Sunday, February 28, 2010

KỶ NIỆM 27/02/2010

Hôm qua, ngày 27/02 năm nay là một ngày đầy ắp những kỷ niệm. Kỷ niệm sâu sắc nhất trong hơn 20 năm làm nghề y năm nay là tôi làm được tâm nguyện đền ơn đáp nghĩa với thầy tôi: BS Phan Tường Hưng. Điều mà 20 năm tôi đau đáu trong lòng, phải làm cái gì đó cho thầy và cho ngành y Việt Nam về một tư tưởng lớn trong y học.

Kỷ niệm thứ hai là dù đã nhiều lần đến ngày này tôi luôn được các bệnh nhân cũ gửi e-mail, điện thoại chúc mừng. Nhưng đây là lần đầu tiên kể từ ngày tôi rời bỏ nhà nước ra làm riêng cho mình, có một thân chủ và là bạn mang hoa và bánh bông lan đến tận clinic của mình để tặng ( Bình thường thỉnh thoảng BN sau khi điều trị vẫn mang quà tặng , nhưng ít khi trùng ngày 27/2). Mặc dù biết là thân quen, nhưng không ai có thể làm được điều đó vì cuộc sống quá tất bật trong cuộc mưu sinh của thời hiện đại. Nhà thân chủ cách xa clinic của tôi đến hơn 30km. Nhưng vẫn không quản ngại thời gian, đường xá kẹt xe, mang đến chúng tôi niềm vui rất ấm lòng. Tôi thành thật cảm ơn hai bạn và các cháu.


Lại nói về tặng quà và nhận quà trong ngành Y - đề tài muôn thuở của báo giới, và cũng là nỗi bức xúc của người bệnh. Bản thân là người thầy thuốc, thực lòng chúng tôi chỉ cảm thấy hạnh phúc khi mang lại sức khỏe cho bệnh nhân, đó cũng là lòng nhân của một con người bình thường- cộng thêm vào là hạnh phúc do tự hào về chuyên môn của mình đã chinh phục được con bệnh khó khăn phức tạp. Nhũng nhiễu yêu sách vòi tiền thực ra không phải là nhiều trong giới thầy thuốc chúng tôi. Đồng lương nhà nước không đủ sống, thì anh đi ra mở tư, thu tiền đúng với công sức bỏ ra của bản thân. Lợi dụng vị trí làm việc trong nhà nước, ca thán không đủ tiền để vòi tiền người bệnh là hành động đáng xấu hổ và cần phê phán. Do vậy sẵn đây nói luôn, mai sau các bạn đừng tặng quà làm gì cho khổ, chữa khỏi bệnh cho các bạn là niềm hạnh phúc vô biên của chúng tôi rồi. Cơ bản là tấm lòng nghĩ về nhau.

Kỷ niệm thứ ba, là cuộc hội ngộ giữa BS "người" và BS "chó"(như lời của BS thú y Đào Văn Thinh). Đời tôi có hai người Bố không sinh thành và dưỡng, nhưng có dục tôi thành người. Người thứ nhất là thầy tôi, người mà tôi đã viết trên báo ngày hôm qua. Người thứ hai là Bố BS "chó" Đào Văn Thinh.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại có cái duyên với những con người sinh ra và lớn lên ở miền Nam? Bố Phan Tường Hưng được sinh ra và lớn lên ở Ba Tri, Bến Tre. Còn Bố Đào Văn Thinh thì sinh ra và lớn lên ở Gò Công, Tiền Giang. Một ông dạy nghề và văn hóa nghề và nghiệp. Một ông dạy cách ăn uống và phong cách sống của giới thượng lưu thời Pháp. Cụ "Đình Văn Thao"- Bố Thinh thường nói lái tên mình, hoặc là Michele Đình. Hôm qua mới hỏi ông thì ông không dạy trường Nông Lâm Súc mà ông cai quản sáu trại gia súc, gia cầm ngoài Thủ Đức sau khi ra trường. Ông chỉ hướng dẫn thực tập cho sinh viên. Ông cùng lớp BS Thú Y với ông Đỗ Cao Huệ, giám đốc nha súc sản của TT Nguyễn Văn Thiệu. Ngày ra trường ông quản lý 6 trại chăn nuôi ở Thủ Đức, mỗi tháng lãnh lương 1,2 triệu đồng thời thập niên 1960. Trong khi ông Huệ mời ông vào làm cho bộ Súc Sản của VNCH với mức lương chỉ 55 nghìn. Nên ông từ chối.

Thế nhưng, sau 1975 ông vẫn bị mời đi học tập cải tạo. Học được vài hôm thì một số nhân công ở trại gia súc, là những biệt động thành đứng ra chứng nhận ông trong sạch và nhờ các trại súc sản của ông mà họ đã hoàn thành nhiệm vụ hoạt động ngoại tuyến. Nên nhà nước cho ông không phải học tập cải tạo. Và cũng chính ông Huỳnh Tấn Phát, bạn cùng sinh hoạt hội trí thức yêu nước với cụ khi còn học ở Pháp, đích thân đến chứng nhận với chính quyền rằng ông là một trí thức yêu nước. Ông chỉ làm khoa học và kinh doanh, không tham gia chính trị. Nên ngày nay ông vẫn còn căn nhà ở Thủ Đức, đất đai rất rộng (ông đã chia cho các con). Bây giờ ông vẫn thường nói: "Moi làm đủ ăn và đi. Moi đã từng có rất nhiều tiền, nhưng rồi cũng mất hết. Con chim sẻ nó không biết để dành, nhưng nòi giống nó vẫn trường tồn. Nên mọi người đừng vì tiền thì thế giới sẽ không có chiến tranh".

Ông sinh năm 1928, nhưng lại học sớm, vì nhà ông ở Gò Công thời ấy ruộng cò bay thẳng cách, chó chạy ngay đuôi. Kỷ niệm về ông là cách nay 6 năm, vợ ông bị tiểu đường đã có biến chứng tim mạch, hầu hết các nơi đều thua. Lúc đó clinic tôi mới thành lập. Ông mang vợ đến để xem như là hú họa, phước chủ may thầy. Nhưng ông không ngờ bây giờ bà vẫn khỏe và không cần dùng thuốc tiểu đường nữa. Thực ra tiểu đường type II, ở người lớn tuổi. Nếu biết nghe lời bác sĩ và dùng thuốc đúng, chịu tái khám và làm xét nghiệm đều đặn, theo yêu cầu bác sĩ, thì để không dùng thuốc nữa không phải là khó. Khó với người bệnh là do họ không đủ kiên nhẫn và sợ tốn tiền khám để nghe lời bác sĩ. Cứ mỗi năm đến ngày 27/02 là ông rủ đến nhà bù khú. Các bạn thấy Bố Đình Văn Thao (nói lái của Đào Văn Thinh) giống Lucky Lucke trong truyện tranh dành cho trẻ em không?

Hôm qua tớ uống yếu quá. Mới chỉ 4 lon Heineken và 1 ly vang chát là đã quắc cần câu, ngủ ngồi. Ông và những người khác vẫn chiến đấu đến tối. Còn tớ thì 16 giờ chiều đã xin về ngủ vùi. Tuy thế, hôm qua là một kỷ niệm vui của ngày thầy thuốc Việt Nam. "Ông già gân" là từ mà tôi vẫn thường gọi cụ "Michelle Đình Văn Thao". Hình thứ 2 chụp ông khi chưa nhậu. Các bạn nhìn có tin rằng cụ đã 82 nhưng vẫn còn gân lắm. Tấm hình thứ 3, khi đã sần sần, cụ đòi chụp hình với cái mũ nỉ một thời trước 1975 cụ còn giữ lại, đang đốt xì gà. Tấm hình thứ 4, cụ muốn chụp hình với cá mũ nỉ của thập niên 1930, khi mà Luciano - trùm mafia Mỹ thường hay dùng kiểu mũ này - đang đốt xì gà. Cụ không bao giờ hút thuốc. Nhưng khi nhậu thì phải hút, nhưng chỉ hút xì gà, không hút thuốc thường. Đó là phong cách của cụ. Dù bây giờ đã già và nghèo, vẫn làm lò ấp trứng bán cho khắp trong Nam, ngoài Bắc, nhưng nói về chơi thì cụ ăn và chơi rất thượng lưu. Vang nào uống với thịt, vang nào uống với hải sản. Khai vị loại nào, vào tiệc loại nào? Món nào dùng với gia vị nào? Rót rượu phải đúng điệu ra sao? Đồ khui rượu của cụ là có thầy Tư Cương (người trong hình thứ 5, bên trái) cung cấp, đủ loại đồ khui.Cụ có nhiều kiểu đồ khui mà ở Việt Nam chỉ có cụ mới có, etc... Đặc biệt về món nịnh đầm, cư xử với vợ thì tôi phải bái phục ông. Theo lời Cụ: "Phong cách này có được là nhờ cả đời chỉ học trường Tây". Nhỏ thì học ở trường trung học Lasan Taberd(bây giờ là trường Trần Đại Nghĩa), lớn lên sang Paris học thú y. Rồi chán văn hóa sống của Tây, về Việt Nam sống. Bà xã tôi khen cụ nức nở, bảo rằng: "Làm đàn ông phải như cụ Thinh thì mới là đàn ông chân chính. Còn đàn ông Việt Nam bây giờ thiếu sự lịch lãm và sự tế nhị với phụ nữ như cụ." 

Hình cuối cùng là bàn nhậu bình dân tại nhà cụ khi tiệc đã vào lúc cao trào. Chai rượu mà cụ Thinh cầm trên tay ở tấm hình này, đố các bạn nào tìm ra ở Việt Nam có nó thì tớ đi đầu xuống đất. Rất vui, rất hạnh phúc và rất sảng khoái từ tâm hồn đến thể xác trong ngày thầy thuốc Việt Nam năm nay. Dù hôm qua thu nhập ở clinic của tôi bị giảm nặng, không đủ để trả lương cho đồng nghiệp và tiền thuê nhà, điện, nước trong ngày. Nhưng thôi, đời phải có lúc này, lúc khác thì thế mới gọi là đời. Trong loạt hình này tôi không có mặt. Vì hình có mặt tôi thì Tư Cương giữ trong máy của anh ấy. Chờ Tư Cương làm ra sản phẩm và mail cho tôi, tôi sẽ update để mọi người diện kiến và ra đường không bị đánh nhầm nhen.

Xin cảm ơn vùng đất phương Nam đã chở che tôi và cảm ơn những con người và văn hóa phương Nam đã tạo nên tôi ngày hôm nay.

Asia Clinic, 9h45' ngày 28/02/2010

Saturday, February 27, 2010

GƯƠNG SÁNG NGÀNH Y: THẦY TÔI – BS PHAN TƯỜNG HƯNG


Cuộc đời học tập và làm việc của một con người được trải qua không biết bao nhiêu người thầy, người cô hướng dẫn. Nhưng qui luật nhân quả của đời thường lại tạo cơ duyên cho mỗi cá nhân sẽ tìm thấy được cho mình một số người thầy, người cô có ấn tượng đậm nét theo từng giai đoạn. Có hai giai đoạn quan trọng mà ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của mình suốt một đời người. Đó là tuổi hình thành nhân cách và khi bắt đầu đi làm. Tôi cũng không thoát khỏi qui luật ấy khi bắt đầu hành nghề y.

Người ta bảo: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu(1). Điều tôi ấn tượng với Bố - chúng tôi vẫn gọi thầy như thế, và đây là từ mà tôi sử dụng trong bài viết về ông - khi ông có câu khuyên với tôi về nghề: “Sinh ra đời là để chỉ gặt quả và gieo nhân. Quả thì đã có rồi chỉ việc gặt, không thay đổi được. Nhưng nhân thì mình chủ động gieo. Nghiệp y rất nặng. Đừng nghĩ làm y là cứu người. Mà phải hiểu người bệnh là ân nhân và là thầy của thầy thuốc. Vì không có người bệnh thì thầy thuốc không thể giỏi. Và làm y là để trả nợ, mang nghiệp, phải cố gắng gieo nhân tốt, để nghiệp bớt đi”. Đó là lời dạy của ông đối với tôi mà không có người giáo sư hay bác sĩ bậc thầy nào khai mở cho tôi.

Trong toàn bộ trường phái triết học hiện sinh chỉ qui lại một câu rất khoa học: “Nó vậy, nó phải là vậy”. Ở thầy, không bao giờ dài dòng và khoe chữ. Tất cả mọi điều chỉ gói gọn trong một câu rất đơn giản. Khi ông bắt đầu dạy tôi phẫu thuật. Ông chỉ gói gọn trong một câu: “Thực hiện phẫu thuật giống như đi ăn cơm Tây. Không được làm theo kiểu ăn cơm Hồi giáo”. Ban đầu tôi chưa hiểu. Nhưng khi cùng phụ mổ với ông, mỗi động tác sai ban đầu khi dùng tay chạm vào phẫu trường, thì ông bảo: “lại ăn cơm bốc như Hồi giáo rồi. Tay muổng, tay nỉa hiểu chưa?”. Từ ấy, tôi mới hiểu thế nào là phẫu thuật thực hành, dù trong trường y đã dạy môn này.

Bố thì thấp, nhưng tôi lại cao, khi phụ mổ thấy tôi đứng lưng hơi còng là bố bảo phòng mổ cho Bố cái ghế và nâng bàn mổ cho tôi không phải khom lưng. Vì nguyên tắc mổ, phẫu thuật viên không được đứng tư thế không sinh lý. Điều ấy sẽ giúp sức chịu đựng cho phẫu thuật viên với những cuộc mổ kéo dài, có khi cả ngày lẫn đêm. Đồng thời không làm hư dáng của phẫu thuật viên.

Ngày tôi gặp Bố, Bố không còn mỗ đi (operation: mổ lần đầu trên một bệnh lý của bệnh nhân) mà chỉ còn mổ lại (re-operation)(2) (Mổ lại những cái gì đồng nghiệp đã bị biến chứng và tai biến sau mổ trên người bệnh). Đời phẫu thuật viên chỉ làm phẫu thuật lại là đỉnh cao của nghề. Chỉ thỉnh thoảng có nhân viên của bệnh viện hoặc người thân quen nhờ mổ, lúc ấy Bố mới mổ đi.. Mổ đi thì dễ, vì giải phẫu học cấu trúc như sách đã dạy. Mổ lại thì khó và rất mất thời gian. Mọi cấu trúc giải phẫu học đã bị di lệch và dính be bét. Đòi hỏi phẫu thuật viên phải có chiến lược và chiến thuật rất công phu trước, trong và sau mổ. Bố thường bảo: “Đi mổ như đi biển, không biết sóng gió lúc nào? Nhưng nếu nắm chắc bệnh và tiên lượng tốt thì sẽ đưa ra chiến lược trước khi mổ. Khi vào mổ là xử lý chiến thuật tùy theo tình huống thực tế cho từng chiến lược đã vạch ra trước mổ. Nên phẫu thuật viên phải giỏi nội khoa như hoặc hơn một bác sĩ nội khoa về cái bệnh mà mình sẽ mổ. Lúc đó phẫu thuật viên mới không là thợ mổ”.

Tôi không biết mình may hay rủi khi được gặp Bố và là một trong những người được Bố chọn làm trò và bản thân mình cũng cảm thấy hân hạnh được chọn Bố làm thầy? Vì sau tốt nghiệp Tiến sĩ y khoa quốc gia tại trường Y Sài Gòn năm 1968 với luận án “Bạch cầu ở bệnh nhân chấn thương sọ não”. Bố bị tổng động viên buộc bố phải lên quân trường Quang Trung với quân hàm sĩ quan biệt phái. Lên quân trường chưa kịp học xong 6 tháng thì bị đặt mìn, may mắn chưa chết nhưng bị hư một chân. Thế là về dân sự làm ở bệnh viện Nguyễn Văn Học (BV Nhân Dân Gia Định bây giờ) rồi đi tu nghiệp ở Nhật từ năm 1972 đến 1973. Chán xứ người vì văn hóa sống không phù hợp, nên về tiếp tục làm việc lại ở BV Nguyễn Văn Học. Đến ngày 30/4/1975 thì chuyển về làm việc cho BV Chợ Rẫy đến ngày về hưu.

Những ngày đầu cùng làm việc với Bố, tôi thấy kỳ lạ tại sao Bố không chịu lấy thêm bằng cấp khi bệnh viện yêu cầu? Bố không được phong tặng thầy thuốc ưu tú hay chiến sĩ thi đua? Nhưng trong khi ấy, những người đã từng được Bố cầm tay chỉ việc họ cứ lục tục hết tiến sĩ, rồi giáo sư, rồi giám đốc bệnh viện này hay hiệu trưởng trường y nọ. Khi đã thân tình tôi mới hiểu trong Bố có cái khí khái và không màng danh lợi của dòng họ một thời lừng lẫy của những ngày đầu giặc Pháp xâm lược nước ta. Hậu duệ của cụ Phan Thanh Giản(***) - bác sĩ Phan Tường Hưng.

Đời phẫu thuật viên không tránh khỏi những lần, khoảng thời gian điều trị bệnh gây tai biến cho người bệnh. Những thời kỳ ấy chúng tôi thường gọi với nhau bằng từ “serie noir” - một loạt đen đủi – Khi chúng tôi bị một tai biến trong hay sau mổ đều tự xin ngừng mổ trong tháng đen. Nhưng suốt những năm tháng làm việc với Bố, tôi chỉ chứng kiến một lần Bố bị tai biến do phẫu thuật vào cuối năm 1997. Lần ấy cũng là lần cuối cùng Bố phẫu thuật trên người bệnh, vì ông xin không phẫu thuật nữa mà chỉ làm tham vấn chuyên môn khi ai yêu cầu. Tôi hỏi ông sao không mổ nữa? Bố bảo: “hết nghiệp rồi, chỉ nên làm tham vấn và chờ về hưu thôi”. Cũng chính năm ấy Bố bị tai biến lấp mạch máu não. Hai năm sau Bố về hưu.

Sau 2 năm bố về hưu thì tôi cũng rời xa môi trường bệnh viện. Tôi có tham khảo ý kiến ông. Ông bảo: “Nghiệp ít thì nghỉ sớm. Nghiệp nặng thì làm đến tuổi về hưu hoặc cuối đời. Không có gì phải ray rứt và ân hận. Sống thực với những gì mình có và cố gieo nhân tốt. Đến và đi là qui luật cuộc đời. Ăn chay đi con, kẻo muộn”. Bố ăn chay trường từ sau ngày 30/4/1975 cho đến tận bây giờ. Có lẽ thế mà đời phẫu thuật viên của Bố chỉ một lần tai biến và cũng là lần cuối Bố phẫu thuật trên người - để rồi từ bỏ nghề y chăng?

Đã 5 cái tết chưa làm đúng bổn phận “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”, vì cứ mỗi lần tết đến là tôi phải về thăm quê. Năm nay thăm Bố mồng 5 tết. Bố bảo “năm nay lạ, mấy năm trước không đứa nào thăm, tự dưng năm nay nhà đầy khách? Không biết có điềm gì đây?” Nhìn Bố tóc bạc phơ, đi lại khó khăn vì di chứng tắc mạch máu não. Ngày xưa nhà Bố còn ở đối diện cổng cấp cứu BV Chợ Rẫy còn dễ ghé thăm. Nhưng từ lúc về hưu, do phải trang trải cuộc sống, căn villa thời Pháp thuộc đành phải bán, để dời về tận ngoại ô. Học trò thưa dần vì nhiều lẽ. Có lẽ Bố buồn qua câu nói nửa đùa, nửa thật. Lòng tôi cảm thấy quặn đau. Năm nay ngày thầy thuốc Việt, con không biết viết gì, khi giữa đời thường còn lắm những tha hóa trong nghề. Chỉ có thể viết ra đây những dòng ghi lại một đời Bố làm y, ăn chay và tu tâm tại gia theo trường phái Thiền Tông. Với bao thế hệ đi qua, nhưng khi về già, Bố không đủ để xa hoa như người khác, mà phải bán nhà để lấy tiền kiếm sống những năm tháng còn lại.

Con chưa bao giờ gọi Bố là thầy. Hôm nay, nhân ngày thầy thuốc Việt Nam, con xin phép Bố được gọi Bố tiếng Thầy đầu tiên từ lúc con gặp Bố. Đây là tấm lòng tri ân những gì Bố đã dạy con không chỉ nghề nghiệp mà còn dạy con biết thêm cái văn hóa làm Người thầy thuốc. Hợp rồi lại sẽ tan, đó là qui luật của đời. Nhưng trong thâm tâm con không bao giờ quên cái hình ảnh mà ngày thầy hoàn  thiện cuốn tiểu luận Thiền Tông với tựa đề  “Tu tâm” và vui mừng gửi cho con. Con sẽ  không quên người thầy thuốc thầm lặng, không danh hiệu, không chức tước, nhưng với lương tâm nghề và nghiệp y cao cả, đã đúc nên con.

Asia Clinic, 13h15 ngày 23/02/2010
Ghi chú: 
- (***)  Thành ngữ Điển tích Danh nhân - Trịnh Vân Thanh - Nhà xuất bản Văn học, 2007, trang 963-966
- Hình tư liệu cá nhân:
Hình 1: BS Phan Tường Hưng hiện nay
Hình 2: Bàn thờ bức tượng đồng đen của chí sĩ Phan Thanh Giản. Phía sau tượng cụ Phan Thanh Giản là di ảnh của thân phụ, cố BS Phan Văn Đệ, cựu giám đốc BV Chợ Rẫy trước năm 1975 và thân mẫu của BS Phan Tường Hưng.

Wednesday, February 24, 2010

HỌC VỊ VÀ SỰ HỮU DỤNG

Sáng nay tôi có khám và chứng nhận sức khỏe cho một thí sinh cần nộp hồ sơ thi vào cao học xã hội học. Qua trao đổi câu chuyện về tấm bằng cử nhân của cô ấy, tôi mới vỡ lẽ ra rằng lâu nay ở đại học khoa học xã hội và nhân văn có đào tạo một chuyên ngành xã hội học. Nhưng khi hỏi ra thì mới biết thêm là chuyên ngành này là một chuyên ngành tổng tổng, quát quát mà không cụ thể hóa chuyên ngành này mục tiêu đào tạo ra làm cái gì? để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy hay phục vụ cho làm việc? Nhưng cô ta bảo là cứ ra trường rồi ai kiếm được việc dạy thì đi dạy. Ai kiếm được việc đi làm thì đi làm. Còn đi dạy hay đi làm nếu còn thiếu kiến thức thì học tiếp ở tại công sở mình làm việc hoặc đăng ký học lên cao học về chuyên ngành mà mình đang làm. Trong đại học khoa học xã hội nhân văn của cô ấy học chưa chia ra khoa học ứng dụng và khoa học cơ bản. Và cô ấy cũng công nhận với tôi rằng về mặt thiết kế giáo dục Việt Nam ở bậc đại học hiện nay chưa hoàn chỉnh. Dù cô ấy đang là giảng viên của một trường Đảng tại TPHCM.

Qua câu chuyện trên, tôi thấy rằng ngành giáo dục và đào tạo Việt nam hiện nay chưa có thiết kế rõ ràng cho từng học vị. Đó là lý do tại sao sinh viên ra trường chưa có đủ chất lượng để đáp ứng cho thực tế cuộc sống. Như trong bài Kiến thức căn bản về giáo dục bậc đại học, tôi đã nói: trong thực tế đào tạo đại học ở các nước tiên tiến họ chia ra làm 2 hệ: hệ nghiên cứu giảng dạy ở viện, trường thì ra tấm bằng cử nhân cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Còn nếu theo hệ khoa học ứng dụng thì ra tấm bằng cử nhân cho việc đi làm. 

Hệ cử nhân khoa học căn bản, dù là khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên dùng để đi dạy và nghiên cứu thì đi tiếp cao học và PhD để đi dạy và nghiên cứu. Không ai dùng loại bằng này để đi làm. 

Hệ cử nhân dùng cho khoa học ứng dụng, thì dù là khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên dùng để đi làm. Và cũng không ai dùng loại cử nhân này để đi dạy.

Với các sinh viên xuất sắc, khả năng lĩnh hội và làm việc trong lúc còn trong bậc đại học, họ có thể học cả 2 hệ khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Khi ra trường họ nhận cả 2 cử nhân dùng cho nghiên cứu giảng dạy và đi làm (BA và BS). Nhưng những tiêu chuẩn nào trong thiết kế giáo dục để biết là BA hay BS nào là để đi làm và loại nào là để đi theo nghiên cứu và giảng dạy?

Cũng có không hiếm những người sau khi đi theo hệ giảng dạy và nghiên cứu thấy mình không thích gò bó trong 4 bức tường phòng lab. Họ tiếp tục đi theo hệ ứng dụng để đi làm. Ngược lại có người đi làm vì đã theo hệ ứng dụng, nhưng chán cảnh phải làm việc hùng hục lại muốn quay vào 4 bức tường phòng lab. Họ phải trỡ lại theo học hệ nghiên cứu và giảng dạy.

Có một vấn đề lớn mà các chính khách lãnh đạo và các nhà giáo dục đào tạo Việt Nam đang rất nhầm lẫn khi cho rằng người có bằng tiến sĩ (PhD) sẽ làm việc tốt hơn người chỉ có bằng bachelor, nhờ vào tư duy đột phá của người có bằng tiến sĩ! Thú thật khi đọc tin này cuối năm ngoái tôi đã khóc ròng cho ngành giáo dục Việt thời định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nếu tôi không quên thì lúc tôi đi làm cho SOS International. Lúc đó tôi có nhiệm vụ xây dựng hệ thống phòng khám trong cả nước, để lấy các hợp đồng bảo hiểm y tế về cho SOS International từ các tập đoàn lớn vào làm ăn với Việt Nam. Khoảng thời gian vào cuối năm 2001, tôi được SOS International cử đi theo và bảo vệ sức khỏe cho một kỹ sư hóa địa chất của Mỹ từ Texas sang - tôi không tiện nói tên ra ở đây - ông kỹ sư với bằng bachelor này được tập đoàn BP của Anh thuê sang Việt Nam để đánh giá trữ lượng khí gas và dầu ở khu vực mỏ, thuộc thềm lục địa phía Nam tổ quốc ta, để trước khi BP quyết định ký kết hợp đồng khai thác với Việt Nam. Qua câu chuyện trao đổi, tôi biết được lương của kỹ sư này được trả tính bằng ngày. Hầu hết các chuyên gia BP thuê đều trả lương tính bằng ngày. Có người đơn vị là nghìn usd/ngày, có người là đơn vị 10.000usd/ngày(năm con số). Có người là đơn vị 6 con số usd/ngày. Có người là 7 con số usd/ngày. Kỹ sư mà tôi đề cập là 7 con số usd/ngày tức đơn vị là triệu usd/ngày. Cụ thể là bao nhiêu thì không rõ. Nhưng BP chỉ có thể thuê ông kỹ sư hóa địa chất có bằng bachelor này có 3 ngày. Nói chuyện với anh ta thì anh ta bảo: anh ta luôn thất nghiệp. Nhưng anh ta chỉ làm 1 ngày thì có thể sống cả đời! Hỏi anh ta sao không học nữa? Anh ta bảo: cái anh ta cần bây giờ là chất lượng cuộc sống của anh ta và gia đình anh ta hơn là chuyện khác!!!

Qua 2 câu chuyện thực tế cuộc sống trên. Tôi có đề nghị rằng: Ngành giáo dục bậc đại học Việt nam cần thiết kế lại chương trình giáo dục cho đúng. Bằng cho nghiên cứu giảng dạy thì ra nghiên cứu và giảng dạy. Bằng cho ứng dụng thì ra ứng dụng. 

Các nhà tuyển dụng người làm công cũng cần ý thức vấn đề này. Không nên đổ thừa người học mà cần có ý thức đóng góp cho ngành giáo dục Việt thực tiễn hơn. Bằng cách đặt hàng các trường đại học đào tạo ra những ứng cử viên sử dụng được ngay từ những lứa sinh viên vào năm thứ nhất đại học, để chất lượng đảm bảo hơn trong đào tạo.

Trong khi làm chính trị là thiên bẩm của mỗi con người. Nếu tôi nhớ không nhầm thì Tổng thống Abraham Lincohn chỉ có tự học để trỡ thành luật sư, trước khi làm vị Tổng thống lừng lẫy khắp năm châu, của nước Mỹ? Khác với làm chính trị, đào tạo nhà khoa học cần cụ thể và tiêu chuẩn rõ ràng. Không thể chung chung để rồi cho ra những sản phẩm không có chất lượng.

Các bạn nào có cao kiến về nội dung bài viết thì cho ý kiến về thiết kế tấm bằng bậc đại học cho giáo dục nước nhà thì xin cho ý kiến. Tôi xin ví dụ: Bachelor cần bao nhiêu tín chỉ? Bachelor of art thì cấu trúc gồm tín chỉ gì? bachelor of science thì cấu trúc gồm những tín chỉ gì? Trong BA các tín chỉ gì bắt buộc phải có? BS thì những tín chỉ gì bắt buộc phải có etc... Đó là thiết kế giáo dục Việt đang rất cần chứ giáo dục đại học Việt không cần xây thêm trường đại học mới như ông phó TTg kiêm bộ trưởng giáo dục đào tạo đang làm.

Asia Clinic, 11h49' ngày 24/02/2010

Sunday, February 21, 2010

HỌC HÀM TRONG GIÁO DỤC

Thiển nghĩ, vấn đề cần bàn tiếp theo là học hàm trước khi bàn về học vị. Theo tự điển tiếng Việt học hàm là cấp bậc người nghiên cứu giảng dạy bậc đại học, ở các viện nghiên cứu. Thế nhưng, có lẽ đó là định nghĩa lấy từ các nước theo hệ thống giáo dục Anh-Mỹ. Ngoài ra, một số nước có nền giáo dục thuộc địa của Pháp-Bồ thì lại khác. Ví dụ ở một số nước như Việt Nam dù trước hay sau 1975 người ta vẫn  phong tặng các giáo viên ở bậc trung học lâu năm học hàm giáo sư.

Do tính lịch sử, văn hóa và sự hiểu biết cũng như thể chế của mỗi quốc gia mà nảy sinh ra mục tiêu giáo dục có khác nhau, và có tiêu chuẩn phong tặng học hàm trong giáo dục, nghiên cứu có khác nhau. Về tiêu chuẩn phong tặng cụ thể như thế nào thì đã có rất nhiều tham luận. Ở đây tôi chỉ muốn nhìn về mặt vĩ mô các loại hình phong tặng học hàm trên thế giới để có cái nhìn duy lý và chính xác.

Ở các nước có mục tiêu giáo dục là cung cấp cho các thế hệ một tư duy độc lập và phản biện (critical thinking), học hàm sẽ là kết quả của sự đóng góp của một cá nhân với sự nghiệp trồng người cho sự phát triển của toàn nhân loại. Nó do hội đồng giáo sư của các trường, viện quyết định và phong tặng. 

Đối với các nước mà mục tiêu giáo dục là công cụ phục vụ cho giai cấp cầm quyền, không cần tư duy độc lập và phản biện. Học hàm là kết quả của sự đóng góp của một cá nhân với sự nghiệp trồng người phụ vụ cho giai cấp thống trị. Nó được do hội đồng nhà nước quyết định và phong tặng, mà đại diện là người đứng đầu nhà nước. Hay nói một cách khác là: Mặc dù có hội đồng xét duyệt giáo sư đàng hoàng, nhưng chữ ký cuối cùng trên giấy chứng nhận giáo sư là người đứng đầu của một nước.

Dù là do hội đồng giáo sư phong tặng hay do hội đồng nhà nước phong tặng thì đều có những khiếm khuyết nhất định của nó. 

Ví dụ câu chuyện gần đây ở Mỹ, tại Oklahoma University (OU) có chuyện bà Amy Bishop bắn chết 3 vị giáo sư và 3 đồng nghiệp trong lúc họ đang xem xét phong học hàm cho bà. Câu chuyện như thế nào pháp luật Mỹ sẽ tìm ra, nhưng không thể không có khiếm khuyết trong hội đồng xem xét phong tặng học hàm giáo sư của OU.

Còn với cách phong tặng học hàm kiểu như của Việt Nam lâu nay là do hội đồng nhà nước phong tặng. Nó có những tiêu chuẩn ngoài tiêu chuẩn về giáo dục và nghiên cứu. Trông có vẻ khó khăn hơn cách phong tặng học hàm của loại chỉ xét về tiêu chuẩn giảng dạy và nghiên cứu. Nhưng soi lại thì không thiếu những bất cập vì có người thì hả hê được phong tặng học hàm khi kiến thức chưa chín. Kẻ thì ngậm đắng nuốt cay sau bao năm miệt mài với sự nghiệp trồng người, kiến thức uyên bác nhưng không bao giờ được phong tặng. Hậu quả là trường đại học thiếu giáo sư giảng dạy và đỡ đầu cho nghiên cứu.

Dù là ưu hay khuyết điểm như thế nào thì ngày nay thực tế của sự nghiệp giáo dục ở các nước đã chứng minh hùng hồn rằng mục tiêu giáo dục nào ưu việt hơn và cho ra sản phẩm tốt hơn để góp phần vào thay đổi cuộc sống xã hội về mọi mặt.

Vấn đề đặt ra là chúng ta có nên thay đổi mục tiêu giáo dục để tốt hơn hay là vẫn giữ mục tiêu giáo dục như lâu nay? Và những bất cập giáo dục cứ sữa nhưng vẫn sai và không bao giờ tốt được như 20 năm với hơn 4 lần cải cách giáo dục, nhưng vẫn còn tình trạng thiếu hiểu biết về xây dựng nền giáo dục chuẩn quốc tế. Và tệ nạn di tản giáo dục đang xảy ra làm không những hao tốn tiền của người dân mà còn tốn kém ngân quĩ quốc gia vì những cải cách cứ mãi loay hoay mà không bao giờ đúng được. Tôi sẽ viết học vị trong topic sau.

Asia Clinic, 17h35' ngày 21/02/2010

Friday, February 19, 2010

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC BẬC ĐẠI HỌC

Như đã hứa, hôm nay tôi bắt đầu viết về giáo dục đại học của các nước tiên tiến. Tùy theo mỗi quốc gia, nhưng đa số (chứ không phải tất cả ví dụ như Úc hay Canada các trường college có cả dạy trung học) thì từ university và college là đồng nghĩa với nhau. 

Trước khi đi vào các khái niệm college và university, thiển nghĩ nên làm sáng tỏ một số khái niệm về khoa học xã hội và tự nhiên (art and natural science). Thế giới quan niệm những ngành thuần túy khoa học tự nhiên (natural science) như toán, lý, hóa, sinh etc... là những ngành có tính định lượng. Chúng cân, đo, đong đếm được khi nghiên cứu. Còn những ngành không thể định lượng được hoặc dù có định lượng được, nhưng vẫn không thể chính xác như: giáo dục, kinh tế, nghệ thuật etc... là thuộc về khoa học xã hội (art science).

Không những thế, trong giáo dục đại học còn chia ra làm hai nhóm: khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Ta hãy cứ hình dung rằng các khoa học tự nhiên như toán, lý, hóa, sinh etc... là những khoa học tự nhiên cơ bản cho khoa học ứng dụng đào tạo ra kỹ sư (enngineer), bác sĩ (Medicine doctor). Còn kinh tế là khoa học xã hội cơ bản dành cho khoa học ứng dụng trong kinh doanh. Nhưng khi đem kinh tế để ứng dụng vào cuộc sống thì sẽ có kinh doanh (businees) là khoa học ứng dụng cho kinh tế. Hai khoa học khác nhau, nhưng cái này là nền tảng cho cái kia. Cái là lý thuyết, còn cái kia là thực hành.

Cả hai college và university đều được dịch là trường đại học. College là trường đại học nhỏ, ít chuyên ngành và cấp bậc đào tạo chủ yếu là cử nhân (bachelor), mặc dù một số trường vẫn đào tạo cấp cao hơn, ví dụ như cao học (master). 

Còn university là trường đại học lớn đào tạo nhiều chuyên ngành, hay còn gọi là đại học nghiên cứu. Cấp bậc đào tạo cũng cao hơn, từ cử nhân, cao học đến tiến sĩ (doctor) và sau tiến sĩ (post-doctor) có kèm theo các trường ứng dụng (professional schools or colleges). Về mặt sơ khai, từ university có mặt từ thời con người còn ở chế độ tăng lữ quí tộc. Lúc đó, nhà thờ gắn liền với trường học và cai trị một quốc gia. Và để được gọi là university thì trường đại học đó phải có đủ ít nhất là 4 ngành cơ bản: thần học và triết học (theology & philosophy), luật (law), y khoa (medicine) và giáo dục (education). Sau này các universities được mở rộng ra thêm những trường cho khoa học ứng dụng (professional schools or colleges) để phục vụ thực tế nhu cầu khoa học vào cuộc sống. 

Cái lợi của các universities so với các colleges ở chỗ là có nhiều professional colleges - ví dụ: college of engineer, college of medicine, etc... - cùng chung với các trường đào tạo khoa học cơ bản. Trong khi các khoa học cơ bản là để nghiên cứu ra lý thuyết cơ bản, còn các trường ứng dụng thì làm sao các lý thuyết cơ bản ấy được áp dụng vào thực tế. Ở các universities có sự kết hợp nhuần nhuyển giữa nhà khoa học cơ bản với nhà khoa học ứng dụng. Tôi xin ví dụ: một bác sĩ y khoa than phiền rằng cần có những phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác với X quang, nhưng rõ ràng hơn và ít độc hại hơn X quang để khảo sát các cơ quan bệnh tật, thì mới có thể chẩn đoán chính xác các bệnh tật. Lúc đó, các nhà vật lý mới nghĩ ra việc đưa lý thuyết các sóng siêu âm và sóng truyền thanh (radio) vào để tạo năng lượng sóng thành năng lượng hình ảnh. Sau đó các kỹ sư, các nhà khoa học ứng dụng mới đưa vào chế tạo các máy siêu âm (ultasound), MRI (magnetic Resonance Imaging: chẩn đoán hình ảnh bằng cộng hưởng từ trường). Đây là một phát kiến trong đào tạo giáo dục bậc cao do nhu cầu thực tế cuộc sống đặt ra.

Từ đó, ta thấy các nước tiên tiến luôn có khuynh hướng tạo ra những universities để phục vụ cho việc nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng lý thuyết đó vào nhu cầu thực tế cuộc sống. Và cũng chính từ đó, nhu cầu đào tạo ở các đại học sản sinh ra làm 2 loại cử nhân: BA (bachelor of art) chuyên cho nghiên cứu khoa học cơ bản và BS (bachelor of science) chuyên ứng dụng lý thuyết cơ bản để làm ra sản phẩm phục vụ nhu cầu cuộc sống. 

Các BA có thể tiếp tục học thêm thành MA (master of art) để nâng nghiên cứu lý thuyết và tiến đến tiến sĩ khoa học: PhD (Philosophy doctor) tìm ra những lý thuyết mới mà nhân loại chưa tìm thấy. Còn bên ngành ứng dụng, các BS(bachelor of science) sẽ tiếp tục học thêm để thành MS (master of science) để đưa lý thuyết đã có thành những thành quả ứng dnụg cho cuộc sống. Cả bốn BA, BS, MA và MS đều có thể "học" tiếp thành tiến sĩ khoa học (PhD) hoặc sau tiến sĩ khoa học (post doctor). Thực chất của các chương trình sau cử nhân là nghiên cứu hoặc ứng dụng thực hành. Nên nói là "học", nhưng không phải là học mà là tự học, tự nghiên cứu khoa học cơ bản hoặc khoa học ứng dụng. Giáo sư hướng dẫn chỉ là người chỉ hướng đi và kiểm tra tiến độ nghiên cứu hoặc ứng dụng mà thôi. Khi nghiên cứu xong một lý thuyết cơ bản hoặc một ứng dụng cơ bản vào cuộc sống người nghiên cứu đó mới là người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình. Giáo sư hướng dẫn cũng không thể sánh bằng!

Hầu hết (chứ không phải tất cả) các trường ứng dụng (professional schools or colleges) đều là trường sau đại học (graduated schools) yêu cầu các thí sinh muốn vào học phải trải qua 4 năm ở một bằng cử nhân khoa học (bachelor of art or science). Ví dụ: trường luật muốn vào học phải có bachelor of art. Trường y muốn vào học phải có bachelor of science, etc... Và các trường này là đào tạo bậc sau đại học chứ không phải đại học. Bằng cấp của các trường này là hoặc là cao học hoặc là tiến sĩ tùy theo mục tiêu của người học và mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Và cũng qua đó, chúng ta thấy trước thời kỳ đổi mới 1986, và hiện nay hầu hết các trường đại học của nước ta chỉ là những colleges, chưa phải là universities. Cho nên sức ỳ đưa lý thuyết đã được nghiên cứu đi và thực tế cuộc sống quá lớn. Hầu hết các nghiên cứu khoa học của các ngành khoa học ứng dụng làm xong rồi nằm trong thư viện hoặc trong một ngăn kéo nào đó đến mốc meo. Hoặc có nghiên cứu nhưng chỉ là nghiên cứu vì phong trào mà không đáp ứng cho nhu cầu thực tế cuộc sống. Và xã hội ta chỉ có những bác nông dân đồng thời là những kỹ sư cơ khí, đồng thời là nhà sinh học tạo ra những máy móc và giống vật nuôi cây trồng cho hiệu quả cuộc sống. Các nhà hàn lâm chỉ biết ngồi bàn giấy và mất thời gian vì chuyện phím ở các quán bia hơi.

Từ ngày đổi mới, cựu phó thủ tướng Nguyễn Khánh, sau khi tham quan các universities của các nước tiên tiến đã mang ý tưởng về thành lập các đại học quốc gia cho giáo dục bậc cao của Việt Nam. Đây là một ý tưởng tốt. Thế nhưng, vẫn còn nhiều sự hiểu nhầm các khái niệm về bằng cấp và các khái niệm mà tôi đã nhắc ở trên của bài viết này. Hậu quả là các bác sĩ phải đi học lại cao học. Ở các nước tiên tiến, khi đã tốt nghiệp BS y khoa, nếu muốn làm việc thêm ở các viện nghiên cứu hay trường đại học thì bác sĩ y khoa đó có thể đăng ký làm  MS hoặc PhD của một ngành khoa học cơ bản như sinh học, sinh hóa, sinh lý,  etc... Và chỉ có những BS(bachelor of science), MS  hoặc PhD các ngành khoa học cơ bản mới nộp hồ sơ vào học MD (Medicine Doctor) và ngược lại, các BA, BS, MA, MS và kể cả MD làm hồ sơ để bảo vệ PhD cho các ngành khoa học cơ sở cho y học và các chuyên ngành khác. Trong khi ở nước ta lại tréo ngoe là đã tốt nghiệp bác sĩ y khoa là nghiễm nhiên là tiến sĩ y khoa, nhưng phải đi học lại cao học y khoa (còn gọi là thạc sĩ y khoa) mà không phải là một cao học của khoa học cơ sở để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy. Trong tất cả các bằng cấp về khoa học ứng dụng, chỉ duy nhất bằng bác sĩ là tiến sĩ. Tất cả các bằng tiến sĩ khoa học khác đều là tiến sĩ cho khoa học cơ bản, tìm ra nền tảng lý thuyết cho ứng dụng vào thực tế nhu cầu cuộc sống.

Tiến sĩ khoa học cơ bản (PhD) là chứng chỉ khoa học để dùng làm nghiên cứu và giảng dạy. Tiến sĩ không hoặc rất ít dùng để làm việc trong cuộc sống đời thường như ở ta. Vì PhD là tiến sĩ khoa học cơ bản tìm ra cái mới, nhưng nhiều khi cái mới chỉ rất nhỏ ít có giá trị thực tế cuộc sống. Có lẽ vì thiếu hiểu biết như thế nên ở ta lạm phát bằng cấp và có chuyện mua bán bằng tiến sĩ giấy khá phổ biến như lâu này?

Còn tiến sĩ khoa học ứng dụng (MD) là tấm bằng duy nhất tiến sĩ bên thực hành. Nó chủ yếu là chứng nhận trong lúc đi học y khoa người học đã phải trải qua một thời gian dài thực tế lâm sàng thăm khám và chữa bệnh trên thực tế lâm sàng. Nó có giá trị về mặt làm việc dưới một kho kiến thức đầy ắp của khoa học cơ bản y học đã được nhân loại đúc kết qua hàng nghìn năm. Và có lẽ không có một ngành đào tạo nào mà có thời gian thực hành nhiều bằng trong đào tạo y khoa. Không thể đem so sánh PhD với MD trong cương vị bằng cấp được. Và cũng không thể chối cãi là MD không giá trị rồi đi tạo ra cái bằng mới là cao học y khoa lớn hơn cái tiến sĩ y khoa như ở ta lâu nay.

Với bài viết này, mong các bạn có kiến thức tốt hơn đóng góp ý kiến để nó hoàn thiện, để góp phần soi sáng tầm nhìn vĩ mô cho ngành giáo dục bậc đại học nước nhà trong cơn bĩ cực vì thiếu hiểu biết. Tôi sẽ tiếp tục phần hai về giáo dục đại học Việt Nam và một số bất cập. Năm mới chúc mọi người tìm thấy những trăn trở về giáo dục của mình mà chưa có lời đáp trong thời gian qua.

Asia Clinic, 15h30' ngày 19/02/2010

TẢN MẠN ĐẦU NĂM

Đầu năm bắt đầu bằng chuyện thế hệ của tôi qua họp mặt xuân. Không biết câu chuyện có là đại diện cho cả thế hệ chín muồi trong tư duy và hành động của một đời người hay không, nhưng là chuyện rất thực. Chuyện không có gì để đáng kể nếu như tất cả các thành viên họp mặt trong dịp tết năm nay ở quê nhà đều biết sử dụng internet. Ba mươi lăm năm gặp mặt tương đối đông đủ của hai thế hệ thầy trò ngày ấy. Họ tụ nhau về từ mọi miền đất nước. Ngày mồng 3, ngày tết của thầy cô. Mừng mừng, tủi tủi, kể nhau nghe những trải nghiệm cuộc đời. Tuy là hai thế hệ thầy trò, nhưng họ chỉ cách nhau chưa tới một thập niên tuổi tác. Những người thầy lớn hơn đã đi về chốn vĩnh hằng, chỉ còn lại những người thầy mà ngày ấy mới ra trường để đứng trên bục giảng. Cả thầy và trò đều với những mái đầu đã muối nhiều hơn tiêu.

Tất cả thầy, cô thì đã về hưu. Có người về hưu non đã tròn 20 năm vì không đồng tình với chiến lược giáo dục của đất nước. Có người về hưu đúng tuổi qui định. Trò là những con người đang thành đạt và không thành đạt. Tuy vị trí có khác nhau trong xã hội. Nhưng họ đối xử với nhau hiền hòa và chân chất như đất. Họ đã rơi nước mắt khi nhắc kỷ niệm xưa. Và họ đã nói với nhau về sự chín chắn của một thế hệ học trò sinh ra giữa bom đạn và lớn lên lúc gian nan.

Hơn 30 con người ngồi với nhau. Hai phần ba vẫn còn làm việc những nơi quan trọng của các ban ngành trong xã hội. Thế nhưng kể cả những nhà kinh tế, kỹ sư và các nhà lãnh đạo chính quyền cấp tỉnh và thành phố hầu hết không biết internet là gì. Mỗi ngày họ chỉ biết đọc báo giấy, thu lượm thông tin trên truyền hình bằng tiếng Việt. Tôi làm thử một vài câu hỏi thông tin trong nước và quốc tế, hầu như họ không biết hoặc biết không chính xác. Chỉ có một cặp vợ chồng thầy giáo xin nghỉ hưu non là cập nhật tình hình qua internet với một tư duy độc lập và sắc bén.

Điều ấy rất vui cho báo giấy nước nhà. Vì nếu không còn ai đọc báo giấy thì báo giấy sẽ chết. Nhưng điều ấy cũng rất buồn vì những rường cột xã hội hiện tại quá còn lạc hậu với thời đại. Họ nói với nhau rất ồn ào và rôm rả tất cả mọi vấn đề một cách giáo điều và cũ kỹ. Không có sự đột phá trong tư duy. Chỉ là những chiếc máy phát lại những giáo điều và sáo rỗng.

Cuộc họp mặt ắp đầy kỷ niệm. Nhưng không thấy được hôm nay và ngày mai. Đó là những gì tôi ghi nhận ở cuộc gặp mặt đầu năm thế hệ của tôi. Thế hệ mà đã trãi qua những lần mang nặng và đẻ đau  của đất nước và dân tộc. Quá khứ thì chất chồng tồn đọng. Hiện tại là sự dùng dằn lặp lại những tư duy khuôn sáo của quá khứ. Thế thì tương lai sẽ ra sao khi cần tiến về phía trước?

Asia Clinic, 7h55' ngày 19/02/2010

Thursday, February 11, 2010

ENTRY CUỐI CÙNG TRONG NĂM

Thông điệp cuối năm dành cho con trai và những ai đã và sẽ là nhà khoa học.

Định viết một entry cuối của năm thật đặc sắc. Nhưng rồi quyết định cuối cùng là phải làm điều cần làm là: Sáng nay thức dậy, một e-mail của một người bạn online, là một blogger nổi tiếng của Singapore mà hồi tháng 8/2009 đã đình đám khắp thế giới. Tiến sĩ Stanford về phân tử sinh học (Molecular Biology) Cai Ming Jie mà tôi đã từng có bài viết trên blog(1) vì tình cờ đọc được trên Straits Times(2) tại sân bay khi đưa con lên đường đèn sách.

Buồn cười ở chỗ là anh ta đưa nguyên xi một đoạn quảng cáo về cuốn sách Diary of A Taxi Driver của anh ta để tớ mua sách mà đọc. Cái hay của anh ta là ngay cả Amazon.com cũng có cuốn nhật ký của anh ta để bán. Giá cuốn nhật ký cũng không đắt, nhưng so với giá Việt Nam thì nó lại quá đắt để mua: $19.90 chưa tính thuế. Anh ta còn nhã ý nói với tớ là nhờ tớ giới thiệu dùm cuốn nhật ký của anh ta với độc giả Việt Nam. Biết đâu sẽ có một nhà xuất bản nào đó của Việt Nam lấy nó mà dịch ra song ngữ cho mọi người đọc và có thể học tiếng Anh cũng nên?

Bên cạnh một văn phong hàn lâm cà tửng của một tay tiến sĩ đã từng tốt nghiệp về sinh học phân tử và làm việc tại Stanford. Sau đó là 16 năm làm việc cho viện nghiên cứu sinh học tế bào và phân tử sinh học của Singapore (Institute of Molecular and Cell Biology)(3), rồi mất việc bất đắc dĩ trở thành tay lái taxi cho hãng SMRT(4). Cai Ming Jie chuyên đưa khách làng chơi du lịch từ khắp thế giới đến với những khu đèn đỏ ở Sing. Nhật ký nói lên nỗi chua chát cuộc đời của một nhà khoa học trỡ lại đời lao động. Một trong những hoàn cảnh rất hiếm ở thế giới Á Đông. Nơi mà giá trị học vị rất được xem trọng, nhưng nó lại rất thường tình ở những nước có tư tưởng rộng mở như Mỹ.

Cuối năm không viết điều gì to tác, lớn lao. Chỉ mong viết entry này để làm việc tốt cho đời. Ít ra thì cũng giúp một nhà khoa học kiếm ít tiền mọn trong lúc sa cơ lỡ vận. Nếu có nhà báo, nhà xuất bản nào có ý tưởng giới thiệu một mãnh đời thật, đáng yêu, biết sống bằng mồ hôi, nước mắt của mình mà tâm luôn trong sáng thì nên liên hệ đặt mua cuốn nhật ký anh ta qua Paypal(5) hoặc có thể liên hệ với anh ta qua blog của anh là: A Singapore Taxi Driver's Diary(6) để mua bản quyền xuất bản. Đây có thể là hình ảnh của nhiều nhà khoa học tương lai của Việt nam khi sa cơ lỡ vận. Đây cũng là một cuốn nhật ký có tính giáo dục cao cho thế hệ trẻ Việt trong thời đại điên cuồng ngày nay.

Con trâu cày của Obama sắp qua, chúa sơn lâm của ai sắp đến thì chưa biết. Nhưng kính chúc các bạn Bloggers của tôi một năm mới sức khỏe và sống sót với vấn nạn kinh tế toàn cầu và của nước nhà do các bậc hiền tài nước Việt vừa mới tạo ra hôm nay: làm mất giá đồng Việt(7) cao nhất từ 17.791VND/USD lên 18544VND/USD theo giá liên ngân hàng,  làm cho giá chợ đen tăng vọt từ 19.200/USD lên đến 19.650/USD trong sáng hôm nay. Một dấu hiệu báo động nguy nan cho các nhà thuần khoa học Việt như Cai Ming Jie và người dân nghèo Việt. Hẹn các bạn với những entry về giáo dục đại học sau tết con Cọp.

Tư gia, 15h50 ngày 11/02/2010

Wednesday, February 10, 2010

LẠI CHUYỆN CÚM GIA CẦM H5N1

Năm 2005, một đợt cúm gia cầm A/H5N1 làm rung chuyển cả thế giới, trong đó có Việt Nam. Năm ngoái, 2009, lại một đợt cúm gia súc A/H1N1(1) làm tiêu tốn bao nhiêu tiền của, giấy mực của cả thế giới. Tất cả đều là chuyện la làng nhưng chưa ai hiểu biết gì về cúm.

Một câu hỏi đặt ra mà ít ai quan tâm là: Liệu con cúm gây bệnh cho gia súc A/H1N1 và gia cầm A/H5N1 có thể lây từ vật nuôi sang người hay không? Tại sao?

Đứng về mặt sinh học phân tử thì tế bào con người khác với tế bào của động vật khác loài như gia cầm và gia súc. Sự khác nhau về mặt bản chất là các kháng nguyên bề mặt và chất liệu di truyền của tế bào người và tế bào động vật khác loài không thể giống nhau. Cho đến giờ này người ta chỉ thấy hai loài khác nhau là lừa và ngựa lai giống thì sinh ra con la. Nhưng con la đó lại không thể sinh sản. Ngoài ra, chưa thấy thế giới sinh học lại tìm ra được một sự giao phối nào giữa 2 loài khác nhau mà có thể sinh ra con.

Điều đó là chứng tỏ rằng: mỗi loài có một chất liệu di truyền sinh học khác nhau thì sẽ có những dòng virus gây bệnh khác nhau. Dù virus đó cùng chủng loài như virus cúm A, thì con virus gây bệnh cho gà thì không thể gây bệnh cho người được. Hoặc con gây bệnh cho heo thì không thể gây bệnh cho người.

Đó là hai mặt của một vấn đề trong miễn dịch học. Và cũng chính điều đó mà mới có chuyện đề kháng của cơ thể đối với vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Nó là mặt lợi để con người có sức đề kháng với mầm bệnh. Nhưng ngược lại, nó lại là yếu tố quan trọng gây nên loại ghép khi một bệnh nhân được ghép một cơ quan của một người khác hiến tặng. Chỉ có bệnh nhân bị nhiễm HIV đến giai đoạn AIDS(Acquired Immune Deficiency Syndrome) thì mới không có thể loại cơ quan được ghép mà thôi. Người bình thường, khi ghép 1 cơ quan của người khác vào thay thế cơ quan bị bệnh phải bỏ đi thì chuyện loại ghép còn là điều y học phải giải quyết.

Và cho đến giờ này ngay cả CDC(2) cũng chỉ dám dùng từ là có "sự dính líu"(implication) giữa con H5N1 gây cúm cho gà với gây cúm cho người. Chưa có một tài liệu nào trên thế giới có bằng chứng rằng con cúm gây bệnh cho gia súc và gia cầm thì làm lây bệnh từ gia súc và gia cầm sang con người cả.

Tối hôm nay, ngồi điểm tin để viết một entry cuối năm trước khi về quê ăn tết thì thấy cái tin trên trang RFI: Việt Nam tiêu hủy hàng ngàn gia cầm để phòng dịch cúm gà tái phát(3). Nên vội viết entry này, để mong rằng các nhà quản lý y tế Việt Nam đừng nên vì thiếu hiểu biết rồi làm nên một lần tan gia bại sản người nông dân tội nghiệp nữa. Năm 2005 cũng vì cái dốt mà đã làm khổ không biết bao doanh nghiệp và nông dân rồi. 

Tôi thử tìm hiểu trên các thông báo hướng dẫn(4) của các ban ngành có trách nhiệm về cúm gia cầm thì chỉ vài dòng mơ hồ, đơn sơ mà không có sự tỏ tường cho người dân. Phòng cúm gà là phòng cúm không lây lan từ khu nuôi gà này sang khu nuôi gà khác. Chứ phòng cúm gà không có nghĩa là sợ cúm gà lây từ gà sang người.  

Người ta bảo rằng dốt thì học còn có thể hiểu biết. Nhưng, ngu thì học có hết kiếp người cũng không thể hiểu biết được.

Tư gia, 21h46' ngày 10/02/2010

Tuesday, February 9, 2010

NỖI BUỒN CUỐI NĂM

Hôm qua trên Vietnamnet có một cái tựa thật ấn tượng về hoạt động các phòng khám Đông y Trung Quốc tại Việt nam. Một vấn đề nhức nhối mà trong loạt bài viết về Y khoa Việt Nam cần thay đổi gì? tôi đã từng nhiều lần đầ cập đến. Ngành y Việt Nam chưa và không bao giờ tệ với khu vực về chuyên môn và đạo đức. Ngành y Việt Nam tệ như hôm nay là do quản lý yếu kém.

Bài viết trên Vietnamnet tuy rất tế nhị, nhưng với cái dòng trong ngoặc kép: "xem lại mình" của tác giả Cẩm Ly đã nói lên ai xem lại ai khi: "Trong năm 2009, Sở Y tế Hà Nội tiến hành 3 đợt thanh tra, trong đó có nội dung thanh tra các phòng khám y học cổ truyền Trung Quốc. Đến hết tháng 11, Sở đã phát hiện những sai phạm phổ biến như: Chưa thực hiện niêm yết tên thuốc trong y bạ bằng 2 thứ tiếng, sử dụng thuốc chưa được cấp phép, bán thuốc giá cao hơn giá niêm yết, bác sỹ hành nghề chưa được cấp phép"

Thế thì nguyên nhân từ đâu? Vì phòng khám Việt? hay vì dân trí Việt kém? hay vì quản lý y tế Việt Nam kém? Có lẽ cả ba nguyên nhân trên. Phòng khám Việt bị quá tải vì quản lý y tế Việt Nam kém. Phòng khám Việt không biết quảng cáo như phòng khám Đông y Trung Quốc vì họ quan niệm nghề y không giống như việc làm ra lọ nước tương, nên không cần quảng cáo, mà hữu xạ tự nhiên hương. Thế thì đạo đức y khoa Việt có vấn đề chăng?

Còn dân trí Việt thì 95% là đám đông vô thức. Với văn hóa làng xã, người Việt không biết chạy đi đâu, ngoài việc nghe đồn thế là đến giao tính mạng của mình cho bất kỳ ai. Tại sao?

Quản lý y tế Việt thì rất, lắm, quá tồi hơn 30 năm qua. Tại sao ngành y cứ để tình trạng quảng cáo vô tội vạ vì tiền trên các phương tiện truyền thông như lâu nay? Tại sao ngành y Việt cứ vẫn để tình trạng quá tải giả tạo như lâu nay? Những câu hỏi mà những ai làm nghề y không thể không đau lòng.

Muốn làm cho người dân Việt ý thức được các nhà quản lý tư tưởng của dân cần định hướng lại thông tin truyền thông phục vụ vì cộng đồng Việt, chứ không phục vụ vì tiền. Cần xây dựng những thế hệ sống vì cộng đồng. Tiền có thể làm ra được, nhưng tri thức  và trí thức không thể mua được bằng tiền.

Chúng ta đã xa rồi những thế hệ biết lao vào cam go vì cộng đồng chăng? Và ngày nay chúng ta chỉ có những thế hệ lao vào cam go vì tiền chăng? Sao tôi thèm khát cái hình ảnh những nam sinh, nữ sinh xuống đường lo trật tự giao thông ở những giao lộ cái thời sau 30/4/1975 thế nhỉ?  Họ nhờ đâu mà có? Bây giờ những thế hệ như thế đi đâu cả rồi, vì sao? Viết đến đây bỗng nhớ mấy câu thơ của Chế Lan Viên: "Lũ chúng ta ngủ trên giường chiếu hẹp. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con". Ôi sao mà buồn thế nhỉ?

Asia Clinic, 11h05' ngày 09/02/2010

Monday, February 8, 2010

CÂU CHUYỆN CUỐI NĂM: BÁC SĨ GIA ĐÌNH


Gần đây những nhà quản lý y tế Việt Nam có đề cập đến mô hình bác sĩ gia đình để giải quyết nạn quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện. Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh còn đưa ra phương án đào tạo bác sĩ gia đình trong dài hạn(1). Thế nhưng, vấn đề quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện của Việt Nam là do quản lý kém chứ không phải Việt Nam thiếu nơi chữa trị bệnh cho bệnh nhân. Bằng chứng đã hơn 6 năm nay, khi tôi mở clinic tư nhân thì con số bệnh nhân nhập viện để điều trị nội trú chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vấn đề quan trọng để giải quyết tình trạng quá tải của Việt Nam nằm ở quản lý vi mô và vĩ mô của ngành y tế chứ không phải Việt Nam thiếu bác sĩ và thiếu nơi để bệnh nhân được điều trị. Như vậy,  mô hình bác sĩ gia đình và nhiệm vụ bác sĩ gia đình ở các nước tiên tiến như thế nào là hiệu quả? Dường như ngay cả các cán bộ quản lý y tế Việt cũng chưa thấu hiểu hết điều này. Trong bài viết này tôi muốn đưa đến công chúng thế nào là một mô hình hệ thống bác sĩ gia đình tốt. Tôi xin lấy mô hình bác sĩ gia đình của Mỹ để làm xương sống cho bài viết.

Câu hỏi đầu tiên là định nghĩa, thế nào là một bác sĩ gia đình? Bác sĩ gia đình là bác sĩ được đào tạo bài bản, chính qui (không phải chuyên tu) và thêm 3 năm theo chế độ thường trú 24/24 ở các phòng khám, bệnh viện và sơ, cấp cứu tại nhà người bệnh sau khi tốt nghiệp y khoa. Ba năm này là ba năm họ không biết mặt trời mọc hay lặn lúc nào? Sau khi đã trãi qua 4 năm để lấy một cử nhân, rồi được nhận vào học 4 năm đày đọa ở trường y để lấy được tấm bằng bác sĩ. Như vậy để trở thành bác sĩ gia đình phải trãi qua 11 năm ròng rã với 4 năm cử nhân và 7 năm y khoa lý thuyết và thực hành. Chương trình đào tạo 3 năm sau khi đã tốt nghiệp bác sĩ bao gồm một số lĩnh vực y khoa về chăm sóc sức khỏe cộng đồng như sau(2):
  1. Chăm sóc sức khỏe cho tất cả các lứa tuổi từ trẻ đến già.
  2. Điều trị và chăm sóc những bệnh mãn tính như: tiểu đường, hen suyển và bệnh tim.
  3. Điều trị bệnh tai, mũi, họng.
  4. Điều trị cấp cứu.
  5. Các thủ thuật tiểu phẫu.
  6. Chăm sóc sức khỏe tâm thần.
  7. Điều trị bệnh xương khớp.
  8. Điều trị bệnh lý mắt.
  9. Chương trình x quang chẩn đoán.
  10. Điều trị bệnh lý hệ thống đường niệu – sinh dục.
  11. Lập kế hoạch sức khỏe cho gia đình, tư vấn về sinh sản và tình dục cho phái nữ.

Hãy cứ nhìn chương trình học 3 năm sau khi đã tốt nghiệp bác sĩ y khoa của một bác sĩ gia đình thì sẽ thấy những yêu cầu của một bác sĩ gia đình là rất cao. Họ phải là một bác sĩ đa khoa, có hiểu biết toàn diện từ chẩn đoán, điều trị đến tiên lượng một bệnh lý. Hòng quyết định đúng và kịp thời là bệnh nào điều trị ngoại trú (không nhập viện), bệnh nào phải bắt buộc nhập viện? Họ không chỉ biết nhìn một bệnh nhân ở một bộ phận cơ thể đơn độc như bác sĩ chuyên khoa, mà họ nhìn bệnh nhân dưới một hệ thống thống nhất của nhiều cơ quan, bộ phận bị trục trặc khi vận hành cho quá trình sống. Họ không chỉ điều trị cho người trưởng thành mà còn cả cho trẻ em và người già, không giới hạn giới tính như các bác sĩ chuyên khoa sản. Các bạn hãy tưởng tượng kiến thức y khoa của một bác sĩ gia đình là kiến thức toàn diện của một bác sĩ y khoa lâu năm, kinh nghiệm như một giáo sư bác sĩ của một trường dạy y khoa vậy. Thế nhưng, qua tiếp xúc nhiều bác sĩ gia đình của phương Tây. Tôi đánh giá về kiến thức và kinh nghiệm của họ không  thể so với những bác sĩ có kinh nghiệm ở Việt Nam. Có nghĩa là ở đâu cũng có người tài. Vấn đề biết sử dụng người tài mới là quan trọng cho một nền y học của một đất nước.

Như vậy đã đủ chưa? Chưa đủ, vì sau khi được làm việc thì họ phải tự cập nhật kiến thức để cứ mỗi sáu năm họ phải được cập nhật kiến thức và nhận chứng chỉ lại ở các trường y. Từ đó, họ lại là những người vẫn có thể có những phát kiến mới trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho y học thế giới. Vẫn chưa đủ, vì ở tại phòng khám y khoa gia đình của các bác sĩ gia đình được trang bị một phần mềm nối kết với các bệnh viện có điều trị chuyên khoa. Phần mềm đó có thể liên lạc thông tin bệnh tật cho thân chủ từ lúc thân chủ ấy mới sinh ra đến ngày họ chết. Đã thế, nếu thân chủ của họ có đi du lịch cùng trời cuối đất trên quả địa cầu này, mà bị đau bệnh bất thình lình, thì chỉ cần một cơ sở y tế có hệ thống internet nối kết và yêu cầu thông tin về tiền sử bệnh của thân chủ ấy là họ sẽ gửi đến một bản tiền sử dài, có thể bằng như một sớ táo quân trình lên Ngọc hoàng thượng đế, không thiếu một chi tiết nào.

Sau khi ra trường, họ không làm việc ở các bệnh viện chuyên khoa, nhưng họ có phòng khám riêng của họ và có sự liên lạc thông tin với các bệnh viện, trung tâm điều trị chuyên khoa. Thân chủ nào trong khu vực gần phòng khám của họ tín nhiệm thì đăng ký khám bệnh ở họ. Bác sĩ gia đình nào có nhiều thân chủ thì được hưởng nhiều, vì biểu giá khám đã được qui định bằng nhau cho mỗi lần khám hoặc tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân.

Bác sĩ gia đình có bắt buộc phải đến tận nhà bệnh nhân để khám bệnh không? Câu trả lời là không mà có, có nhưng mà là không! Tại sao? Vì họ chỉ đến nhà thân chủ khi có yêu cầu cấp cứu, còn lại nếu bệnh tật thông thường, mãn tính thì thân chủ phải đến phòng khám của họ và có đăng ký ngày giờ trước, chứ không dễ dàng như ở nước ta, thân chủ muốn khám khi nào thì cứ đến, còn bác sĩ thì cứ ngồi chờ, như chờ “cá cắn câu”!!! Ví dụ như khi Michael Jackson bị suy hô hấp do lạm dụng thuốc giảm đau có chất gây nghiện là morphine thì bắt buộc bác sĩ  Conrad Murrey phải có mặt để hồi sức cấp cứu, nhưng thường ngày khi cần thì Micheal Jackson phải đến phòng khám của ông ta để xin tư vấn sức khỏe và xin toa thuốc để mua mà dùng.

Thế thì bệnh nhân có được vượt tuyến không? Câu trả lời có cũng đúng mà có cũng sai. Tai sao? Tất cả các trường hợp cấp cứu, nếu vì bất kỳ một lý do nào đó mà người bệnh không thể trì hoãn hoặc chờ đợi bác sĩ gia đình thì người bệnh đành phải tức tốc đến các khoa hoặc trung tâm cấp cứu (emergency center hay department) của các bệnh viện - ví dụ như tiêu chảy cấp - để được điều trị theo chế độ ở đơn vị săn sóc đặc biệt (Intensive care unit), nhưng rất tốn tiền. Nếu có bảo hiểm y tế thì may ra không sạt nghiệp, nếu không có bảo hiểm y tế thì chỉ cần 1 đêm ở các trung tâm cấp cứu với chế độ săn sóc đặc biệt thì 1.000 Mỹ kim không nghĩa lý gì! Ngoài trường hợp bất khả kháng, tất cả các bệnh lý mãn tính và thông thường đều phải được bác sĩ gia đình khám, chẩn đoán, điều trị và tiên lượng xong rồi phân loại là bệnh nào phải cần đi khám chuyên khoa ở bác sĩ nào? ở bệnh viện nào? Hay có phải nhập viện để điều trị hay không? v.v…

Có bạn lại thắc mắc rằng: Mỗi bệnh nhân chỉ có một bác sĩ gia đình quản lý sức khỏe và không được đi bác sĩ gia đình khác, đúng hay sai? Tại sao? Xin thưa là nữa đúng, nữa sai. Vì như phần trên tôi đã nói. Thân chủ tín nhiệm ai thì đăng ký bác sĩ đó. Nếu thân chủ không còn tín nhiệm bác sĩ cũ của mình thì đem thẻ theo dõi y tế của mình chọn bác sĩ khác. Có thể một bệnh nhân ở quận này, nhưng đăng ký theo dõi sức khỏe ở quận khác cũng không ai dám cấm. Nhưng trong thời gian đang đăng ký bác sĩ này thì không được đi khám ở một bác sĩ khác. Muốn đi khám bác sĩ khác thì phải rút đăng ký bác sĩ này chuyển sang theo dõi ở bác sĩ khác(3). Và dĩ nhiên, đó là sự cạnh tranh một cách công bằng về nghề nghiệp. Vì nó ảnh hưởng đến thu nhập của các bác sĩ gia đình.

Hệ thống quản lý y tế của Mỹ là một thể thống nhất, có trật tự theo luật lệ của từng tiểu bang. Một bác sĩ tốt nghiệp y khoa ra hành nghề ở tiểu bang này, không thể đi hành nghề tiểu bang khác. Vì mỗi tiểu bang như một quốc gia, có luật hành nghề y khác nhau. Muốn hành nghề tiểu bang khác thì bác sĩ đó phải thi lấy bằng luật ngành y của tiểu bang mà họ muốn đến sống và làm việc, ngoài tấm bằng chuyên môn. Hệ thống quản lý công quyền của nhà nước chỉ quản lý về luật y khoa mà không được quản lý và khống chế chuyên môn. Chuyên môn y tế được quản lý và khống chế do một tổ chức độc lập hoàn toàn với tư pháp, hành pháp và lập pháp. Tổ chức đó gọi là y sĩ đoàn(4), y sĩ đoàn là tổ chức của những thầy thuốc uy tín về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp được các bác sĩ thành viên đề cử giám sát và theo dõi mọi hoạt động nghề nghiệp từ chuyên môn đến đạo đức nghề nghiệp các thành viên. Họ có quyền truy tố và bảo vệ thành viên về chuyên môn và đạo đức trước pháp luật nhà nước.

Như vậy, để Việt Nam có một hệ thống bác sĩ gia đình tốt tham gia vào chống nạn quá tải ở các bệnh viện Việt Nam cần có những bước làm chuẩn tuần tự như sau:
  1. Thiết lập hệ thống luật y khoa cho người dân và người hành nghề y.
  2. Thiết lập và kiện toàn hệ thống quản lý y tế về chuyên môn và đạo đức có đủ uy tín về chuyên môn và đạo đức.
  3. Phải có một hệ thống phần mềm quản lý y khoa thống nhất trong toàn quốc từ trung ương đến địa phương, từ bệnh viện ra đến các hệ thống phòng khám công cũng như tư nhân có thể kết nối liên lạc nhanh chóng.
  4. Phải có một lực lượng bác sĩ đa khoa lâu năm, kinh nghiệm có kiến thức y khoa toàn diện làm nền tảng ban đầu xây dựng hệ thống bác sĩ gia đình. Chứ không phải đi đào tạo đâu đó ở trời Tây, chỉ biết bệnh của Tây mà không hiểu bệnh của ta là có thể làm được. Vì mỗi vùng địa lý có một số bệnh lý đặc thù với tầng suất xảy ra cao hơn và biểu hiện lâm sàng cũng khác hơn trên cùng một bệnh lý. Và vì Việt Nam không thiếu những bác sĩ có thừa khả năng để làm hệ thống bác sĩ gia đình tốt như trời Tây. Vấn đề là có biết sử dụng và biết quản lý hay không mà thôi.

Hy vọng rằng bài viết cuối cùng năm Kỷ Sửu sẽ là món quà đầu xuân Canh Dần, 2010 cho bà con một cái nhìn toàn diện: thế nào là bác sĩ gia đình, làm thế nào để có một hệ thống bác sĩ gia đình tốt cho người bệnh Việt Nam? Một lĩnh vực cũ người, nhưng mới ta. Mới vì không phải ta chưa có, nhưng vì ta đã làm, nhưng làm sai về quản lý. Các bạn thấy có gì thiếu sót thì góp ý thêm nhé. Cảm ơn,

Asia Clinic, 7h45' AM ngày 08/02/2010

Saturday, February 6, 2010

TỰ SỰ CUỐI NĂM

Người ta bảo kẻ không thành đạt thì mượn chuyện con để tìm kiếm niềm tự hào và hy vọng sống. Mình cũng thuộc loại làn nhàn, không ra chi ở trên đời. Thôi thì nói chuyện con để kiếm chút niềm tin để sống.

Thằng nhỏ ra đi từ năm 14 tuổi, tự thân, tự lập nơi đất khách, quê người. Tự đi và tự về, tự sắp xếp cuộc sống giữa giông bão cuộc đời ở vùng đất khắc nghiệt nhất. Lúc đau yếu, lúc cô đơn của những ngày đoàn tụ gia đình như dịp lễ, tết trong năm đều phải tự tìm sự thanh thản tâm hồn, mà không ai có thể hỗ trợ được. Cuộc đời cậu như cây xương rồng trỗ hoa trên sa mạc. Khắc nghiệt và tự trường tồn. Không có tuổi thơ, không khái niệm quê hương. Vì tuổi thơ ở đâu thì quên hương ở đó. Nhưng tuổi thơ của nó là chuỗi những ngày tha hương, vật lộn với những tư duy khác biệt. Đã hơn 5 năm, từ ngày cậu đến nơi cậu cần đến để trau giồi trí thức và tri thức của đời, tớ và mẹ nó chưa bao giờ có thời gian đến thăm nó. Nghĩ cũng thấy xót xa, nhưng có vinh quang nào không đi từ cay đắng? Đành vậy.

Vài tháng nay cậu phải học philosophy để phục vụ lý luận trong nghiên cứu khoa học. Cậu lùng bùng khi chạm vào thế giới được xem là thượng lưu của tư duy. Nhưng cuối cùng cũng xong, khi cậu cầu cứu đến ba của nó. Hôm nay cậu muốn thể hiện những thẩm thấu triết học của cậu sau 2 tháng miệt mài đèn sách. Thế cũng ổn. Suy đi, nghĩ lại, thấy mình cũng có ích với đời, ít ra là với cọng rác mà mình đã nặn ra.

Đời là thế, ta phải làm sao khi đang sống đừng nên xả rác vào đời. Nếu có xả rác thì cũng biết vo tròn rác và xếp rác vào đúng ngăn của nó. Với quan niệm sinh ra con cái trên đời là một cách xả rác vào đời của tớ có đúng không nhỉ? Nhiều lúc thấy mình chã ra làm sao cả.

Asia Clinic, 10h07' AM ngày 06/02/2010

Thursday, February 4, 2010

AI CẦN AI?

Hôm qua là một ngày mà có hai luồng ý kiến báo chí khác nhau giữa 2 nước Việt Nam và Mỹ. Một đằng thì trang Vietnamnet bảo rằng: Mỹ muốn tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam(1). Trong khi đó thì trang VOAnews lại đưa tin rằng ông đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michalak bảo rằng: "Mỹ vẫn sẽ tiếp tục đối thoại nhân quyền với Việt Nam"(2).

Hai vấn đề là hai lĩnh vực khác nhau, dù vẫn đối thoại nhân quyền, nhưng vẫn muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với nhau. Vì đâu?  Nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì khi ông cựu Tổng thống Bill Clinton sang năm 1994 để đàm phán xóa cấm vận Việt Nam thì họ chỉ xóa về thương mại. Còn quân sự và chính trị vẫn còn, chưa xóa cấm vận thì phải? Bằng chứng là Việt Nam đã đề nghị Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm bán loại vũ khí sát thương(3) cho Việt Nam, mà chuyện này thì quốc hội Mỹ chưa thông qua, trong chuyến đi của bộ trưởng quốc phòng Việt nam cuối năm 2009.

Hơn nữa, tới giờ này công dân Việt xin visa đi Mỹ cũng chỉ được đại sứ Mỹ tại Việt Nam duyệt cho 12 tháng. Trong khi đó, những nước trong Asean như Thái, Sing thì những 10 năm. Anh hai láng giềng của Việt nam là Trung quốc thì được duyệt visa đến 5 năm. Động thái này làm cho dân Việt tốn không ít đô la Mỹ. Vì mỗi lần được duyệt visa phải tốn đến $231. Trong đó $100 cho FBI theo dõi người nhập cư Mỹ mà không thuộc diện di dân vĩnh viễn. Phí này gọi là sevis fee(4). $131 còn lại là làm thủ tục visa nhập cảnh Mỹ. Cứ bất kỳ công dân Việt nào mà rời Mỹ quá 6 tháng, muốn đi lại thì lại phải mất $231. Còn nếu 2 lần nhập cảnh Mỹ mà cách nhau không quá 6 tháng thì hồ sơ FBI Mỹ theo dõi vẫn còn, nên chỉ đóng $131.

Đời lạ thật, mình đi du lịch đến Mỹ, là mình mang tiền đến cho nước Mỹ, nhưng mình phải đóng tiền $100 để nó theo dõi mình. Mỹ này chã "biết điều" gì cả. Trong cơn suy thoái sống dở chết dở mà còn "chảnh". Thế thì, qua những sự kiện trên thì ai cần ai? Khó hiểu thật. Nhưng suy đi, nghĩ lại, Mỹ chảnh cũng phải, vì chỉ mới có việc ông Obama từ chối tham dự(5) cuộc họp thượng đỉnh của Liên minh châu Âu mùa xuân này thôi thì cả châu Âu phải lo lắng rồi.

Asia Clinic, 19h05 PM ngày 04/02/2010
Xem thêm: http://www.cuanhcuem.net/2013/01/tong-hop-cach-chen-emoticons-threaded-comments-blogspot.html#ixzz2UfngJs3i Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial