôi hỏi cậu làm cò, vì sao tụi nhỏ nó bán độ? Cậu ta thản nhiên trả lời. Bán độ nó cũng được thưởng 100.000USD, nhưng tụi nó có thêm tiền tỷ bố ạ. Đó là chưa kể đến chuyện nếu tụi nó đá thắng thì có thể đời cầu thủ của tụi nó không ai dùng!Thắng chỉ có chiếc huy chương vàng, sắc nước mà uồng với 200.000USD, nhưng số ấy có được đến tay tụi nó đầy đủ đâu hả bố? Ban đầu tụi nó chủ huề 90 phút để chia tiền kèo chấp thôi. Nhưng hiệp II dân cá cược dồn nhiều quá với kèo Việt Nam đá đồng sau 15 phút. Nên lệnh phải thua bố ạ. Bố cứ nghĩ mà xem. Trước trận đấu ra kèo Việt Nam chấp 1 trái. Nhưng chỉ 60 phút thi đấu còn đá đồng là sao? Rồi cậu ấy rồ xe đi nhậu. Vì sau mỗi trận đấu ai thắng, ai thua cậu ta cũng có tiền cò. Tôi cứ ngớ người ra: Ai lệnh phải thua vậy cà?

Chuyện bóng đá hay chuyện thể thao vua không còn là chuyện tinh thần thượng võ ở xứ mình từ lâu. Cũng đã có những án, và những cầu thủ đi tù trong quá khứ. Nhưng chiều nay, sau 50 năm niềm hy vọng Việt Nam lại về, và chợt tan biến. Tôi chỉ nghe và ghi nhận, tôi chỉ mong những gì mình nghe là không sự thật. Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại thấy cậu cò bóng đá cũng có lý. Nên chỉ ghi lại như đây là một sự kiện để nhớ trong đời, và để an ủi rằng bóng đá Việt Nam không thua Malaysia chiều nay. Con người ta bảo rằng: muốn sống hạnh phúc thì cuộc sống phải còn có niềm tin và hy vọng. Thôi thì cứ tin là bóng đá nam Việt Nam được vàng, vì cộng theo toán học của 2 trận gặp Malaysia trong Seagame lần này chúng ta thắng tỷ số 3-2!!! Hai muơi năm tham dự Seagame với 11 lần hy vọng. Cứ mỗi lần hy vọng lại 1 lần thất vọng tràn trề cho bóng đá. Bổng nhớ đôi mắt trắng dã trên khuôn mặt khắc khổ ông Weigang năm nào với câu nói trước khi từ gĩa đội tuyển Việt Nam: "can not win!"


Trong duy vật biện chứng có cặp phạm trù: Ngẫu nhiên và Tất nhiên. Cái gì xảy ra lặp đi, lặp lại thì từ ngẫu nhiên sẽ thành qui luật và tất nhiên. Ta thua 5 trận chung kết của 3 gương mặt Đông Nam Á trong Seagame: Thái, Sing, Mã lai. Vậy thì đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Đâu là hiện tượng, đâu là bản chất? Và đâu là nội dung và đâu là hình thức của những cuộc thua? Nên riêng tôi, tôi không nghĩ đơn thuần chỉ là bán độ của các cầu thủ như cậu cò đã nói trong chuyện bóng đá nước nhà. Mà thua vì lệnh của ai? Và ai mua bán độ trong những cuộc chơi này?


Trên đường đi làm về hôm nay, đường phố vắng tanh, không có cờ, không có kèn trống như hôm thắng Singapore trong trận bán kết. Dân Sài Gòn mà ai không sợ kẹt xe? Nhưng 20 năm nay cứ mỗi lần Seagame đến, tôi luôn mong được kẹt xe thâu đêm, suốt sáng vào cái đêm chung kết bóng đá Seagame  mà có đội nam Việt Nam tham dự 1 lần, chỉ 1 lần thôi, nhưng sao khó quá? Cứ nghĩ ngợi mông lung, phải chi người Việt biết trân trọng các cô gái vàng hơn thì cuộc vui sẽ lấp đầy cho cái khuyết mà bóng đá nam đã làm thất vọng. Những giọt nước mắt huy chương vàng của các cô gái Việt làm sung sướng bao nhiêu thì nước mắt nuốt vào lòng của các cầu thủ nam quặn thắt bấy nhiêu. Trong nước mắt nuốt vào lòng có vị đắng của cái gì thế nhỉ?



Tấm hình này của một phóng viên tác nghiệp tại Seagame 25 trong 1 entry có tựa đề: Tấm ảnh này nói lên điều gì? Tôi mang nó về blog để làm tài liệu lưu trữ.(Có người bảo tấm hình này giả mạo. Nhưng tôi vẫn update lúc 11h30 phút ngày 20/9/2009. Nếu giả mạo thì đúng là giang hồ mạng vô cùng nguy hiểm)



Tư gia, 23h30' ngày 23/12/2009

Tuesday, December 15, 2009

NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO: NHỮNG BẤT CẬP CỦA LOÀI NGƯỜI

Nên đọc Phần Iphần II trước

 Bài viết riêng tặng cho những nhà lý luận, và các bạn Việt Nam thuộc các chuyên ngành xã hội học. Đây là 1 bài viết kết hợp những trường phái triết học khác nhau: Phật học, hiện sinh học, phân tâm học, duy vật luận, nhị nguyên luận, Khổng giáo và duy vật lịch sử để có cái nhìn tổng quan về những gì con người tự đào mồ chôn mình.

Có khi nào các bạn đặt những câu hỏi: Tại sao ta phải tạo blog cho riêng mình? Tạo blog để nhằm việc gì? Tạo blog để phục vụ cho ai? và cuối cùng tạo blog để làm cái gì không? Những câu hỏi trông ra đơn giản thật, nhưng nó là bản thể luận triết học cho bản thân bạn nói riêng và bản thể luận triết học của loài người nói chung đấy các bạn ạ. Hay nói cách khác nó là cái tôi, cái bản ngã của mỗi cá thể nói riêng và của loài người nói chung. Loài người nói chung, có những bản thể luận triết học luôn tồn tại 2 loại:
1. Loại bản ngã có thể thay đổi, hay còn gọi là bản thể luận triết học thay đổi.
2. Loại bản ngã cố định, hay còn gọi là bản thể luận triết học cố định.

Nói về bản ngã thay đổi - Ở một thời điểm nhất định của một đời người bản ngã của cá thể có thể là công danh, là sự nghiệp hay là cả hai , etc... Tất cả những điều đó đều thay đổi theo thời gian. Nó có tính hiện tượng mà không là bản chất. Nó có tính hình thức mà không là nội dung, nó có tính bề nỗi mà không là cái nằm phía bên trong sâu thẳm của con người. Nó đại diện cho cái riêng, cái ngẫu nhiên cho từng cá thể trong một giai đoạn nhất thời. Nó được gọi là bản thể luận triết học thay đổi - hay bản ngã thay đổi.

Nói về bản ngã cố định - Tất cả các loài sinh vật được tạo hóa sinh ra trên hành tinh xanh chúng ta đều tồn tại cái bản chất của cái tôi, bản chất của bản ngã hay còn gọi là bản thể luận triết học cố định. Nó đại diện cho cái chung, cái hằng định, cái bản chất mà không là hiện tượng, nó là nội dung mà không là hình thức. Nó hằng định và tất nhiên trong suốt cuộc mưu sinh và kiếm tìm. Nó là bản ngã - hay còn gọi là bản thể luận triết học cố định của muôn loài. Cái cây, ngọn cỏ hay động vật ăn thịt etc... đều có bản năng sinh tồn, và tư hữu Nhưng tùy loài, bản năng sinh tồn và tư hữu thể hiện khác nhau của thực vật và động vật ở chỗ:
1. Thực vật chủ yếu thực hiện bản ngã cho việc sinh tồn và tư hữu. Cái cây, ngọn cỏ chỉ biết đứng yên, nên tạo hóa cho nó cái rễ để thực hiện bản năng sinh tồn. Một cây đại thụ không biết gạt bỏ rong, rêu và địa y ra khỏi thân mình, mà phải biết sống cộng sinh. Cây đại thụ có phần tư hữu mãnh đất mà nó đang sinh trưởng, thì rong rêu, địa y cũng biết tư hữu trên thân đại thụ.
2. Động vật, ngoài bản năng sinh tồn và tư hữu, còn có tư duy trí não. Nên bản ngã còn thêm một việc là thực thi cái tôi qua quyền lực. Động vật biết phải tỏ rõ quyền lực với đồng loại và khác loài.
Ở loài người cũng vậy, bản ngã cố định hay bản thể luận triết học cố định của con người luôn tồn tại 3 thuộc tính: bản năng sinh tồn, tính tư hữu và quyền lực. Quyền lực ấy không chỉ đơn thuần là quyền thống trị mà có thể chỉ là quyền chứng tỏ mình.

Bản ngã cố định của con người nó là những thuộc tính hằng định. Ngoại trừ những người tâm thần hay những người bất thường thì có thể không có 1 trong 3 thuộc tính: sinh tồn, quyền lực và tư hữu. Cái mất đi chung nhất ở những người tâm thần chỉ là quyền lực. Còn lại 2 thuộc tính sinh tồn và tư hữu không mất được. Nói dong dài như thề để hiểu rằng bản ngã hay cái tôi của con người là bản thể luận triết học. Đặc biệt cái tôi chung của loài người gồm: bản năng sinh tồn, tư hữu và quyền lực luôn có mặt, không mất đi, mà còn có thể vì nó loài người có thể tạo ra chiến tranh, chết chóc, etc.... Và nó luôn tồn tại theo thuyết nhị nguyên: tốt-xấu, hay-dở, u mê-sáng dạ, nam-nữ, âm-dương, etc...

Mọi chuyện bắt đầu từ sự tồn tại với thuyết nhị nguyên luận. Tôi không biết ai đặt cho cái tên Lý thuyết tương đối của Albert Einstein, với cái tên này, lý thuyết của ông không chỉ đúng cho khoa học tự nhiên mà còn đúng cho cả xã hội học. Không có cái gì tuyệt đối trên cõi đời này. Ngay cả toán học được cho là khoa học tuyệt đối, nhưng vẩn có số thực, số ảo, số hữu tỷ và số vô tỷ - toán lý thuyết và toán ứng dụng, etc... Hay nói cách khác có toán chính xác tuyệt đối và toán tương đối (như xác suất thống kê chẳng hạn). Và vì thế, lý thuyết thuộc ngành xã hội học càng mang tính tương đối đúng sai mà khó lòng hằng định hơn ngành tự nhiên. Vì lý thuyết xã hội dùng cho loài người, một loài mà tư duy luôn vật đổi sao dời sau mỗi sự vật, hiện tượng xảy ra.

Thế thì, có sự tồn tại về mặt tốt trong bản chất của loài người, thì cũng có sự tồn tại mặt xấu về mặt bản chất của 3 thuộc tính: sinh tồn, tư hữu và quyền lực. Chính nó đã làm loài người đi từ thái cực của sự tốt sang thái cực của cái xấu, nếu không tường minh. Tất cả những sự tồn tại về mặt bản chất (tức là bản ngã) trong con người, mà đại diện cái trì trệ từ cái bản ngã không tường minh đó là mọi nguyên nhân của mọi bất cập. Mọi sự vật, hiện tượng đi ngược với 3 thuộc tính của bản ngã loài người đều đưa đến u minh và thất bại.

Vì bản ngã mà trong mỗi chúng ta, mỗi ngày cứ xả rác một cách vô thức để hôm nay chúng ta cần giải quyết những sai lầm về biến đổi khí hậu toàn cầu và cả thế giới đang lúng túng với sự đào mồ chôn mình.

Để chứng tỏ sự tồn tại uyên bác của mình Karl Marx đã tìm ra "giá trị thặng dư" một cách tường minh. Nó đã giúp nhân loại xích lại gần nhau, chủ tớ đối đãi nhau nhân bản hơn. Nhưng cũng để chứng tỏ bản ngã không tường minh của mình, Marx đã chủ trương tiêu diệt các bản ngã của loài người - tiêu diệt thuộc tính tư hữu. Cái mà về mặt triết học, nó là thuộc tính của loài người. Cái tư hữu và cái quyền lực, cái mà đã là thuộc tính, bản chất của nhân loại là cái qui luật. Như vậy Marx đã đi ngược lại qui luật của nhân loại, tức Marx không tường minh, và không nhân bản. Khi ông muốn tiêu diệt tư hữu để xóa bỏ giai cấp là ông đi ngược với 3 qui luật triết học mà bạn ông, Engels cố công góp nhặt. Vì một xã hội không có nhiều giai cấp là xã hội mất đi sự đối lập và mâu thuẫn.

Vì không tường minh, nên Marx đã bắt đầu tư món quà vô giá của bạn mình là Engels trao tặng - duy vật biện chứng - để đặt nền tảng là: Vật chất - Ý thức; nhưng khi đi đến kết luận của nhận thức luận của Marx lại là: chủ nghĩa cộng sản khoa học - một hình thái xã hội mà ở đó loài người sống với nhau không có quyền lực, không có tư hữu. Hay nói cách khác không có sự tồn tại về mặt bản chất - bản thể luận triết học của loài người. Và ở đó Marx tự mâu thuẩn với Marx khi ông cho rằng con người sống với Ý thức - Vật chất, chứ không phải là Vật chất - Ý thức như ban đầu ông đã mượn nó, đặt ra để làm nên bộ phận duy vật lịch sử của ông. Vậy Marx đúng hay sai? Các bạn tự trả lời một cách tường minh về mặt triết học sẽ rõ. Tôi viết ra điều này vì mấy hôm nay các nhà lãnh đạo 2 nước Việt-Trung đang làm một cuộc Trao đổi lý luận mà không làm cuộc Hội thảo Duy vật biện chứng để tìm ra một hình thái xã hội phù hợp cho nước nhà.

Để chứng tỏ quyền lực và tư hữu trong cái bản ngã của các cường quốc, họ đã làm ra bom đạn đi uy hiếp thế giới còn lại, từ những ý tưởng tốt đẹp của các nhà khoa học. Để chứng tỏ quyền lực và tư hữu các nhà chính trị đã dùng ý tưởng tốt đẹp nhưng không tường minh của các tư tưởng gia thế giới làm khuôn khổ và luật định cho xã hội. Mặc dù ngay cả bất kỳ ai, từ Khổng Tử với Nho giáo hay Marx với duy vật lịch sử đều phải bị thế hệ ông ruồng bỏ phải sống lang thang, nghèo đói từ nước này sang nước khác.

Để chứng tỏ bản ngã cha gia trưởng với con; chồng gia trưởng với vợ; lãnh đạo "hành dân"; ect... Và các bạn có thể tìm thấy những bất cập về mặt gia đình, xã hội luôn xảy ra bất kỳ nơi đâu trên thế giới này. Sự tường minh về bản ngã con người bao nhiêu thì xã hội sẽ minh bạch và ít bất cập bấy nhiêu và ngược lại. Ở đâu triết học được thấu hiểu là khoa học, ở đó có ít bất cập. Ở đâu mà triết học bị lạm dụng và bóp méo vì mục đích khác, ở đó lắm bất cập và sẽ thất bại. Nó không chỉ lý giải tại sao giáo dục Việt Nam có chuyện không giống ai là dạy chống tham nhũng trong trường phổ thông; hay chuyện đăng báo giật gân với cái tựa Tôi khỏi ung thư nhờ trà xanh, mà nó còn lý giải hầu hết bất cập của xã hội chúng ta ở quá khứ, hiện tại và tương lai trong tất cả các lĩnh vực; nếu không có những nhận thức luận tường minh giải quyết những bất cập về bản ngã của con người, mà lâu nay đã "nhìn nhầm" do copy từ những cái sai của người khác.

Tóm lại cho bài viết này tôi xin ghi ra hết 3 vế của câu nói minh triết của ngài Tất Đạt Đa: "Duyên khởi (sự vật hiện tượng xảy ra) thì tâm động (bản thể luận của sự vật hiện tượng xuất hiện). Tâm động (bản thể luận xuất hiện) thì nghiệp chướng trùng trùng, điệp điệp (nhận thức luận đưa đến). Tu Phật là tu tâm (để tường minh và tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề về nhận thức luận)" là câu nói mà mỗi con người trên hành tinh xanh phải chiêm nghiệm và thấu hiểu - Đâu là nhận thức luận để giải quyết bản chất xấu của vấn đề còn tồn tại - Đâu là nhận thức luận để làm xấu đi một qui luật của muôn đời. Bài viết này chỉ mong các nhà quản lý đất nước trong mọi lĩnh vực tường minh về mặt triết học để nhìn thấy tại sao đất nước Việt hơn nữa thế kỷ nay luôn có bất cập; bất cập không chỉ riêng rẻ một lĩnh vực; mà bất cập toàn diện.

Mong thấu hiểu,

Sunday, December 13, 2009

NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO: TRIẾT HỌC TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Nên đọc PHẦN I: MỞ ĐẦU trước


Bài viết riêng tặng cho con trai và tất cả các bạn trẻ Việt đang đi theo con đường khoa học trong mọi lĩnh vực.

Đúng ra bài này không có trong dự tính của tôi. Nhưng nhờ TS Vũ Thị Phương Anh vào bàn luận trong bài này, nên nó giúp tôi có ý tưởng viết để cho các bạn nào chưa thấy tầm quan trọng của triết học như định nghĩa của nó. Hòng giúp cho những người làm khoa học biết nghiên cứu khoa học hơn và biết nhìn một công trình nghiên cứu khoa học nào có giá trị và công trình nào không có giá trị. Hiểu theo nghĩa triết học thì một công trình nghiên cứu khoa học là một công trình triết học. Nó có nhiệm vụ  đi tìm bản thể luận của vấn đề nghiên cứu và sau đó sử dụng phương pháp luận (trong nghiên cứu gọi là phương pháp nghiên cứu) để đi tìm ra nhận thức luận của vấn đề được nghiên cứu.

Chúng ta hãy quay lại định nghĩa của nghiên cứu khoa học(NCKH) là gì? NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức etc... đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất của sự vật của thế giới tự nhiên và xã hôị, nhằm sáng tạo ra phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới hơn, cao hơn và giá trị hơn để thay thế dần cái cũ hơn, lạc hậu hơn và ít hiệu quả hơn. Ví dụ: khi nhà nước Việt Nam quyết định cỡi trói kinh tế có chỉ huy, một thành phần, bao cấp để thực hiện kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chứng tỏ kinh tế bao cấp, có chỉ huy của chính trị là không bằng kinh tế thị trường. Nhưng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kinh tế nhiều thành phần có chỉ huy của chính trị là tốt hơn hay xấu hơn kinh tế thị trường theo qui luật cung cầu thì nhà nước Việt Nam vẫn xem là một mô hình mới, chưa từng có ở đâu trên thế giới và vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Tức là đang thực hiện một cuộc nghiên cứu về khoa học xã hội trên hơn 86 triệu dân Việt với một điều chưa biết, chưa rõ là nó tốt hơn hay xấu hơn, như trong một bài viết của tôi.

Bao giờ cũng vậy, một công trình nghiên cứu chuẩn gồm những công đoạn:
1. Đặt vấn đề, trong đặt vấn đề luôn có mục đích và mục tiêu nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu, luôn có thiết kế nghiên cứu và phương pháp toán học cho nghiên cứu.
3. Kết quả.
4. Bàn luận.
5. Kết luận.
Dĩ nhiên để có 5 công đoạn trên của một công trình nghiên cứu khoa học chuẩn bao giờ người làm nghiên cứu cũng có cái tên của đề tài nghiên cứu. Tên đề tài nghiên cứu, tôi không nhắc ra ở đây, nhưng nó là cái quan trọng, nó nói lên tất cả bản thể luận và nhận thức luận của một công trình. Một người hiểu biết nghiên cứu thấu đáo, đã từng làm nghiên cứu chuẩn, chỉ cần đọc tên một đề tài có thể hiểu đề tài có giá trị hay không! Tôi muốn lưu ý tên đề tài nghiên cứu trước khi đi vào phân tích triết học trong nghiên cứu khoa học là ở điểm mấu chốt này.

Thế thì bản thể luận (ontology) trong một công trình nghiên cứu là ở đâu? Xin nhắc lại, bản thể luận là đi tìm bản chất của sự tồn tại. Ở đây, một công trình nghiên cứu chuẩn luôn có mục đích và mục tiêu nghiên cứu. Chính mục đích và mục tiêu nghiên cứu là bản thể luận của nghiên cứu khoa học. Vì 2 lẽ sau đây:
1. Mục đích nghiên cứu là nhằm trả lời 3 câu hỏi: tại sao phải làm? làm vì nhằm vào việc gì? để phục vụ cho điều gì?
2. Mục tiêu nghiên cứu là để trả lời câu hỏi: làm cái gì?
Cả 2 lẽ trên là đi tìm bản thể luận của vấn đề cần nghiên cứu. Khi một công trình nghiên cứu chuẩn luôn đặt ra vấn đề đi tìm bản chất của sự vật, hiện tượng đang tồn tại được đưa vào nghiên cứu. Nếu một công trình nghiên cứu mà vấn để được đặt ra không giải quyết được bản thể luận hay còn gọi là cái bản chất của một sự vật, hiện tượng đang còn những tồn tại bất cập hay chưa hiểu biết thì công trình nghiên cứu đó chưa chuẩn.

Và như vậy phương pháp luận của một công trình nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu (Methodology). Sau khi đã đặt ra những vấn đề còn tồn tại (mục  đích nghiên cứu) và đưa là những công việc phải đi tìm bản chất của sự tồn tại (mục tiêu nghiên cứu) thì người ta tiếp tục đưa là phương pháp luận triết học để giải quyết và đi tìm bản chất của vấn đề còn tồn tại. Tức đi giải quyết bản thể luận của vấn đề. Nó nằm ở phần thứ 2 của một công trình nghiên cứu, đó là phương pháp nghiên cứu. Mỗi đề tài nghiên cứu thuộc loại nào, đều có sự tương ứng với một phương pháp nghiên cứu cho nó. Nếu công trình nghiên cứu đặt ra bản thể luận A mà dùng phương pháp nghiên cứu không tương ứng với A, lại tương ứng với B là một công trình nghiên cứu không chuẩn và kết quả của nó sẽ không có tính ứng dụng vào thực tiễn. Một cách tổng quát, tôi tâm đắc với TS Nguyễn Văn Tuấn trong bài viết này.

Bước thứ ba trong công trình nghiên cứu chuẩn là bước dùng hiện tượng học  (Phenomenology) để ghi nhận những hiện tượng và sự vật để cho ra kết quả của nghiên cứu mà mẫu nghiên cứu đã được thiết kế trong phương pháp nghiên cứu. Lúc này vai trò của hiện tượng học trong triết học đóng vai trò quan trọng. Mọi ghi nhận trung thực, khách quan mà không theo kiểu chủ quan và chủ nghĩa kinh nghiêm của hiện tượng học đều đóng vai trò rất quan trọng cho quá trình thu thập dữ liệu cho một công trình nghiên cứu chuẩn. Cho nên hai trong những đức tính tối quan trọng cho một người làm khoa học là luôn khách quan và trung thực.

Phần bàn luận là phần làm rõ hơn vài trò của phương pháp luận, để tìm ra những cái đúng, sai, tốt xấu etc... của vấn đề nghiên cứu để đi đến kết luận. Lúc này có sự kết hợp giữa phương pháp khoa học (Methodology)  theo phép biện chứng (Dialectics) và nhận thức luận (epistemology) cho vấn đề để bàn luận tìm ra những nhận thức nào cần, những nhận thức nào của nghiên cứu không cần. Để cuối cùng đưa ra những kết luận cuối cùng tương ứng với phần đặt vấn đề của một công trình nghiên cứu.

Như vậy, kết luận của một nghiên cứu là giải đáp vấn đề nhận thức luận của vấn đề cần nghiên cứu. Nó giải đáp bản chất, nguồn gốc và phạm vi hiểu biết của vấn đề còn tồn tại. Hay nói cách khác là nó tìm ra câu trả lời cho bản thể luận còn đang chưa được khai phá, kiểm chứng ... để đưa ra bản chất của vấn đề nghiên cứu sẽ có giá trị mới hơn, cao hơn và có giá trị hơn cái cũ để áp dụng vào cuộc sống sinh động bằng sự phát triễn kỹ thuật cho tự nhiên hoặc một học thuyết mới phù hợp với xã hôị đang cần.

Qua đó, ta thấy rằng: Như ví dụ tôi đã nêu ở đầu bài viết, nếu nhà nước Việt nam có những công trình nghiên cứu một cách toàn diện, chuẩn cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nhà nước Việt Nam trước hết phải xác định rõ 3 vấn đề cho nền kinh tế này là:
1. Có định nghĩa rõ ràng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì?
2. Bản thể luận của nó là gì?
3. Và cuối cùng là đi tìm nhận thức luận của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để đưa ra những qui luật, học thuyết phù hợp với tình hình xã hội. Nếu không, chúng ta như thầy bói mù sờ voi và tổ quốc, dân tộc sẽ là vật thí nghiệm của những trò chơi chính trị.

Hy vọng bài viết ngắn này sẽ giúp cho các bạn trẻ là sinh viên triết học, kinh tế học, giáo dục, y tế, sinh học, toán học, vật lý học, hóa học, giao thông vận tải, cơ khí, hàng hải, nông, ngư, lâm nghiệp etc..... làm nền tảng để tìm ra những bản thể luận đang tồn tại trong chuyên ngành mình và tìm ra được nhận thức luận để đưa từng ngành nghề tốt hơn, phù hợp hơn cho tổ quốc và dân tộc trong tương lai gần. Hy vọng lắm, các bạn có gì hỏi và chưa rõ cứ hỏi. Một nhà khoa học là một người trung thực, khách quan, không sợ dốt và  giấu dốt, vì biển học là vô bờ. Nên tôi cũng mong các bạn nào hiểu biết hơn đóng góp cho tôi bài viết này hoàn thiện hơn, tôi cảm ơn nhiều.

Cuối tuần vui vẻ,

Asia Clinic, 13h45' ngày 13/12/2009

Thursday, December 10, 2009

NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CỦA NGƯỜI NGOẠI ĐẠO: MỞ ĐẦU


 Loạt bài viết về triết học riêng tặng cho con trai và chung cho tất cả các bạn trẻ Việt đang đi theo con đường khoa học trong mọi lĩnh vực.

Là một người ngoại đạo của ngành triết học. Nhưng tôi quan tâm đến triết học như một khoa học. Kể ra đến giờ này, triết học đã giúp tôi rất nhiều trong học tập, làm việc và giữ cho mình 1 số kiến thức của nhân loại mà không bị quá tải. Như trong bài viết về Tư duy và cuộc sống, tôi có đề cập đến chuyện dân mình chưa được đánh thức đúng tầm và triết học chưa có vai trò tốt ở Việt Nam. Nên tôi có ý nguyện viết ra một cách bình dân, dễ hiểu về triết học. Bên cạnh những trường phái triết học khác, đặc biệt đối với Duy vật biện chứng của Engels, tôi xem nó là một công cụ khoa học để lý giải và giúp tôi hiểu một sự vật hiện tượng trong khoa học tự nhiên và xã hội mà không lầm lẫn. Hy vọng loạt bài này sẽ giúp cho tôi hệ thống lại tư duy khoa học bị mai một theo thời gian. Và nó cũng giúp được các bạn trẻ khi đọc có cái nhìn khoa học về triết học mà không dị ứng với nó là chính trị học, để lấy nó làm cơ sở nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra các qui luật của các đối tượng nghiên cứu - như định nghĩa của nó.

Như trong bài Ngành y Việt Nam cần thay đổi gì? phần III: Quản lý, tôi chỉ cần mang triết học duy vật biện chứng ra nhìn vấn đề quản lý vĩ mô nước nhà là thấy ra khuyết tật cơ bản của quản lý chúng ta hiện thời là không khoa học và sai nên mới có những bất cập cho toàn xã hội. Nên tôi muốn ghi lại công trạng Engels mà lâu nay bị bỏ quên và chỉ thấy nhắc đến Marx và Lenin. Những bài viết mà lâu nay tôi viết nó tản mạn khắp nơi, hôm nay tôi chỉ đúc kết lại ở đây, để khi cần dùng. Có thể nó sai trong quan niệm của tôi khi bạn khác nhìn vào, nếu có bạn nào thấy sai thì góp ý để tôi được tỏ tường hơn. Vì biển học là vô bờ mà khả năng của một con người là hữu hạn.

Tôi xin đề cập đến trường phái Engels-Marx trước. Các trường phái khác sẽ từ từ đụng đến sau. Theo hiểu biết của tôi, bộ phận có giá trị nhất trong trường phái triết học Engels-Marx (tôi xin phép ghi như thế, vì không có Engels thì không có Marx) là bộ phận Duy vật biện chứng của Engels. Nếu không có bộ phận duy vật biện chứng thì Marx không thể đẻ ra được "giá trị thặng dư" - một phát kiến làm đảo lộn tư tưởng nhân loại suốt hơn 150 năm qua. Từ giá trị thặng dư, Marx đã làm nên 2 bộ phận duy vật lịch sử (miền Nam trước 1975 dịch là duy vật sử quan) và chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Tôi không biết có sự "nhầm lẫn" trong việc cổ xúy hệ thống triết học Engels-Marx ở Việt Nam hay không? Nhưng, với duy vật lịch sử của Marx thì nó còn có thể xem là triết học. Nhưng khi đến chủ nghĩa cộng sản khoa học thì bộ phận này không còn là triết học nữa. Mà nó là chính trị học(Political science). Đây là đánh giá của tôi về mặt khoa học triết học. Vì triết học được định nghĩa là: môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra các qui luật của các đối tượng nghiên cứu.

Tức là khi một tư duy của 1 chuyên ngành khoa học tạo ra thành quả thì thành quả ấy không phải là khoa học ấy nữa, mà là một sản phẩm của khoa học, sản phẩm ấy có thể là của một ngành khoa học khác với nó. Ví dụ khi phát hiện sóng siêu âm, thì đó là của khoa học vật lý. Nhưng khi ứng dụng sóng siêu âm làm ra máy siêu âm chẩn đoán hình ảnh trong y học thì cái máy đó là sản phẩm ứng dụng của khoa học vật lý. Nó thuộc về Vật lý y học (Medical Physics). Và cũng như thế, chủ nghĩa cộng sản khoa học của Marx là sản phẩm của bộ phận duy vật lịch sử. Nó là chính trị học chứ không là triết học như lâu nay chúng ta vẫn nghe, thấy, đào tạo và học trong nhà trường thì nó là triết học!!!

Nói về duy vật biện chứng của Engels, người có công đúc kết lại từ 2 trường phái chính: trường phái chủ nghĩa duy vật do Ludwig Andreas Feuerbach và trường phái phép biện chứng của Geoge Wilhelm Friedrich Hegel - là bộ phận có giá trị về mặt lý luận đưa đến thành công cho mọi người chứ không chỉ cho Marx. Nhờ nó mà Marx mới có thành quả cho mình. Thực ra, trong bộ phận này của Engels cũng có góp nhặt ý tưởng của ngài Tất Đạt Đa, khi ở đó có cặp phạm trù Nhân-Quả. Vì Feuerbach và Hegel sinh sau để muộn hơn ngài Tất Đạt Đa những hơn 2.000 năm!

Xét về mặt duy tâm và duy vật thì với tôi: trong tâm có vật và trong vật có tâm. Không có trường phái thuần duy tâm và cũng không có trường phái thuần duy vật. Nó cũng giống như câu thơ trong nhạc Trịnh: "Làm sao em biết bia đá không đau?". Đất cũng có phần hồn của đất. Nó cũng có sinh và có tử, cho nên ngày nay thiên hạ lo lắng 4 vấn đề cấp bách cho trái đất tại hội nghị Copenhagen. Nên với tôi, gán cho nó chữ duy vật luận(Materialism) hay chữ duy tâm luận(Idealism) cũng chỉ là một hình thức có tính phân loại hơn là khoa học.

Nói đến triết học thì không thể quên mục đích của nó. Như định nghĩa đã cho thấy triết học là gì? Thì mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản về bản thế luậnnhận thức luận.

Ngài Tất Đạt Đa có câu nói rất minh triết: "Duyên khởi thì tâm động, Tâm động thì nghiệp chướng trùng trùng điệp điệp". Thực chất của bản thể luận là triết học nghiên cứu bản chất của sự tồn tại. Bản thể luận không có gì là ghê gớm như những gì ta đọc trong triết học mà nó chỉ là một giai đoạn trong quá trình lý luận triết học để đi tìm sự tồn tại. Và nó gói gọn trong câu nói đơn giản của René Decartes: "Tôi tư duy, tôi tồn tại".  Nó cũng giống như cái vế thứ nhất của ngài Tất Đạt Đa đã nói: "Duyên khởi thì tâm động." Có nghĩa là khi anh tư duy thì anh mới biết có anh tồn tại và thế giới xung quanh tồn tại. Còn sự tồn tại ấy như thế nào thì anh sẽ dùng nhận thức để lý luận tìm ra. Và mới có nhận thức luận cho sự vật hiện tượng. Phần còn lại của bản thể luận chỉ là phần thiết lập những ngôn ngữ và khái niệm của triết học.

Còn nhận thức luận là triết học nghiên cứu bản chất, nguồn gốc và phạm vi của tri thức con người. Tức là khi ta dùng triết học để lý giải một vấn đề để ta tìm ra bản chất, nguồn gốc và phạm vi của vấn đề là ta đang đi vào nhận thức luận để hiểu vấn đề đó. Giống như vế thứ hai của ngài Tất Đạt Đa đã nói: "Tâm động thì nghiệp chướng trùng trùng, điệp điệp". Ví dụ như khi ông Marx dùng duy vật biện chứng của ông Engels để làm nền tảng lý luận thì mới nhận thức ra cái mới của vấn đề là:"giá trị thặng dư". Tất cả những kết quả trên đều có tính tương đối khi cái mốc tư tưởng được đặt ở vị trí và góc độ nào của vấn đề. Nhưng nếu biết dùng triết học để nhìn nhận sự vật hiện tượng theo đúng nghĩa triết học thì sẽ thấy vấn đề đúng hơn và biện chứng hơn.

Tôi sẽ còn quay lại vấn đề nói chuyện triết học một cách bình dân nhất, dễ hiểu nhất theo hiểu biết của tôi khi ứng dụng vào khoa học và cuộc sống sinh động đang diễn ra xung quanh chúng ta, trong những bài viết sau. Hôm nay nhiều tâm trạng sau một đêm bí tỉ với bạn bè, nên viết không được cô đọng và xúc tích lắm. Mong mọi người thông cảm.


Đón đọc phần II: Triết học trong nghiên cứu khoa học


Asia Clinic, 12h30' 11/12/2009

Wednesday, December 9, 2009

CẦN CÁI NHÌN DUY LÝ CHO GIÁO DỤC


Hôm trước, trên báo Tuổi trẻ có bài Trẻ em VN thành “người nước ngoài”? và hôm nay trên báo Pháp Luật TP Hồ Chí Minh lại có một bài của một vị giáo sư có tiếng, với cái tựa rất bắt mắt: Đừng ươm mầm cho sự "mất gốc". Bài của ông GS Tương Lai tuy có cái nhìn duy lý hơn bài trên Tuổi Trẻ. Nhưng suy cho cùng ông cũng có ý nghĩ là học trường Quốc Tế trẻ con sẽ mất gốc.

Thiết nghĩ, chuyện mất gốc của trẻ con hay không, không chỉ đơn thuần do giáo dục đóng vai trò then chốt. Then chốt của vấn đề mất gốc ở trẻ con là do yếu tố gia đình và xã hội hơn là giáo dục của nhà trường. Đã có biết bao thế hệ người Việt được đào tạo thời kỳ Pháp đô hộ, chỉ học tiếng Pháp và lịch sử Pháp. Nhưng tại sao họ vẫn yêu nước nồng nàn, không những không mất gốc mà còn góp phần gầy dựng một nền giáo dục tốt trong những ngày đầu dựng nước của thế kỷ qua? Để kiểm chứng và liệt kê những danh sách này thì không thiếu những con người đã về cõi vĩnh hằng và những người đang còn sống, ngày đêm ấp ủ và mong mỏi Việt nam có một nền giáo dục tốt. Và ngay cả những con người thời học trò thì học với Pháp đến sau đại học thì học với Mỹ như GS Dương Thiệu Tống, ông vẫn là người đáng để ngành giáo dục Việt Nam 100 năm sau vẫn còn phải học hỏi và nghiên cứu tư tưởng giáo dục của ông.

Như tôi đã từng viết tản mạn trên blog của mình về vấn đề Giao lưu văn hóa và sự phát triển, và một số vấn đề khác về văn hóa cộng đồng Việt Nam hiện nay - không chỉ đơn thuần là giáo dục. Nó là hậu quả của lịch sử và vấn nạn của văn hóa nền duy tình khi sự hội nhập ào vào, nhưng tư thế và tâm thế chuẩn bị chưa có. Một thời đất nước đã duy ý chí đưa đến bất lực khi không biết tự đi. Để rồi chúng ta đã có một đường lối thay đổi chỉ đặt nặng kinh tế, nhưng chưa có tư thế và tâm thế chuẩn bị một cách toàn diện tất cả các lĩnh vực khác song hành. Hậu quả tha hóa, suy đồi văn hóa nền dân tộc là điều không thể tránh.

Về phương diện kinh tế thị trường, như một bài viết của tôi. Khi nhu cầu cần đáp ứng mà cung chưa đạt, thì không có gì lạ khi tất cả các phụ huynh đành phải cho con mình tỵ nạn giáo dục. Rồi kinh tế thị trường sẽ sắp xếp chuyện dạy và học đúng hướng. Vấn đề vĩ mô còn lại là các nhà thiết kế và lãnh đạo giáo dục phải bình tĩnh nhìn cung-cầu cho đúng để có sách lược tốt. Không nên hùa theo kiểu đám đông mà đưa ra những luật lệ  và cải cách không giống ai, để rồi ngành giáo dục ngày càng giống một món tả pí lù như lâu nay.

Theo tôi, đất nước chúng ta đang cần một thế hệ trí thức duy lý hơn và một nhà kiến trúc sư thiết kế cho tư thế và tâm thế đất nước trong lúc này - hơn là chúng ta chỉ biết nhìn sự việc ở góc độ bi quan từng vấn đề nhỏ lẻ. Mọi người nghĩ sao?

Tuesday, December 8, 2009

THÔNG BÁO

Hôm nay tớ đã đăng ký 1 domain miễn phí cho blog của mình tại trang domain: www.co.cc. Sau khi lấy tên miền này thì blog của tớ vào được nhanh hơn. Không chậm như ngày xưa nữa và không cần open DNS cũng vào dễ dàng hơn.

Địa chỉ của blog của tớ bây giờ là: www.bshohai.co.cc

Xin thông báo cho các friends được rõ. Các bạn vào www.bshohai.blogspot.com sẽ không còn tìm ra blog của tớ nữa.

Sunday, December 6, 2009

KHI LÃNH ĐẠO VÀ TRÍ THỨC CÙNG NHỊP ĐẬP


Mấy hôm nay Seagame 25 đã được  khởi động ở Viêng Chăn và 2 thành phố Luang Prabang và Savannakhet cùng đăng cai. Do thiếu kinh phí nên nước bạn hiền hòa Lào chỉ chi ra 50 triệu USD để xây dựng và đăng cai tổ chức 25 môn thi đấu. Ít hơn 18 môn so với Seagame 24 tổ chức ở Nakhon Ratchasima, Thái Lan.

Qui mô nhỏ là thế, nhưng các nhà lãnh đạo Lào đã có một tầm nhìn chiến lược cho quốc gia dân tộc, khi họ cho xây một quần thể phức hợp quanh đại học Quốc Gia Lào tại Viêng Chăn. Phức hợp này gồm 6 khu liên hợp:Khu liên hợp thể thao Quốc gia, Đại học Quốc gia thuộc Trung tâm thể thao Lào, Trung tâm thể thao Chao Anuvong, Trung tâm thể thao Lao-ITECC, Trung tâm thể thao Beungkhangong tại khách sạn Cung điện Don Chan. Tất cả những công trình trên quần tụ quanh Đại học Quốc gia Lào. Công ty đở đầu và góp phần xây dựng cũng như viện trợ cho tất cả công trình trên là một tập đoàn tư nhân có tiếng của Việt Nam.


Tất cả những điều đó tuy không có gì là đình đám và qui mô hoành tráng như các kỳ Seagame khác, kể cả Seagame 22 của Việt Nam năm 2003. Nhưng có một điều cho thấy tầm chiến lược của các lãnh đạo Lào có cái nhìn xuyên thế kỷ. Một người bạn thân của tôi hiện đang sinh sống và làm việc ở đại học Quốc gia Lào nói trong tự hào và giải thích rằng, sau khi Seagame kết thúc toàn bộ phức hợp làng vận động viên Seagame tại Viêng Chăn sẽ được hợp thức hóa vào trường Đại học Quốc gia Lào. Đây là công sức của tập thể lãnh đạo nước Lào và ý tưởng của trí thức Lào. 

Tức là, nhờ Seagame mà nước Lào sẽ có một trường Đại học có thể xem là lớn nhất Đông Nam Châu Á với sức chứa  có thể lên đến khoảng 10.000 sinh viên, với đầy đủ tiện nghi hiện đại, theo tiêu chuẩn quốc tế, cho tất cả các chuyên ngành mà những Universities của khu vực có mơ cũng không có được. Họ dự trù sẽ thuê giáo sư trên thế giới về dạy và đào tạo nhân tài cho đất nước họ, cũng như sẽ đẩy giáo dục đại học của Lào đứng vào hàng đầu khu vực để thu hút du học sinh và tự kiếm tiền từ giáo dục đại học. Một ý tưởng mà theo hiểu biết nhỏ nhoi của tôi thì chưa có nước nào trong khối Asean làm. Một công đôi việc, vì nước, vì dân.


Như vậy, đâu cần phải tốn tiền hơn và đình đám hơn mới có được một trường Đại học Quốc gia với qui mô tầm cỡ Quốc tế? Một nước anh em, hiền hòa và còn nghèo hơn ta cũng biết tận dụng những đại hội thể thao khu vực để lo cho giáo dục nước nhà. Họ không hô hào cải cách như ta. Họ không phải tốn kinh phí như Việt Nam ta cũng sẽ có 4 trường đại học đẳng cấp Quốc tế với kinh phí ngang bằng người Lào xây dựng Seagame 25 cho mỗi trường. Thế nhưng, không biết về qui mô có bằng trường đại học Quốc gia Lào sau Seagame không?



Từ lý thuyết và tư duy của trí thức Lào đã góp ý với chính phủ Lào về ý tưởng sẽ làm gì cho những công trình sau Seagame; Chính phủ Lào đã biết lắng nghe và thực hiện cho tổng công trình khiêm tốn nhất trong các kỳ đại hội Đông Nam Á này đang và sẽ trỡ thành hiện thực. Một ước mơ mà có đến gần 1 thế kỷ qua trí thức Việt có mơ cũng không có được. Nhìn lại Seagame 22 của nước Việt thì "buồn hơn con chó ốm" (mượn lời thơ của cố GS Nguyên Sa, Trần Bích Lan, có sửa chữ "như" thành chữ "hơn"). Hãy nhìn lại các công trình Seagame 22 của ta tản mạn từ Nam-Bắc-Trung để làm gì để bây giờ tốn tiền bảo dưỡng, duy tu và phơi gan cùng tuế nguyệt, chưa biết dùng vào việc gì để sử dụng hết công suất của chúng? Chỉ thấy chúng ngày càng xuống cấp rất nhanh.



Thế mới thấy vị trí vai trò của người trí thức với xã hội quan trọng như thế nào? Và càng thấy một thế hệ lãnh tụ biết lắng nghe trí thức và vì dân, vì nước sẽ có lợi cho dân tộc biết bao? Viết tới đây bổng tôi nhớ đến người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 2006, Muhammad Yunus, người Bangladesh, sáng lập ra hệ thống Ngân hàng Grameen để giúp cho người nghèo thoát đói nghèo trên toàn thế giới. Ông có câu nói rất nổi tiếng khi phát biểu ở Oslo lúc nhận lãnh giải: "Chính trị hầu hết nó kiềm chế và đưa xã hội loài người đi đến chiến tranh và đói nghèo. Tôi chỉ làm công việc bình thường nhất là giúp con người sống ở tình trạng bớt nghèo trong mọi hoàn cảnh".


Còn tôi, tôi không đủ tài cao và đức độ như ông Muhammad Yunus . Nên tôi chỉ có ước mơ đơn giản của một công dân bình thường, là đất nước mình có những thế hệ lãnh đạo biết lắng nghe chỉ như nước Lào ngày nay, để trí thức và lãnh đạo cùng chung một nhịp đập của tư duy và hành động, hòng đưa đất nước đi lên.

DƯỢC PHẨM TRONG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG HIV/AIDS NĂM 2009


Hôm nay thấy thông tin về những dược phẩm đã được thử nghiệm lâm sàng với HIV/AIDS trong năm 2009. Đây chỉ là những phát súng vu vơ không có mục đích và cũng chưa có hy vọng gì để có thể làm nên thay đổi trong điều trị HIV/AIDS. Vì nó chưa đánh vào đúng về mặt biện chứng của con HIV tráo trở này như một bài viết của tôi trước đây.

Dù sao thì tổng kết này cũng cho các thầy thuốc có cái nhìn tổng quan về những thử nghiệm lâm sàng và nỗ lực của thế giới trong 1 năm qua để chống lại HIV/AIDS. Hy vọng với phát minh của nhóm Sudhir Paul sẽ mở ra cho thế giới dược phẩm một chân trời mới trong điều trị HIV/AIDS trong tương lai gần.

Friday, December 4, 2009

TƯ DUY VÀ CUỘC SỐNG


Ở các trường từ phổ thông đến đai học của các nước tiên tiến, trong đào tạo rất chú trọng đến một loại tư duy cao cấp, tư duy ấy được gọi một từ tiếng Anh là Critical Thinking. Từ Critical Thinking có người dịch ra là: tư duy phê phán hay tư duy phản biện. Song, nếu dịch đúng tận cùng theo nghĩa tiếng Việt, theo tôi nên dùng từ: tư duy tới hạn hoặc là tư duy then chốt. Vì với loại tư duy này sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề có tính đột phá và đưa ra phần cốt lõi, cái nguyên nhân, nội dung, bản chất đến tối giản nhất để tìm ra cái then chốt và cái tận cùng của vấn đề tại sao cần giải quyết, giải quyết ở đâu? giải quyết cái gì? Và phương pháp giải quyết như thế nào? ...

Thời gian qua tôi bắt đầu viết blog, mặc dù tôi cũng đã từng dùng blog trước đây khi còn Yahoo 360, nhưng chủ yếu là để lang thang đi bàn luận với cộng đồng. Bây giờ viết, tôi không phải nhà văn, cũng chẳng phải nhà thơ. Dù thời sinh viên cũng gắng làm thơ, vì yêu thơ, một loại hình văn học mà ở đó chỉ cần 1 câu ngắn đã có thể nói lên 1 ý tưởng có thể phải cần vài trăm trang để kiến giải. Biết mình yếu về lĩnh vực dùng từ, nên khi viết cũng cố để lý giải sao cho có một tư duy tới hạn. Cả một đời thơ của tôi cũng chỉ rặn ra được 2 câu từ thời sinh viên, mà tôi cho là tôi tâm đắc nhất: "Hãy là Ta đi lại từ đầu, đừng nên là Người bước vội về sau". Sau đó tắc tị. Cũng lắm người chê, và không hiếm người khen.

Tôi xin nói phần khen trước, vì ai chả thích mình được khen. Nhưng khen đúng thì mới là bạn. Có người khen vì họ tìm thấy bóng dáng mình trong những bài viết của tôi. Có người khen vì họ tìm thấy tư duy mình trong những bài viết ấy. Nhưng tôi thích những người khen bài viết của tôi vì họ tìm thấy tư duy của họ ở những trăn trở của tôi hơn là loại kia. Vì đó là thể hiện cái mà người ta gọi là Critical Thinking của mỗi bộ óc. Có bạn viết thư cho tôi và khi kết thúc cuối thư luôn để thêm từ Produtive và dấu chấm than. Thiết nghĩ, để có tư duy tới hạn hay tư duy then chốt cái cần thiết và quan trọng trong tư duy là 2 vấn đề cơ bản:
1. Nắm vững triết học đúng nghĩa là một khoa học thực thụ mà không là chính trị học.
2. Phải có tư duy độc lập trong mọi vấn đề.

Phần chê, tôi rất quí. Càng chê đúng thì mới là thầy của mình. Và càng đáng quí lắm, lắm. Nhưng tôi hơi buồn là đa phần tôi nhìn thấy theo hiểu biết của mình là chê chưa chuẩn. Tôi hiểu ra vấn đề chê chưa chuẩn ở đây là vì tư duy chưa tới hạn. Tôi không trách họ vì 2 điều cơ bản mà tôi đã đưa ra ở trên, trong họ chưa được quan tâm, hoặc chưa đủ để nhìn vấn đề tôi viết.

Theo hiểu biết của tôi thì có 2 cách viết:
1. Viết theo kiểu của một nhà khoa học tự nhiên (hay còn gọi là viết theo kiểu học thuật) khô khan, ngắn gọn, khách quan, duy lý mà đủ ý. Cách viết này dành cho kiểu tư duy tới hạn. Đọc nó rất chán vì nó là một mâm tiệc, nhưng hiếm có bạn hiền. Dùng để đánh giá dân trí theo cách tư duy tới hạn. Và trong hầu hết các tác giả nỗi tiếng trên thế giới, tôi thích nhất nhà văn Pháp, Honoré de Balzac, ông này có cách viết mà theo hiểu biết của tôi thuộc loại tư duy tới hạn. Đọc ông tôi rất mệt và đọc rất chậm, đọc mà như nuốt từng chữ, từng câu cho thấm dần, vì văn ông khô nhưng sắc như dao.
2. Viết theo kiểu art (hay còn gọi là cách viết theo kiểu khoa học xã hội), rất văn chương, đầy cảm tính và suy diễn dễ đi vào lòng người, nhưng không thiếu sự duy lý. Cách này cũng có tư duy tới hạn, nhưng thiếu một chút duy lý để minh chứng về mặt biện chứng. Cách viết này làm người đọc rất thích thú và đi vào một vấn đề mà Gustave Le Bon đã đề cập.
Dĩ nhiên, trong mỗi cách viết luôn nằm trong những nhóm khác nhau. Có người viết theo dạng Close Writing, tức viết và kết một vấn đề. Có người viết theo kiểu Open Writing, cách này là mở ra một vấn đề để mọi người cùng có Critical Thinking với nhau. Tôi thích cách Open Writing hơn.

Cuối cùng, qua 9 tháng ngồi viết những vấn đề tôi rút ra được những đúc kết có giá trị cho mình như sau:
1. Triết học chưa có vai trò tốt ở Việt Nam.
2. Dân trí Việt chưa được đánh thức đúng với tầm hiểu biết ở dân Việt.
3. Trí tuệ đám đông theo kiểu Gustave Le Bon đóng một vai trò lớn với dân mình.
4. Dân mình ít người quan tâm đến sở hữu trí tuệ của một cá nhân.
5. Khi tư duy tới hạn thì vấn đề phản biện sẽ là then chốt của tư duy. Và dĩ nhiên sẽ dễ đụng chạm đến nhiều con người và lĩnh vực của cuộc sống.

Ai tìm ra được những kết luận khác hay ho hơn xin góp thêm hương vị cho bài này. Xin cảm ơn.
Xem thêm: http://www.cuanhcuem.net/2013/01/tong-hop-cach-chen-emoticons-threaded-comments-blogspot.html#ixzz2UfngJs3i Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial