Saturday, July 31, 2010

THỬ NHÌN TOÀN CỤC TÌNH HÌNH

Đa phần người dân Việt nhìn nhà nước và chính phủ trong vấn đề bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ dưới con mắt tiêu cực. Một nước nhỏ như Việt Nam có đường biên cùng với anh bạn 16 chữ vàng đầy nham hiểm, và đã từng bán đứng Việt Nam trong quá khứ để quay đầu từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản vào thập niên 1970s bằng cách bắt tay với Mỹ, là không hề dễ dàng. Hầu hết người dân Việt sống và lớn lên ở miền Nam trước năm 1975 đều có con mắt nhìn chính quyền Việt Nam hiện nay là sai lầm mọi khía cạnh. Hôm nay tôi thử phân tích một cái nhìn ngược dòng lịch sử Việt Nam cận đại xem nó như thế nào?

Tình hình tế giới sau thế chiến thứ II, người Mỹ đã cố gắng giành lấy Tây Âu, trong đó có 1/2 nước Đức và thành lập khối Nato để làm đối trọng với khối Vasavar. Từ đó, chiến tranh lạnh đã xảy ra suốt 45 năm 1945-1990. Trên bình diện chiến lược toàn cầu, châu Á là khu vực đông dân, còn lạc hậu và giàu tài nguyên không thể thoát khỏi tầm mắt của người Mỹ. Với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc còn là thuộc địa dưới ách thực dân, Việt Nam nổi lên như một đầu tàu cho châu Á và thế giới còn nô lệ với lãnh tụ là cụ Hồ. Người Pháp kiệt quệ sau thế chiến thứ II. Trung quốc nổi lên như một anh cả đỏ ở châu Á. Liên Xô  trên danh nghĩa là anh cả đỏ toàn thế giới, nhưng không được Trung quốc nễ trọng. Người Trung quốc dưới sự lãnh đạo của Mao luôn xem mình mới là anh cả đỏ của phía cánh tả. Đường biên giới Liên - Trung luôn sôi sục một cuộc chiến. Để chiếm lấy thị trường béo bở Trung quốc, người Mỹ đã thương thảo và thế chân người Pháp ở miền Nam Việt Nam sau hiệp định Genève 1954

Người Mỹ nhảy vào Việt Nam ngoài mục tiêu chặn làn sóng Cộng sản lan rộng xuống Đông Nam châu Á và toàn thế giới, mục tiêu lớn hơn của họ là lăm le thị trường lớn Trung quốc. Trong khi người Trung quốc chưa đủ sức để địch lại Liên Xô, nhưng chưa chịu phục tùng Liên Xô, người Mỹ nhảy vào Việt Nam nhằm để nếu Liên Xô động binh xâm chiến Trung quốc, người Mỹ sẽ kịp thời trở tay ở phía Nam. Đồng thời họ cũng nhảy vào Nam Triều Tiên và Nhật Bản ở phía Đông Trung quốc. Họ đã tiêu hao tiền của, và sức người ở chiến tranh Việt Nam được cho là lớn nhất mọi thời đại. Nhưng khi Mao thất bại trong công cuộc đại nhảy vọt và đại cách mạng văn hóa đã đẩy Trung quốc đến bên bờ vực thẳm, ông đã đi đêm với người Mỹ để bẻ lái và từ bỏ chính quyền có mô hình kinh tế bao cấp của Lenin vạch ra. Chuyến thăm lịch sử của Nixon với Mao năm 1972 là một cột mốc làm thay đổi cục diện chiến tranh lạnh toàn cầu, trong đó có hơn một nữa dân Việt ở miền Nam Việt Nam là một nạn nhân của thời đại. Với cuộc gặp lịch sử ngày 21/2/1972 giữa Nixon và Mao cuộc chiến Việt Nam đã được xem là kết thúc, khi Trung quốc được trao nhiệm vụ sớm chấm dứt cuộc chiến một cách thuận lợi để người Mỹ không còn sa lầy ở vũng bùn tăm tối này. Ngược lại người Mỹ được thị trường đông dân nhất thế giới là Trung quốc. Và hiệp định Paris 1973 đã đi đến sự rút quân của Mỹ tại Việt Nam. Kết cục của cuộc chiến như thế nào ai cũng rõ.

Sau khi thống nhất đất nước 1975, chính quyền Việt Nam đã không quên anh bạn 16 chữ vàng luôn tráo trở. Nên Việt Nam đã có một chính sách ngoại giao chưa khôn khéo đã dẫn đến cuộc chiến Tây Nam và phía Bắc 1979. Thực chất của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc 1979 có nhiều lý do để lý giải. Song nó thể hiện rõ bộ mặt không thân thiện của người bạn luôn ôm ấp mộng bá quyền, và điều đó vẫn còn dai dảng đến hôm nay. 

Người Mỹ vì thực dụng, họ đắm chìm trong ảo tưởng số một toàn cầu, họ ngủ quên trong suốt 20 năm, để rồi hôm nay họ bừng tỉnh với người bạn láng giềng đầy tham vọng của Việt Nam, đã gây không biết bao nhiêu đau khổ cho dân Việt sau 1975. Sau 15 năm nối lại bang giao, Việt Mỹ hôm nay đang xem nhau là đối tác xóa bỏ hận thù và chung tay gìn giữ yên bình và toàn vẹn lãnh thổ ở biển Đông sau chuyến thăm của bà Hillary Clinton. Nhân dân 2 nước Việt Nam và Mỹ phải biết ơn gia đình Clinton, một gia đình kiệt suất đã có công lớn cho nước Mỹ trong gần nữa thế kỷ qua, và có công không nhỏ trong việc xóa bỏ hận thù hàn gắn hữu nghị 2 cựu thù. Nhìn hình ảnh 15 năm trước họ đến Việt Nam để quyết định xóa cấm vận còn trẻ trung, bây giờ đầu đã bạc tôi cũng thấy chạnh lòng.

Như vậy, tất cả các cường quốc trên thế giới đến với nước nhỏ không ngoài mục tiêu có lợi cho họ. Trong hơn 20 năm qua Việt Nam chịu lép vế với người láng giềng và ngậm đắng nuốt cay không phải vì chịu thần phục, mà vì chưa đủ thế và lực để ngồi nói chuyện với nhau ngang hàng. Sau cuộc thăm của bà Hillary Clinton, một thế và lực mới đã mở ra để Việt Nam có thể tuyên bố: Việt Nam có đủ khả năng phản vệ với bất kỳ hành động vũ lực từ bên ngoài, ngay sau cuộc tập trận trên biển Đông của bạn láng giềng.

Một phần ba thế kỷ là một khoảng thời gian dài của một đời người, nó làm một đứa trẻ sinh ra và trưởng thành. Nhưng nó chỉ là một khoảng ngắn với lịch sử của một dân tộc, mà nhiều lúc trên bài giảng quốc sử chỉ tóm lược 1 dòng. Tâm thế và tư thế ngoại giao Việt Nam đã lớn lên trong 1/3 thế kỷ qua, từ chỗ bị bao vây, cô lập đến bây giờ là đối tác và là trụ cột của khu vực trong vấn đề ổn định tình hình và tròn vẹn lãnh thổ khu vực qua nhiệm vụ chủ tịch hiệp hội Asean.

Không đơn giản để giải quyết những vấn đề hóc búa về lãnh thổ và ngoại giao ở một nước có vị trí địa chính trị như Việt Nam. Hãy nhìn sang Âu có Georgia, có Ukraina, etc... họ đã vất vã như thế nào khi có đường biên quan trọng và cận kề với nước Nga? Nếu nói theo cặp phạm trù duyên nợ thì Việt Nam và Mỹ có nhiều duyên nợ oan khiêng. Và có lẽ cũng chỉ có cặp duyên nợ này khi yêu mến nhau thì Việt Nam mới có thể đủ sức vóc giải quyết những vấn đề hóc búa cho tổ quốc và dân tộc. Mong rằng tình hữu nghị 2 nước sẽ bền vững với thời gian.

Đây là một tổng kết, một cách nhìn toàn cục để hiểu, thông cảm và chia sẻ những khó khăn chồng chất trong quan hệ ngoại giao và chiến lược quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn đã qua. Và chúng ta tin rằng, với một tư duy ngoại giao quên thù hận, đa phương Việt Nam và nhân dân Việt sẽ dễ thở hơn trong tương lai gần.

Asia Clinic, 15h35', Thứ Bảy, 31/7/2010

Thursday, July 29, 2010

CHU KỲ VĂN HÓA

Bài liên quan:
+ Văn hóa và sự phát triển
+ Văn hóa tranh luận trên cộng đồng
+ Giao lưu văn hóa và sự phát triển


Như đã viết trong bài tổng quát về văn hóa và sự phát triển, thế giới loài người chia ra làm 2 nền văn hóa đối nghịch nhau về tư duy và hành động, nhưng bổ khuyết cho nhau theo từng giai đoạn lịch sử phát triển. Nếu một đấng minh quân sẽ biết dùng luật lệ và mệnh lệnh hành chánh để điều phối xã hội mà mình đang cai trị để văn hóa cộng đồng đi đúng với nhu cầu sự phát triển của xã hội, thì xã hội sẽ tiến lên. 

Có những qui luật trên cõi đời mà bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng phải tuân theo. Ví du, trong khoa học tự nhiên có qui luật chuyển hóa năng lượng, thì trong khoa học xã hội có nhiều qui luật khác nhau chi phối vạn vật từ tư duy đến hành động, mà con người khó lòng cảm nhận ra, nếu không biết nghiên cứu và đúc kết. Ngoài 3 qui luật trong duy vật luận là: lượng - chất, mâu thuẫn của mâu thuẫn và thống nhất các mặt đối lập. Văn hóa học chịu chi phối một qui luật tuần hòan, mà có thể gọi là chu kỳ văn hóa của cộng đồng.

Thế giới rộng lớn bao la này của loài người, suy cho cùng chỉ có nước sinh sau đẻ muộn - nước Mỹ - là biết sử dụng cách hành xử văn hóa cho sự phát triển xã hội đúng mực theo chu kỳ của nó để đáp ứng với sự phát triển của xã hội tri thức. Hai đảng dân chủ và cộng hòa thay nhau nắm quyền là chủ yếu làm thay đổi văn hóa hành xử xã hội Mỹ cho hợp thời với nhu cầu đòi hỏi. Như trong bài viết của tôi về Bóng ma bảo hiểm y tế có đoạn sau:

Lướt qua một chút về chủ trương của hai đảng đối lập Mỹ trong chiến lược quốc gia và toàn cầu. Ở Mỹ, nói đúng hơn là 2 trường phái(đây là từ mà tôi sẽ dùng xuyên suốt bài viết) Cộng Hòa và Dân Chủ. Vì đảng ở Mỹ là niềm tin chứ không cần ai phải làm đơn xin vô, đóng đảng phí và họp hành chi bộ liên tu bất tận như các đảng thuộc của thế giới cánh tả. Chúng ta hãy tưởng tượng đảng ở Mỹ như đạo Phật. Ăn chay, ở chùa, tụng kinh, niệm Phật hay ở nhà ăn mặn, tu tâm, không đi chùa cũng là đạo Phật, miễn sao có niềm tin vào Phật tánh là theo đạo Phật. Các đảng của Mỹ cũng thế, có đi họp cũng được, không họp cũng được, miễn sao tin là được.
Ở Mỹ có 3 trường phái: Trường phái Dân Chủ còn được gọi là trường phái cấp tiến(liberal). Trường phái Cộng Hòa được gọi là trường phái bảo thủ(conservative). Trường phái thứ ba là trường phái độc lập(independent). Trường phái độc lập rất quan trọng, khi có sự cam go trong tranh cử, nếu ai kéo được trường phái độc lập về phía mình thì trường phái đó sẽ thắng.
Thế giới bên ngoài nhìn vào nước Mỹ cứ nghĩ rằng nước Mỹ là nơi tội phạm, ăn chơi, trác táng. Nhưng không phải thế. Nếu ai đã từng đi Mỹ, đã từng quan sát một cách thấu đáo thì sẽ thấy truyền hình Mỹ không bao giờ cho phép quảng cáo thuốc – dược phẩm, ngay cả quảng cáo bia cũng chỉ được phép cầm ly bia đưa qua, đưa lại mà không được uống. Thế mới thấy hết nước Mỹ rất còn bảo thủ, nhưng điều bảo thủ này là đúng, nó đã giúp nước Mỹ có một trật tự tốt của một xã hội cho dùng súng tự do.
Cái bảo thủ của Mỹ là tư duy bảo thủ của trường phái Cộng Hòa áp đặt từ các tư tưởng của các ông trùm tài phiệt. Ngay cả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008, giữa bà Hillary Clinton và ông Barack Obama trong cùng một trường phái Dân Chủ đến hồi gay cấn, thì trường phái Dân Chủ buộc phải mời bà Hillary để thương lượng rút lui. Vì họ biết lần này chắc chắn Dân Chủ sẽ lên ngôi, sau khi Cộng Hòa đã phá nát kinh tế Mỹ và toàn cầu làm mất lòng dân Mỹ và thế giới còn lại. Nhưng quan niệm Mỹ vẫn còn bảo thủ 2 điều quan trọng: Người Mỹ chưa quen với một nữ thủ lĩnh và người Mỹ luôn đổi mới, họ khó chấp nhận chồng đã là tổng thống thì vợ sẽ là tổng thống. Dù gia đình Clinton là gia đình kiệt xuất và vì nước Mỹ trong nữa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, khi họ luôn là đầu tàu kéo lê sự ù lỳ và tự mãn của các thế hệ Mỹ sau khi Mỹ là cường quốc số một thế giới. Trong khi đó, các châu lục khác việc một nữ thủ lĩnh là chuyện đã và đang có từ hơn nhiều thập niên qua. Điều bảo thù này là sai, nhưng sai trong một chừng mực cho phép.
Trường phái Dân Chủ, chủ trương một bộ sậu lãnh đạo tài năng xuất chúng. Nếu tổng kết tất cả 44 đời tổng thống Mỹ, trong đó có các đời tổng thống thuộc trường phái Dân Chủ thì xuất thân nghèo và tài năng đi lên. Họ có tư duy phóng khoáng trong các vấn đề về xã hội, ví dụ như cho phép phá thai, nhà nước phải tách ra khỏi tôn giáo, bình đẳng các chủng tộc, chăm lo giáo dục toàn dân, tăng tiền học bổng cho giáo dục, etc… Họ chủ trương đối nội bằng cách đưa kinh tế đi lên hùng mạnh qua việc tạo công ăn, việc làm cho người trung lưu và tầng lớp lao động. Nâng cao trợ cấp xã hội, dịch vụ y tế cho người già và người neo đơn. Giảm chi phí quốc phòng, tránh hao tốn tiền bạc vì sử dụng quốc phòng trong ngoại giao. Ngoại giao của trường phái Dân Chủ là chiến lược “bàn tay sắt bọc nhung”. Mọi vấn đề ngoại giao họ trao cho Liên hiệp quốc. Vũ lực chỉ là biện pháp cuối cùng khi đàm phán không có lối thoát. Nên hầu hết các tổng thống đi lên từ trường phái Dân Chủ rất có tài hùng biện. Các tổng thống Dân Chủ có thể uốn ba tấc lưỡi làm thay đổi một quan niệm của một cộng đồng. Tôi còn nhớ các sinh viên học viện an ninh Việt Nam đã từng vỗ tay liên tục khi ông Bill Clinton thăm Việt Nam năm 1994 và phát biểu tại hội trường Ba Đình, nhưng không cần giấy cầm tay. Ông còn lẩy Kiều trong dạ tiệc với các nguyên thủ Việt Nam mừng xóa cấm vận kinh tế của Mỹ áp đặt đới với Việt Nam.
Ngược lại, trường phái Cộng Hòa chủ trương một chính quyền có bộ sậu chỉ huy yếu. Mọi quyền hành dồn hết sự quyết định của từng tiểu bang. Chính quyền chỉ giữ quốc phòng, an ninh, tình báo phục vụ cho ngoại giao bằng vũ lực, nước Mỹ phải lãnh đạo Liên hiệp quốc. Tôn sùng tôn giáo, đại diện rõ nhất là các nhóm tài phiệt theo trường phái Cộng Hòa nắm giữ FED(Federal Reserve System) còn cho in câu: “In God, We trust” trên đồng Mỹ kim. Họ khắt khe hơn trong các việc cấm phá thai, cấm phim giải trí không lành mạnh, không chấp nhận người đồng tính luyến ái, v.v… Giáo dục thì nền tảng là mỗi gia đình, chính phủ không chi tiêu cho giáo dục. Họ ủng hộ người giàu trong việc giảm thuế để người giàu tạo công ăn việc làm cho xã hội.
Đó là cái nhìn chung cho 2 trường phái lớn thay nhau nắm quyền hầu hết các nhiệm kỳ tổng thống Mỹ. Thực ra, trong mỗi trường phái còn chia ra nhóm bảo thủ, trung dung và phái tả. Ví dụ như phái bảo thủ của Dân Chủ thì ngoại giao hơi giống Cộng Hòa. Nhóm trung dung của Dân Chủ thì rất uyển chuyển trong đối ngoại, nếu thương thuyết không thành sẳn sàng dùng vũ lực, đại diện như Bill Clinton. Nhóm tả khuynh của Dân Chủ thì chống chiến tranh, chống các công ty Mỹ mở chi nhánh ở nước ngoài, v.v…chỉ lo đối nội. Ngược lại bên Cộng Hòa cũng chia 3 nhóm: nhóm bảo thủ, nhóm hữu, nhóm cấp tiến. Đại diện nhóm bảo thủ của Cộng Hòa là hai cha con ông Bush. Đối ngoại bằng vũ lực để đập phá thế giới. Nhưng chung qui: Cộng Hòa đập phá thế giới, Dân Chủ xây dựng nước Mỹ bằng những hợp đồng và chiến lợi phẩm đập phá thế giới của Cộng Hòa. Cộng Hòa và Dân Chủ của Mỹ như cặp vợ chồng đồng sàng, đồng mộng, nhưng khác cách làm cho một mục tiêu nước Mỹ phú cường và số 1 thế giới.


Việt Nam chúng ta gần đây cũng vậy, cái chu kỳ hành xử văn hóa trong các kỳ đại hội đảng cũng bắt đầu hình thành và phát triển khoảng 15 năm trở lại đây. Đó là dấu hiệu thai nghén cho một thời kỳ mới tốt đẹp hơn. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là thời gian mà các chu kỳ văn hóa ấy kéo dài bao lâu, nhanh hay chậm đó còn phụ thuộc vào tiến trình của qui luật lượng - chất. Khi lượng đã đủ để chuyển thành chất để đủ phá vỡ cân bằng tĩnh, ù lỳ của sự vật hiện tượng thì một chu kỳ mới sẽ mở ra. Điểm lại 15 năm qua qua 3 kỳ đại hội chúng ta thấy có những biến chuyển về đấu tranh nội tại về mặt bản chất của tiến trình thay đổi văn hóa dân tộc như sau:

Kỳ đại hội lần thứ IX, với sự vùng vẫy để thoát ra chiếc áo chật mà kinh tế, xã hội, giáo dục, etc... không còn hợp thời đặc trưng scandal của ông thứ trưởng Mai Văn Dâu trong vụ chạy quota hàng dệt may là một kiểu con tằm muốn bung ra khỏi kén tơ. Nhưng, xong đại hội, mọi việc lại trở về vị trí cũ. Sang đại hội X, một lần nữa chu kỳ hành xử văn hóa tranh đua lại diễn ra với scandal PMU 18. Nhưng cả hai cuộc chuyển mình trên đều có tính nằm ở một phạm vi kinh tế. 

Đến kỳ này, chuẩn bị đại hội XI, diễn biến có tính lan rộng và ở nhiều phạm vi xã hội hơn: chính trị xã hội có ông chủ tịch Nguyễn Trường Tô, kinh tế có vụ Vinashinông Hoàng Kiều, giáo dục có những vụ lùm xùm đề thi đạo văn và các tiến sĩ, thạc sĩ mua bằng không chỉ trong nước như trước đây mà ở các trường đại học ảo ở trời Âu Mỹ, và chuyện đạo văn đề thi tuyển sinh đại học cao đẳng năm 2010. Qua đó sự chuyển mình văn hóa tư duy và hành động của xã hội Việt Nam đang diễn tiến theo đúng với 3 quy luật của duy vật luận. Xong vẫn có thể lượng chưa đủ tích để biến thành chất cho cuộc thai nghén một thời kỳ mới. Cuộc diễn biến của chu kỳ này vẫn còn chưa đến hồi kết thúc, sáu tháng nữa là một quãng thời gian rất ngắn, nhưng lại rất dài cho những cuộc đua. Vì có những cuộc đua chỉ xảy ra tính bằng giây như cuộc đua vua điền kinh chạy 100 mét.

Dù cuộc đua nào, và ai về đích không quan trọng. Quan trọng là người về đích có trách nhiệm với việc làm thay đổi hành xử văn hóa dân tộc để đưa đất nước tiến lên hay tụt hậu. Đất nước tôi có những chu kỳ văn hóa, mỗi chu kỳ ấy cứ 5 năm diễn lại.

Asiua Clinic, 14h38' ngày thứ Năm, 29/7/2010

Wednesday, July 28, 2010

VĂN HÓA TRANH LUẬN TRÊN CỘNG ĐỒNG

Bài liên quan:
+ Xới lại một vấn đề văn hóa
+ Văn hóa và sự phát triển
+ Chu kỳ văn hóa

Để tiếp nối chủ đề văn hóa tôi xin viết vấn đề văn hóa tranh luận trên cộng đồng. Một đề tài mà tôi đã trăn trở suốt hơn 10 năm qua. Hôm nay nhân cuộc tranh luận của cụ Nguyễn Phú Đạt với GS Nguyễn Văn Tuấn về việc đề thi tuyển sinh tiếng Anh vào đại học tháng 7/2010 có đạo văn được đăng trên báo Thanh Niên ngày 19/7/2010. Trong đó, cụ Đạt dùng văn hóa nông nghiệp lúa nước, làng xã, duy tình chụp cho cái mũ rất kêu, rất "có văn hóa" trong tranh luận trên cộng đồng. Để mọi người dễ theo dõi tôi xin tóm tắt cuộc tranh luận này như sau:

Ngày 13/7/2010, sau cuộc thi đại học, GS Nguyễn Văn Tuấn có một bài: Bộ giáo dục và đào tạo có đạo văn?. Trong đó tác giả phân tích các đoạn văn đạo từ những cuốn luyện thi Toefl từ năm 2006 đến năm 2009 và các đề thi lớp 11 của Trung quốc, đồng thời phân tích một số điểm thiếu sót về văn phạm theo hiểu biết của tác giả. Tờ báo trẻ trung nhanh nhảu lấy bài viết của GS Tuấn làm cái tít giật gân không kém vào ngày 19/7/2010: Nhiều lỗi trong đề thi đại học môn tiếng Anh, trong đó có kèm thêm lời bàn của TS Vũ Thị Phương Anh về cả 2 vấn đề đạo văn và văn phạm. Bộ giáo dục và đào tạo yên lặng, thừa thắng xông lên tờ Thanh Niên lao tới với bài: Về sai sót trong đề thi và đáp án trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ: Bộ giáo dục cần trả lời chính thức vào ngày 22/7/2010. Trong bài này lại có thêm một lời bàn của vị giáo sư khả kinh Phó chủ tịch tịch ủy ban giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, một giáo sư ngữ văn Việt cho là "rất đáng để chúng ta phải quan tâm". Cứ tưởng bở, GS Nguyễn Văn Tuấn lại thừa thắng xông lên với môt bài khác trên blog riêng của mình: Tại sao bộ giáo dục đào tạo đạo văn? Trong đó, tác giả đưa ý kiến một bức thư của một người có nick là Đ cho rằng 2 nguyên nhân là: nhận thức và năng lực. Do nhận thức việc copy của người ta ở Việt Nam là bình thường, và do năng lực của các giáo viên tiếng Anh ở Việt Nam là dưới trung bình, nên copy một đề thi của người nói tiếng Anh là an toàn. Mặc dù, quá trình ra đề thi của bộ giáo dục đào tạo là rất nghiêm ngặt và bí mật đến phút chót, khó lòng bị lộ.

Câu chuyện trên sẽ không có gì để nói, nếu hôm 26/7/2010 bộ giáo dục đào tạo không có bài:  Về đề thi  ĐH tiếng Anh: Bộ giáo dục đào tạo khẳng định "không có việc đạo văn" rồi hôm qua cụ Nguyễn Phú Đạt  lại tiếp với bài: Không hề có chuyện nhiều lỗi trong đề thi đại học môn tiếng Anh. Tranh luận, nhưng cụ lại có những lời lẽ trịch thượng kiểu gia trưởng vì ỷ mình lớn tuổi, và đem tình cảm yêu ghét vào trong bài báo đăng trên báo Nông nghiệp ngày hôm qua, 27/7/2010. Để rồi hôm qua GS Tuấn lại có bài Bộ GD-ĐT "khẳng định không có việc đạo văn"

Như tôi đã viết một bài có tính tổng quan về văn hóa và sự phát triển chỉ cách nay 2 hôm thôi. Văn hóa nền của dân mình là văn hóa nông nghiệp, khi tranh luận hay chủ về duy tình, đem xúc cảm vào cuộc tranh luận. Nên thường sa đà vào đả kích cá nhân hơn là phân tích sự việc. Điều ấy sẽ làm cho chúng ta có chỉ số đồng thuận (EQ: Emotional Quotient: chỉ số cảm xúc) rất kém so với các dân tộc khác có nền văn hóa du mục trên thế giới. Cuối cùng của sự kém về EQ này dẫn đến câu chuyện 3 người cùng đi, 1 người lọt xuống hố thì 2 người còn lại muốn kéo lên thì bị kéo luôn xuống hố.

GS Tuấn là người viết nhiều chủ đề, tôi trân trọng ông ở tấm lòng. Tuy vậy, tôi cũng đã từng tranh luận về Tiểu đường với ông hồi đầu tháng 5/2010. Nhưng trong tranh luận trên mặt báo truyền thông chính thống, chúng tôi không hề đem cảm giác yêu ghét cá nhân vào vấn đề tranh luận như cụ Nguyễn Phú Đạt.

Khổng Khâu có câu: "Lục thập nhi nhĩ thuận", tức 60 tuổi là lỗ tai của mình nghe điều phải cũng như điều quấy mà không còn đếm xỉa đến nó nữa, vì đời người trãi qua 60 năm sống đã mắt thấy tai nghe nhiều chuyện đổi trắng thay đen quá rồi. Trong Phật học, các thầy tu thường có câu đầu môi: thiện tai, thiện tai, theo hiểu biết của tôi nó có nghĩa là chí phải, chí phải. Nói đúng cũng phải, nói sai cũng phải ấy là phải vậy. Vì nó vậy, nó phải là vậy. Gà phải gáy và mèo phải ngao. Mèo không thể gáy và gà không thể ngao được phải không cụ?

Ấy thế mà nghe bảo cụ đã thượng thọ đến 80 nhưng cụ vẫn phải "trăn trở" với giáo dục nước nhà, điều mà hiếm thấy ngày nay. Nhưng nếu cụ trăn trở với cách nhìn theo văn hóa du mục, duy lý mà không duy tình thì hay biết mấy? Đã thế, cụ còn mang trong lòng quan niệm gia trưởng khi cụ xưng mình: "Chắc ông còn trẻ hơn tôi, ông chưa già mà sao ông nhanh quên thế?"  khi cụ tranh luận về học thuật. Trong tranh luận khoa học và học thuật không nên đem tuổi tác để áp đảo người tranh luận. Đó là nguyên tắc tối thiểu trong tranh luận mà cụ mắc phải, ngoài lỗi dùng lắm từ mỉa mai cay độc trên phương tiện truyền thông chính thức. Thiển nghĩ, với 700 tờ báo nhà nước, hầu hết những tin ở mục "đọc nhiều nhất" trên online hầu hết các tin cướp, giết, hiếp có tần suất cao là một sai lầm của truyền thông hiện nay. Nó sẽ có tác hại đến văn hóa đọc và dân trí Việt sẽ lùn đi vì những kiểu đưa tin thiếu trách nhiệm của báo. Nhưng cụ đã qua cái thất thập cổ lai hy rồi, thiết nghĩ cụ viết cho người đọc trung dung, khoa học và đúng với vốn sống của cụ hơn là như thế để dạy cho thế hệ mai hậu.

Về mặt ngôn ngữ, nó là một thành tố của văn hóa một cộng đồng của loài người. Đã là con người thì phải có tiếng nói, chữ viết, lao động và biết dùng lửa để nấu chín thức ăn. Đã là văn hóa thì không ai dám vỗ ngực xưng tên là mình hiểu hết, ngay cả là văn hóa của dân tộc mình. Vì thế mới có chuyện người Việt phải học môn Ngữ văn Việt, người Anh phải học môn Ngữ văn Anh, v.v... Cho nên theo tôi, câu chuyện đến giờ này đã rõ là hai năm, rõ mười. Không thể lấy Vietlish hay Chinalish để đi nói chuyện ở đây. Còn chuyện cụ bảo dân tộc Tày dùng tiếng Hoa là vì vay mượn tiếng Hoa là không đúng rồi cụ. Cụ có biết là dân tộc Tày là có nguồn gốc từ Trung quốc, và họ sử dụng tiếng Hoa là tiếng chính thống không? Họ ở xứ ta là vì họ di dân sang khác vùng địa lý thôi.

Chuyện tranh luận văn phạm tiếng Anh, ngữ nghĩa không phải là vấn đề phải xoáy vào để làm lạc đề cuộc tranh luận. Vì ngay từ đầu đề của GS Nguyễn Văn Tuấn là: "Bộ GD-ĐT có đạo văn? chứ không phải cái tít có tính giật gân của báo Thanh Niên là: "Nhiều lỗi trong đề thi đại học môn tiếng Anh". Đây cũng là một điều mà báo chí cần rút kinh nghiệm khi đặt tít đề bài để câu khách. Đó là văn hóa kiểu ăn xổi ở thì. Không nên chút nào.

Thêm nữa, bộ giáo dục cho rằng không có chuyện đạo văn như báo Thanh Niên đưa lời của ông Trần Văn Nghĩa - Phó cục trưởng cục khảo thí và kiểm định chất lượng của bộ GD-ĐT:

"Ban đề thi và các chuyên gia cho rằng trong đề thi, việc sử dụng một đoạn trích, một phát biểu nào đó để làm bài đọc hiểu, soạn ra các câu hỏi để đánh giá mức độ thí sinh hiểu nội dung của bài đọc là việc làm bình thường, không thể coi đây là “đạo văn”. Đề thi không phải một công trình khoa học, một luận văn hay một bài báo viết, bắt buộc phải dẫn nguồn nên việc không dẫn nguồn không thể coi là “đạo văn”".

Về mặt cộng đồng Việt nam đứng riêng một mình thì xã hội Việt là cái chung, mỗi cá thể là cái riêng phải đi theo luật lệ của cái chung của xã hội Việt Nam. Nhưng với toàn cầu, Việt Nam là một cá thể trong cộng đồng toàn cầu. Khi anh gia nhập toàn cầu, anh phải theo luật qui định của toàn cầu. Anh không thể đem luật riêng của mình để chơi với toàn cầu được. Cái anh cho là không đạo văn, nhưng cả thế giới cho là đạo văn thì anh có lỗi. Đó là điều chắc chắn, không thể phủ nhận theo kiểu cá nhân, địa phương để bao biện cho sai lầm và thiếu sót của mình. Làm như thế thì chúng ta sẽ giáo dục được ai? Nhất là trong hoàn cảnh giáo dục chúng ta đang đi rất chệch hướng như hiện nay?

Khác với kiểu tranh luận theo văn hóa nông nghiệp duy tình của ta, văn hóa tranh luận theo văn hóa du mục duy lý của người Tây là khi tranh luận một vấn đề duy lý là trên hết. Tuổi tác, cảm tính yêu ghét không đem vào. Nếu vấn đề quá lớn, họ sẽ chia nhỏ vấn đề thành từng vấn đề nhỏ để tranh luận và luôn luôn áp dụng 3 qui luật: lượng chất, mâu thuẫn và thống nhất các mặt đối lập để đi đến đồng thuận. Ở đây, tranh luận đã làm cho vấn đề đi xa hơn cái nguyên thủy và càng ngày càng khó đồng thuận hơn. Có nên chăng?

Vài lời về văn hóa tranh luận của người Việt và vấn đề đạo văn trong giáo dục, cũng như những sai sót của báo chí khi đặt tít bài báo chưa đúng với tinh thần của tác giả để thấy văn hóa tranh luận của chúng ta còn kém, cần thay đổi để hòng hướng cho thế hệ trẻ đi đến chỗ sáng sủa hơn chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại. Có gì sai sót xin mọi người đóng góp.

Asia Clinic, 10h40' ngày thứ Tư, 28/7/2010

Monday, July 26, 2010

VĂN HÓA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

Bài liên quan:
+ Văn hóa tranh luận trên cộng đồng
+ Giao lưu văn hóa và sự phát triển
+ Chu kỳ văn hóa

Hôm nay đổi đề tài để chúng ta cùng luận bàn với nhau văn hóa và sự phát triển của một dân tộc. Văn hóa là thói ăn, nết ở, là thuần phong mỹ tục, là suy nghĩ và hành động. Nó được hình thành và còn lại tinh túy của một cộng đồng dân cư sống trên một vùng địa lý, qua lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư ấy. Nó là cái mà ta học hoài, học mãi không hết. Thế giới loài người được phân chia làm hai loại nền văn hóa: văn hóa nông nghiệp và văn hóa du mục. 

Hai nền văn hóa này giống như một cặp phạm trù âm dương bổ khuyết cho nhau. Người ta xem văn hóa du mục như là dương: ưa thay đổi, thích sự năng động, luôn di chuyển theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Và nền văn hóa du mục là đầu tàu của sự phát triển khoa học kỹ thuật của loài người với những lý luận duy lý. Trong khi đó, nền văn hóa nông nghiệp là đại diện cho phần âm, thích sự ổn định, khó lòng thay đổi, để giữ sự vững bền., lý luận duy tình. Nó đại diện cho sự bảo thủ và chậm tiến.

Có nhiều nhà văn hóa học muốn phân chia các nước trên thế giới đang thuộc nền văn hóa nào giữa hai nền văn hóa trên. Ví dụ như Việt Nam ta thuộc nền văn hóa nông nghiệp, chuộng sự ù lỳ, bảo thủ, sợ sự đổi thay, bám vào sự ổn định gốc rạ mà sống. Còn như các nước Âu Mỹ thì thuộc nền văn hóa du mục. 

Song vấn đề đặt ra ở đây là hầu như không có một dân tộc nào đều có cộng đồng thuần túy du mục hay nông nghiệp. Chỉ có sự đa số có cách ứng xử theo một khuynh hướng văn hóa, chứ không có 100% dân tộc ấy đều sống theo một nền văn hóa thuần túy.

Một vấn đề đặt ra nữa là, như vậy cái gì làm cho cộng đồng dân tộc đa phần đi theo một nền văn hóa cụ thể để làm động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội hay kềm hãm sự phát triển xã hội? Các nhà nghiên cứu thấy rằng vai trò của chính trị là tiên quyết để hình thành nền văn hóa của một dân tộc. Vì chính các thành viên tiên phong của chính trị họ quyết định cách tư duy và hành động cho cộng đồng thông qua luật lệ, thông tin truyền thông đại chúng để phục vụ mục đích cai trị của mình.

Một nhà nước pháp trị thường song hành với nền văn hóa du mục và ngược lại một nhà nước nhân trị thường đi với nền văn hóa nông nghiệp.

May mắn cho dân tộc nào có đội ngũ tiên phong có tư duy đi theo văn hóa du mục. Và cũng xuôi rủi cho dân tộc nào có những nhà chính khách đang có tư duy ở nền văn hóa nông nghiệp. Nhưng điều này cũng không phải lúc nào cũng đúng. Vì bất kỳ sự thay đổi nào cũng đều có những cơn đau, vấn đề là làm sao cơn đau đó dài hay ngắn và có biết, muốn chữa nó lành bệnh hay không? Nếu muốn và thì sẽ biết chữa lành bệnh để phát triển sau đổi mới. Còn nếu biết mà không muốn chữa lành thì cơn đau mãi triền miên.

Cho nên sau sự thay da đổi thịt vấn đề còn lại là tư duy văn hóa du mục có còn tiếp tục hay dừng và quay đầu trở lại văn hóa nông nghiệp? Nhìn lại thế giới các nước châu Âu và các nước châu Á sau thời kỳ đổi mới  cho ta thấy có sự khác biệt. Qua đó, có thể thấy văn hóa là nền tảng cho sự phát triển. Không phải khoa học kỹ thuật hay sự thông minh của dân tộc ấy quyết định sự phát triển quốc gia, mà chính văn hóa là cái tiên quyết để quốc gia phát triển và trường tồn hay tụt lùi.

Asia Clinic, 18h56' ngày thứ Hai, 26/7/2010

Sunday, July 25, 2010

ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC: BÂY GIỜ MỚI VIẾT

Câu chuyện đường sắt cao tốc mà trong tháng 6/2010 là câu chuyện có tính lịch sử của Cuốc hội Việt Nam khi hoàn thành nhiệm vụ đã giao. Trong lúc mọi người đều hùa nhau bác bỏ, "phản biện" một cách cảm tính, trong đó không thiếu những người gọi là "trí thức" thời đại tự nước trong lẫn nước ngoài hùa nhau phản biện, thì chỉ có vài người, trong đó có cái thằng tôi luôn ủng hộ hết mình qua những entries có tính toán bằng con số thực tế rằng chi tiêu cho nó chỉ có lợi cho dân, và còn tốt hơn vạn lần những đại dự án khác. Hôm nay tôi thử làm chuyện Gúc Gù xem sao với key word: "Đường sắt cao tốc" thì chỉ trong vòng 0.12" có đến 9,05 triệu kết quả. Đây quả thật là một kỷ lục Cuốc tế về câu chuyện hài nước Việt qua mọi thời đại. Rất nhiều ý kiến đình đám phản biện cả những người "khả kính" nước trong và cả "trí thức" Việt nước ngoài, nhưng chưa ai có một bài tính thực hợp lý và cũng không ai biết là chính phủ hiện có bao nhiêu tiền, dự án khả thi hay không? Chỉ quan tâm tới nợ và làm ra không có lãi, nhưng không ai thấy rằng thì giờ là vàng bạc và giao thông vận tải là vấn đề cấp bách của Việt nam để đón chờ cơ hội của suy thoái kinh tế thế giới.

Làm ăn thì phải có nợ nần. Người biết làm ăn là người không bao giờ dùng vốn của mình để làm, mà phải biết dùng vốn nhàn rỗi của người khác để làm ra lợi nhuận. Ngày xưa còn nhớ Ông cố TTg làm đường dây 500KV Bắc Nam, không ít kẻ chê, người cười. Nhưng bây giờ chỉ cúp điện vì tập đoàn điện lực quốc gia tắc trách thì la ầm trời. Nếu không có đường dây 500KV thì lấy lý do gì tìm ra sự tắc trách của EVN vì chỉ chú tâm vào lợi nhuận mà quên đi tổn hại quốc gia? và sai lầm về lý luận cho một mô hình xã hội Việt Nam.

Nhưng chỉ trong cách đây 5 hôm thôi, cũng tại cuộc họp đánh giá kết quả kỳ họp thứ 7 vào tháng 6/2010, ông Nguyễn Xuân Phúc, bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng chính phủ nói: "Chuyện tạm dừng đường sắt cao tốc là để chính phủ chuẩn bị kỹ hơn, không có sự khác nhau trong quan điểm của chính phủ với Quốc hội như dư luận". Nếu ai là người biết tiếng Việt hiểu câu này của ông Phúc thì nghĩa là Đường sắt cao tốc sẽ làm, nhưng làm kỹ về dự án khả thi, thảo luận kỹ với đối tác, rồi sẽ trình kỳ tới hoặc tới nữa rồi thực thi. Điều này được khẳng định lại hôm nay khi có thông tin là Nhật Bản vẫn hối thúc Việt Nam thực hiện dự án đường sắt cao tốc.

Cũng đúng thôi, có gì là lạ, khi thành phần Cuốc hội ta hầu hết là thành phần được chính phủ cơ cấu, thì làm gì có chuyện Cuốc hội và Chính phủ khác nhau về quan điểm? Có một trang báo nổi tiếng thế giới giật cái tít rất không hiểu vấn đề: Đường sắt cao tốc chia rẻ Quốc hội. Rõ chết cười cho những trang báo một thời đình đám, nhưng gần đây xuống cấp đến tệ hại.

Chuyện nước Mỹ bầu bán Obama cũng chỉ là sắp xếp hậu trường chính trị nước Mỹ làm sao cho có lợi nhất đối với nước Mỹ hòng lấy lòng thế giới sau khi đảng Con voi làm thể diện nước Mỹ xuống cấp trầm trọng. Nó cũng giống như khi JF Kennedy và Bill Clinton lên ngôi trong quá khứ. Việt Nam cũng vậy thôi, Cuốc hội đã mất mặt với dân quá nhiều, nên phải có cái gọi là "veto" một nhát trước khi vào đại hội đảng lần thứ XI để lấy lòng dân chúng chứ? Rồi đâu cũng vào đấy cả thôi. Nhưng thông qua kỳ này có người nổi đình đám và được xem là anh hùng, có người xuống vực để chuẩn bị cơ cấu nhân sự mà thôi. Nó không khác gì sự thương lượng của đảng Con lừa làm việc giữa Hillary và Obama trước kỳ tổng tuyển cử nước Mỹ vừa qua, vì nước Mỹ đang cần chính sách tập trung cho đối nội, giảm thiểu chi phí quốc phòng, để vượt qua khủng hoảng.

Có lẽ dân Việt đang thiếu một tư duy độc lập, mà chỉ là một đám đông dễ bị lôi kéo, nên mới làm chuyện phản biện cảm tính về đường sắt cao tốc. Khi nào dân Việt có dân trí bớt lùn như hiện nay thì mới mong nước Việt phú cường.

Cuối cùng là ai nói gì thì nói, tôi vẫn ủng hộ và vẫn mong dự án này hoàn thành trước khi tôi phủi chân lên bàn thờ ngồi xem con gà cỡi truồng. Ai cá gì tôi cũng cá cượt liền là dự án này sẽ thực thi đúng như lịch trình đã định. 

Asia Clinic, 17h31', ngày Chúa nhật, 25/7/2010

Saturday, July 24, 2010

MỘT SỐ TỔNG KẾT VỀ TRÍ THỨC

Bài liên quan:
+ Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
+ Trí thức là gì?
+ Trí thức và kẻ sĩ
+ Vài dòng về trang web JIPV

Sau bài Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài của tôi về trí thức để hồi âm với tác giả Nguyễn Quốc Vọng, thì một loạt bài viết về trí thức ra đời, trong đó có bài khá đình đám của một GSTS, đồng thời là một chính khách viết một bài Bàn về trí thức đăng trên blog của Nguyễn Xuân Diện. Ngay sau đó một ngày, báo Tia Sáng lấy bài trên blog của tôi đăng lên trang online, và tự rút xuống sau chỉ 3 ngày tồn tại trên Tia Sáng sau khi tôi viết bài Trí thức là gì?, mà không một lời giải thích. Ba hôm sau, 23/7 bài của chính khách Nguyễn Minh Thuyết xuất hiện trên Tia Sáng với cái tựa: Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức.

một bàn luận về từ trí thức đã xuất hiện trong blog của tôi chưa chuẩn và theo nghĩa hiểu của chính khách. Ngay sau bài viết của chính khách thì cũng có một bài phản biện ngữ nghĩa của tác giả trẻ Đào Vĩnh Ninh với cái tựa: Bàn về trí thức cùng GS Nguyễn Minh Thuyết. Trong đó, tác giả Đào Vĩnh Ninh bằng lý luận sắc bén và bằng chứng học thuật toàn cầu đã bác bỏ định nghĩa của GS khả kính, một đại biểu quốc hội đương nhiệm mà ai cũng quí Ông qua những phản biện trước những kỳ họp quốc hội. Nội dung bài viết của tác giả trẻ này lại đưa định nghĩa trí thức đi đến chỗ đồng nghĩa với tôi. Và sau bài của tác giả trẻ họ Đào, chính khách khả kính đã có bài hồi đáp một bài Thưa cùng bạn đọc, để bày tỏ hiểu biết giới hạn của mình về từ trí thức.

Vấn đề trí thức là vấn đề rất lâu đời, ở châu Á kẻ sĩ thường được cho là trí thức. Nhưng ở châu Âu, mãi đến giữa thế kỷ XIX mới bắt đầu xuất hiện, dù trước đó không hiếm những nhà khoa học xả thân bảo vệ phát minh trước tòa án dị giáo do chế độ Tăng lữ quí tộc tạo ra, hòng bảo vệ thuyết tôn giáo của mình, để bảo vệ nhà cầm quyền do tôn giáo nắm giữ. Tuy vậy, nó luôn nóng bỏng và còn lắm quan niệm khác nhau theo từng quốc gia, do sự chính trị hóa ngôn ngữ của nền chính trị của các quốc gia ấy. Qua đó, cho chúng ta thấy rằng những quan niệm của khoa học xã hội luôn bị lệ thuộc vào chính trị, chỉ có phát minh của khoa học tự nhiên dần thoát ra khỏi đêm đen của tôn giáo và chính trị để đưa nhân loại đến với nền văn minh hiện đại.

Một bạn có đề nghị tôi viết chủ đề: Trách nhiệm của trí thức với vận mệnh Quốc gia. Tôi nghĩ điều này là quá thừa, vì qua loạt 3 bài viết của tôi trên blog và một làn sóng sau đó đã được dấy lên đến nỗi một chính khách khả kính cũng lên tiếng, thiết nghĩ, câu nói: "Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia" (Hiền tài quốc gia chi nguyên khí) do tiến sĩ Thân Nhân Trung soạn vào năm 1484 theo lệnh của vua Lê Thánh Tông, mà sau này nhiều người nhầm tưởng câu nói này là của vua (theo Bách Khoa Toàn thư, 2005). Câu nói ấy, đủ diễn tả hết trách nhiệm của trí thức mà không ai phải bàn cãi.

Nước hưng thịnh khi hiền tài góp sức nhiều. Nước suy vong khi hiền tài qui về ở ẩn, hoặc bị sát hại khi ấu trĩ với chính trị và hậu quả là như hình ảnh con đà điểu rúc đầu trong cát bỏng. Tại sao hưng thịnh, tại sao suy vong thì ai cũng hiểu. Tôi chỉ làm một tổng kết nhỏ để lưu lại những gì đã diễn ra trong một tuần qua của đề tài nóng bỏng này.

Asia Clinic, 10h38' ngày thứ Bảy, 24/7/2010

Friday, July 23, 2010

VÀI DÒNG VỀ TRANG WEB JIPV

Bài liên quan:
+ Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
+ Trí thức là gì?
+ Trí thức và kẻ sĩ
+ Một số tổng kết về trí thức

Thực lòng tôi không có gì ngạc nhiên khi trang web này công bố hầu hết tất cả những gương mặt khoa học đình đám đang là đầu tàu khoa bảng cho đất nước là hàng giả, hàng nhái. Nên tôi cũng không quan tâm lắm về chuyện phải viết về chuyện này như bao người khác. Chuyện giáo dục Việt Nam và con đường đi của nó đang lao dốc vào một vết xe đổ từ khi mà ngài phó tể tướng của những ngày đầu đổi mới bắt đầu cho công cuộc thiết kế ngành giáo dục quốc gia sai lầm chứ không phải hôm nay.

Nhưng đã hứa thì phải viết, nhưng hơi trễ so với lời hứa. Và vì hôm nay có một lời bàn luận trong blog của tôi, nên sẵn đây viết luôn để trả nợ. Nhưng có lẽ viết không thể đầy đủ như mong đợi, chỉ viết phát thảo một vài ưu và khuyết điểm của trang JIPV (Journal of Incompetent Professors in Vietnam: Tạp chí giáo sư dỏm Việt Nam).

Ưu điểm: phải công tâm mà nói trang web ra đời là một đáp ứng cho sự dấn thân của trí thức trẻ Việt Nam có tấm lòng với hiện tình giáo dục và khoa học của nước nhà. Tôi đã có một bài viết về tình hình giáo dục đại học Việt Nam đang đi theo vết xe đổ của người bạn láng giềng phương Bắc. Bài viết này là trăn trở của hơn 20 năm liền chứ không phải ngày một, ngày hai mà có được. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm nên hiện trạng giáo dục Việt Nam muốn đổi mới, nhưng không được chuẩn bị tâm thế và tư thế để vào cuộc. Khi đổi mới, nhà nước Việt Nam lúc ấy chỉ chú tâm đến kinh tế để cứu lấy sinh mạng chính trị mà không hề có một thế hệ đủ tâm thế và tư thế để nhập cuộc cho giáo dục và khoa học.

Tôi còn nhớ ngày ấy, Ông cố hiệu trưởng trường Y Dược TPHCM - GS BS Trương Công Trung, hậu duệ của nhà yêu nước Trương Công Định - đi họp về cải cách giáo dục và thành lập những cái gọi là National Universities về nói chuyện với chúng tôi rằng 20 năm sau giáo dục Việt Nam sẽ hỗn loạn và đổ dốc nghiêm trọng. Lời của người quá cố, một người mà chúng tôi, những ai có học ở trường Y Dược TPHCM đều xem ông là bậc thánh hiền, hôm nay đã thành sự thật. Ngày ấy chúng tôi chưa hiểu hết những gì Ông nói, đến hôm nay mới thấy Ông thật nặng lòng với giáo dục nước nhà như thế nào? Điều này dễ hiểu khi mà báo chí đưa tin một người con ly hương nặng lòng với giáo dục nước nhà ra đi - Giáo sư Bùi Trọng Liễu - là cánh chim đầu đàn góp công, góp của sáng lập ra trường đại học tư thục Thăng Long, một trong những đại học tư nhân đầu tiên của Việt nam ở đất kinh kỳ nghìn năm văn vật, nhưng người được trao trách nhiệm làm hiệu trưởng bây giờ - GS Hoàng Xuân Sính - đến ngày Ông mất không có một dòng tri ân về Ông. Thế thì làm sao giáo dục nước nhà có thể làm nên những thế hệ có nhân bản?

Tôi cho rằng trang JIPV đã có công không nhỏ trong việc ngài cựu thượng thư bộ Dục, kiêm phó tể tướng phụ trách Văn Thể Mỹ hiện thời đã thực lòng can đảm nói ra là thế hệ của Ông không được đào tạo bài bản. Đây là một công lớn của JIPV, mà tôi cảm nhận được.

Tôi thử tìm kiếm danh sách Hội đồng phong tặng giáo sư của nhà nước thì không thấy có trên trang web chính thức của họ, ngoài 5 tin hỏi đáp ngoài lề, 10 thông báo pháp lệnh và tấm hình động của các vị chức sắc! Nhưng tôi tìm trên trang JIPV thì có mặt đầy đủ bá quan văn võ này và lý lịch khoa học của họ không có gì với núi sông. Thế có bi hài không thì mới thấy hết trách nhiệm của cái hội đồng này!!!

Để tóm lại ưu điểm của trang JIPV tôi có thể nói ngắn gọn là nếu ai muốn tìm một nhân thân khoa học của các nhà khoa bảng đang cầm cân nảy mực cho khoa học và giáo dục nước nhà hiện nay thì nên vào nó.

Khuyết điểm: Có 2 khuyết điểm ở trang web JIPV dễ dàng thấy. Một do chủ quan và một do khách quan làm ra.

Khuyết điểm chủ quan là các bạn làm trang web này có đặt cảm tính yêu ghét khi đặt tên Việt cho nó. Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Tiến Huy đang ở Nhật là nên đổi tên Việt của nó cho lịch sự hơn. Dẫu biết rằng từ dỏm nó nói lên ý nghĩa của nội dung trang web, nhưng nó lại không đúng tầm học thuật của người đưa ý tưởng ra đời trang web. Trang web được thành lập do ai và vì ai tôi không rõ, nhưng hầu hết các thành viên đều nặc danh là một cái không chính danh và dễ đi vào chỗ chết iểu, vì thiếu trách nhiệm với chính nhóm và với cộng đồng khi có những phát biểu hồ đồ, vô trách nhiệm. Vì không ai đi nghe những kẻ ném đá giấu tay và không có lòng tự trọng bao giờ.

Khuyết điểm khách quan là bất kỳ nước nào cũng vậy, khi xóa bỏ sạch trơn nền giáo dục cũ tạo ra nền giáo dục mới một cách duy ý chí như Việt nam, nhưng không có tâm thế và tư thế chuẩn bị nhập cuộc thì đều có hàng loạt giáo sư tự phong nhau và tự o bế nhau để lợi dụng chính trị làm lợi cho bản thân mình. Vì tha hóa và tham nhũng là thuộc tính của con người và là bản năng của loài động vật, nếu nhìn về mặt triết học như một loạt bài viết của tôi trước đây. Trong đó vàng thực thì bỏ đi, vàng giả thì nhảy vào kiếm ăn. Đặc biệt với chế độ đãi ngộ cho những nhà khoa học của nhà nước ta thì còn có chuyện các nhà khoa học chân chính phải bán mình bằng cách đi "cầm cu cho chó đái" để kiếm tiền nuôi con! Theo hiểu biết của tôi, từ ngày đổi mới những người làm khoa học chân chính làm các luận án khoa học để bán kiếm sống là không hiếm. Trong khi các quan thì thừa tiền để mua danh, sau khi đã nhờ mánh lới để kiếm lợi. Chính khuyết điểm này làm cho trang web phủ định sạch trơn tất cả.

Nhưng có cái gì mà toàn vẹn tất cả? Những khuyết điểm nhỏ của JIPV không làm mất hết ưu điểm lớn của JIPV dù chỉ mới ra đời có 5 tháng tuổi. Tôi ủng hộ sự có mặt của JIPV và mong nó tiếp tục tồn tại trong sự nghiệp dấn thân của trí thức vì sự nghiệp trồng người và khoa học của nước nhà. Tôi có một góp ý thêm cho JIPV là, nếu các bạn có những bài viết cho từng cá nhân bị phê phán do những người viết có thời sống với người ấy thì sẽ có giá trị nhiều hơn.

Chúc JIPV ngày càng phát triển và hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của nó đúng với một trí thức. Cảm ơn sự có mặt của JIPV.

Asia Clinic, 17h08' ngày thứ Sáu, 23/7/2010

Thursday, July 22, 2010

TRƯỜNG CHUYÊN: DẠY LỆCH, HỌC NHỒI

Bài viết này tôi viết ngày 08/7/2010 với cái tựa: Tư duy giáo dục phổ thông. Tôi đã gửi đi 2 nơi, nhưng báo Pháp Luật TP đã có một biên tập quá tốt để nó được đăng. Cảm ơn các bạn.

Trường chuyên: Dạy lệch, học nhồi

Nhiều nhà khoa học băn khoăn việc phát triển trường chuyên không tạo kết quả tốt, không phát triển năng khiếu, làm thui chột tư duy sáng tạo và kỹ năng sống của học sinh.
Theo tôi nghĩ, giáo dục phổ thông là không nên áp đặt, mà là nơi cung cấp cho thế hệ trẻ kiến thức tổng quát, tư duy độc lập và những kỹ năng sống phù hợp với thời đại. Giáo dục phổ thông không cần phải nhồi nhét quá nhiều, quá nặng về kiến thức, sự nhồi nhét kiến thức ấy không làm trẻ tự tư duy sáng tạo mà chỉ là những vật thể sống chỉ biết sao chép.

Không áp đặt. Bất kỳ công dân đất nước nào trên thế giới đều được sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa đặc thù. Sự thấm đẫm tình yêu quê hương, dân tộc lớn dần theo năm tháng một cách tự nhiên. Giáo dục phổ thông cung cấp cho thế hệ trẻ kiến thức tổng quát về khoa học tự nhiên và xã hội, tự nó sẽ cho trẻ tầm nhìn, nhân sinh quan, thế giới quan và ý thức về tình yêu trách nhiệm với đất nước và dân tộc. Từ kiến thức tổng quát, nhân sinh quan và thế giới quan ấy, mỗi cá nhân sẽ tự quyết định con đường đi có tính sáng tạo trên mọi lĩnh vực.

Tư duy độc lập. Phát minh và sáng tạo phục vụ nhu cầu bản năng là thuộc tính của loài người. Để phát triển tính sáng tạo và hiệu quả của sự sáng tạo không gì khác hơn là đặt mục tiêu giáo dục phổ thông phải tạo được những thế hệ trẻ mang trong trí tuệ một tư duy độc lập.


Giáo dục phổ thông không cần phải nhồi nhét quá nhiều mà là nơi cung cấp cho thế hệ trẻ kiến thức tổng quát và tư duy độc lập. Ảnh: HTD
Mỗi cấp lớp trẻ có một nấc tư duy khác nhau. Trẻ tiểu học có tư duy chân thật, một bước, chỉ biết ghi nhận. Trẻ học cấp hai có tư duy hai bước, hay còn gọi là tư duy suy diễn. Sau khi ghi nhận trẻ bắt đầu suy luận đúng sai. Trẻ bắt đầu nhận biết đúng sai. Lên đến trung học, sau khi suy luận đúng sai một sự vật, hiện tượng, trẻ chuyển sang tư duy tới hạn, hay còn gọi là tư duy phản biện. Lúc đó trẻ bắt đầu đưa ra chính kiến để phản biện và hướng giải quyết một vấn đề. Nếu giáo dục phổ thông không trao cho trẻ một tư duy độc lập mà là áp đặt theo ý chí của người lớn, chúng ta sẽ tạo ra những thế hệ thui chột tư duy suy luận và tư duy phản biện để làm nên sáng tạo. 

Cung cấp kỹ năng sống. Trẻ ra đời chưa tiếp cận cuộc sống sinh động thông qua thiên nhiên và cuộc sống. Giáo dục phổ thông là cung cấp kiến thức vào đời. Là làm sao cho thế hệ trẻ biết làm việc tập thể, biết đồng thuận và biết nhìn bản chất của vấn đề một cách độc lập. Hay nói một cách cụ thể là giáo dục phổ thông tạo ra những thế hệ có chỉ số đồng thuận (còn gọi là chỉ số cảm xúc cao: EQ: Emotional Quotient) và chắt lọc ra những trẻ có chỉ số thông minh cao (Intelligence Quotient) để đưa vào những trường dành cho thần đồng.
Nếu chúng ta thực hiện đề án trường chuyên với hơn 2.300 tỉ đồng để thực hiện những mục tiêu nói trên thì vô tình chúng ta đã làm sai lệch tư duy giáo dục phổ thông chuyên. Hậu quả của việc này sẽ rất nghiêm trọng khi chúng ta sẽ có những thế hệ bị thui chột tư duy độc lập, thiếu khả năng phản biện và khủng hoảng con người cho tương lai đất nước là không tránh khỏi.
Những con số của Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010-2020 tiêu tốn khoảng 2.300 tỉ đồng để đến năm 2015, 50% học sinh THPT chuyên đạt học lực giỏi, 70% đạt giỏi về khả năng tin học và 30% đạt khả năng bậc ba về trình độ ngoại ngữ… Không có gì không thể thực hiện được nếu mọi quyết tâm là chính đáng từ xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân các học sinh. Nhưng vấn đề đặt ra cho giáo dục phổ thông Việt Nam không phải là những con số muốn đạt được mà là tư duy giáo dục phổ thông như thế nào và sẽ đưa các thế hệ đi về đâu. Hệ quả giáo dục sẽ có tác động gì đến đất nước và con người Việt Nam trong tương lai. Đó là tất cả những vấn đề lớn mà bất kỳ ai cũng trăn trở.
Ở các nước tiên tiến, đặc biệt Mỹ có ba chương trình đào tạo trong hầu hết các trường phổ thông. Ba chương trình đó là: chương trình thông thường (regular program), AP (Advanced Placement), hay IB (International Baccalaureate: Tú tài quốc tế). Nhưng chung nhất vẫn là cung cấp kiến thức tổng quát, tư duy độc lập và kỹ năng sống bằng những hoạt động có tính cộng đồng.
Chương trình IB nhận những trẻ có thiên hướng xuất sắc về xã hội học, có chỉ số EQ (Emotional Quotient) cao sẽ được hướng dẫn đến học những chuyên ngành đào tạo ra những lãnh đạo tương lai.
Chương trình AP đào tạo trẻ có thiên bẩm về khoa học tự nhiên có chỉ số IQ cao được hướng dẫn vào những trường đào tạo chuyên ngành khoa học tự nhiên để sau này trở thành khoa học gia xuất chúng. Chương trình này trẻ được đào tạo chương trình khoa học tự nhiên của bậc đại học ngay khi còn là học sinh phổ thông.
Sự tiếp nhận học sinh vào các trường là như nhau, chỉ khác nhau là trong quá trình học tùy theo thiên hướng của trẻ, các cố vấn học tập và tâm lý sẽ phát hiện ra năng khiếu và thiên hướng của trẻ để hướng dẫn cho gia đình và trẻ cho trẻ học chương trình AP hay IB cho phù hợp.
Các cố vấn phải quan sát, tìm hiểu thiên bẩm của trẻ khi còn là học sinh tiểu học.
HỒ HẢI
Tư gia, 01h26', ngày thứ tư, 22/7/2010 - Đăng trên báo PLTP

Wednesday, July 21, 2010

TRÍ THỨC VÀ KẺ SĨ

Bài liên quan:
+ Trí thức là gì?
+ Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
+ Một số tổng kết về trí thức
+ Vài dòng về trang web JIPV

Nhân loạt bài nói về trí thức, và do xã hội ngày càng phát triển, nhiều sự kiện chính trị, xã hội làm cho xã hội không chỉ phân hóa giàu nghèo, mà còn phân hóa cả văn hóa giáo tiếp, lối sống và ý thức của công dân trong những sự vật hiện tượng. Nên các thành phần nhân sĩ, trí thức cũng phân hóa theo. Điều ấy cho thấy cần phải phân loại các loại trí thức và xác định lại thế nào là kẻ sĩ, để nhằm không nhầm lẫn hay ai đó tự khóac cho mình chiếc áo trí thức để làm hại cộng đồng. Bài này, có thể tôi phân loại còn chưa đủ hay chưa thấu đáo thì mọi người góp ý cho hoàn thiện.

Trí thức: Bài viết hôm qua: Trí thức là gì? có lẽ đã nói đủ ý để là một trí thức và cũng có vài bàn luận bổ ích, và cũng không cần bàn luận nữa. Ai chưa đọc thì vào link tôi đã chèn để đọc.

Trí lim dim: là loại trí thức có tầm hiểu biết không thua trí thức, nhưng vì chén cơm manh áo họ phải nửa mê, nửa tỉnh. Còn mê hay tỉnh lúc nào thì họ đủ sáng suốt để biết mà hành động cho hợp thời vụ kiếm ăn. Nhưng với đời họ vẫn tự vỗ ngực xưng danh mình là trí thức. Họ không thỏa hiệp với tha hóa, và cái  ác nhưng họ không đủ sức chống cái ác, nên đành chấp nhận sống chung với tha hóa và cái ác.

Trí ngủ: là loại trí thức cũng có tầm hiểu biết không thua trí thức, nhưng cũng vì chén cơm manh áo mà họ ngủ từ mùa xuân sang đến đông và cứ thế triền miên ngủ. Nên đem ra so sánh với một loại trí mà tôi sẽ phân loại sau đây thì về mặt bản chất họ không kém cạnh gì, chỉ có khác là về mặt hiện tượng biểu ra bên ngoài khác nhau. Trí ngủ không tự thân làm ác, nhưng đồng lõa với cái ác để tạo ra bất cập.

Trí cơ hội: là loại trí thức cũng có tầm hiểu biết không thua kém trí thức,  đặc biệt kiến thức đời,.nhưng thay vì họ dùng kiến thức để sống bằng sức mình, thì họ lại dùng nó để kiếm tìm cơ hội cho riêng bản thân và gia đình hơn là vẹn toàn cho cái chung và cái riêng cho xã hội. Khác về mặt biểu hiện bên ngoài của loại trí cơ hội với trí ngủ là trí cơ hội sẵn sàng làm ác để đạt được điều họ mong muốn.

Trí giả: là loại không có kiến thức, nhưng vì mưu cầu bản năng của động vật, nên họ sẽ làm tất cả để đạt được. Loại trí này là loại nguy hiểm nhất và là đồng bạn với trí cơ hội và trí ngủ. Cùng với đồng bạn của nó làm nên những bất cập của xã hội.

Trí ngủ, trí cơ hội và trí giả khác với trí thức và trí lim dim là chúng làm ra tha hóa, cái ác và đồng lõa với cái ác vì mưu cầu bản năng ở các mức độ khác nhau.

Bốn loại trí sau khác với trí thức là họ không phải là kẻ sĩ. Kẻ sĩ có đặc thù là dấn thân, trong khi từ trí lim dim đến trí giả không đủ đức độ để dấn thân. Một bài viết về kẻ sĩ cách nay 2 năm của một người mà tôi cho là kẻ sĩ, chính những bài viết của ông mà tôi yêu mến Tia Sáng chứ không phải những bài viết của ai khác.

Tôi lại nghĩ: Thế thì ngày nay trí thức thực sự ở miền đất nghìn năm văn vật có còn không? Hay nói cách khác: có còn nhân sĩ Bắc Hà không? Tôi cho là không còn nữa. Vì tính lịch sử và văn hóa dân tộc, những kẻ sĩ Bắc Hà đã rời vùng đất cũ theo quá trình mở cõi của dân tộc, hòng tránh những lề thói xưa cũ và lạc hậu, chỉ còn những kẻ bất tài chịu làm trí lim dim đến trí giả ở lại chịu cảnh sống chung với cái ác, cái lạc hậu và xưa cũ không còn hợp thời. Có chăng, kẻ sĩ Bắc Hà chỉ còn sót lại ở miền đất mới.

Một vấn đề đặt ra ở đây là có nên dùng từ Kẻ sĩ Bắc Hà nữa hay không? Hay là nên thay nó bằng một khái niệm khác? Một câu hỏi khiến tôi phải suy nghĩ nhiều trong loạt bài viết về trí thức Việt lần này. Tất cả đây chỉ là quan niệm và suy nghĩ có tính cá nhân trên tình huống thời đại đặt ra, có thể đúng, có thể chưa đúng, nhưng thiết nghĩ nó cần bàn luận thấu đáo.

Asia Clinic, 16h51' ngày thứ tư, 21/7/2010

Tuesday, July 20, 2010

TRÍ THỨC LÀ GÌ?

Bài liên quan:
+ Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
+ Trí thức và kẻ sĩ
+ Một số tổng kết về trí thức
+ Vài dòng về trang web JIPV

Trong tuần qua tôi có viết bài Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, có nhiều bạn bàn luận rất rôm rả và nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó nhiều ý kiến có tính lạc đề tài tôi muốn nói. Nên thấy đề tài này cần thiết phải viết. Có nhiều định nghĩa trí thức là gì? Có những quan niệm khác nhau, và cũng có nhiều tác giả trong nước viết về nó chỉ cần search key word: "Trí thức là gì" và "intellectual" hay "intelligentsia" là có hàng đống bài viết để đọc. Ở đây tôi xin phân tích về mặt ngữ nghĩa của từ trí thức và đặc tính của từ này để có thể đi đến một sự thống nhất thế nào là trí thức đúng nghĩa, thế nào là trí thức giả danh và cơ hội? Ngoài ra không có ý gì khác trong bài viết này.

Quan niệm trí thức là gì? Theo tôi, ngữ nghĩa chữ trí thức tiếng Việt nghĩa đen có nghĩa là người hay tầng lớp có trí luôn luôn thức chứ không lim dim hay ngủ. Một người có trí mà trí đó luôn thức tỉnh thì luôn sáng suốt và nhìn vấn đề phải có lý và có tình đúng chỗ, đúng lúc và đúng sự kiện hoàn cảnh mà sự vật hiện tượng nào đó diễn ra. Không được quá duy lý sẽ dẫn đến khô khan, thiếu nhân bản, và cũng không được đem cảm tính cá nhân đến quá duy tình dẫn đến chủ quan trong phán xét một sự vật và hiện tượng trong đời sống xã hội trên mọi mặt. Hay nói cách khác, nếu nhìn sự vật hiện tượng quá duy vật thì thiếu nhân bản, và nếu nhìn sự vật hiện tượng quá duy tình thì sẽ mất tính khách quan.

Trí thức khác với tri thức. Trong khi trí thức là kiến thức hàn lâm do trường lớp dạy thì tri thức là kiến thức do đời dạy mà nên. Nhưng khi đã là một trí thức thì phải biến cái được học một cách hàn lâm thành cái mình tri - biết, hiểu - được để tri thức đó được áp dụng cho đời. Nên đã là một trí thức thì phải vẹn tròn cả hai tri và trí trong mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội.

Để đạt được những điều trên, người trí thức luôn nhìn sự vật hiện tượng trên quan điểm triết học và duy lý hay duy tình trên phương diện cái chung, cái riêng, nhưng không quá đặt nặng cái nào vào tư duy và hành động của mình. Như vậy, đã gọi là trí thức thì phải hiểu, biết và lý luận mỗi sự vật hiện tượng trong xã hội đúng với nó và hành xử nó với một kiến thức vững chắc dẫn dường mà không lầm lạc hay mơ hồ được.

Từ đó, một vài đặc điểm của trí thức được đặt ra mà ta cần thấy chúng là đặc trưng cho một trí thức. Những đặc điểm đặc thù đó là gì? Theo tôi, có 2 điểm đặc thù mà người trí thức cần phải có. Hai đặc điểm này nó như điều kiện cần và đủ để làm nên một trí thức cho mọi thời đại.

Đặc điểm của trí thức:
Dấn thân, đã nói là trí thức thì phải nói đến dấn thân, vì trí thức vừa được trang bị kiến thức đời và kiến thức hàn lâm để có lý luận dẫn đường cho xã hội, nên trí thức phải gắn liền với dấn thân. Có kiến thức mà không có dấn thân thì không thể gọi là trí thức. Dù cho ai cho rằng tầng lớp trí thức là gì đi nữa, thì nhiệm vụ hàng đầu và là đặc điểm đặc thù của tầng lớp này khác với tầng lớp khác là dấn thân. Nếu trí thức không dấn thân để cải tạo cuộc sống thì ai làm?

Trí thức mà không dẫn đường cho xã hội và cộng đồng thì ai làm nhiệm vụ này? Không lẽ lấy một anh công nhân hay một bác nông dân là trí tuệ dẫn dường và cải tạo xã hội? Nên một xã hội mạnh là một xã hội có nhiều trí thức biết dấn thân, để cải tạo nó qua tư duy và hành động có khoa học dẫn đường. Nhưng phải là người dẫn đường sáng suốt, không cảm tính.

Ai đó tự cho mình là trí thức mà không biết dấn thân vì cái chung cho xã hội, cái riêng cho gia đình mình một cách trọn vẹn thì đó không phải là trí thức. Trong cách dấn thân luôn đặt sự cân bằng giữa chung và riêng, giữa gia đình, bản thân và cộng đồng, giữa sự sống còn của cộng đồng và sống còn cũa bản thân phải thật cân bằng.

Anh không thể chỉ biết hy sinh mình trong cuộc dấn thân vì cộng đồng mà quên bản thân, gia đình được. Vì như thế là cực đoan, là dấn thân lệch lạc và duy ý chí. Cũng như vậy, nếu anh dấn thân chỉ vì bản thân và gia đình mà không vì cộng đồng thì dấn thân đó cũng cực đoan và lệch lạc. Tất cả hai kiểu dấn thân này đều dẫn đến một kết quả tồi. Điều này ngày nay không hiếm thấy trong xã hội ta và trên toàn cầu, con người đã vì lợi ích riêng tư làm ra những bất cập cho xã hội, và những anh hùng rơm sa ngã vì chỉ hiểu sự vật hiện tượng mình hành động theo nghĩa vong thân.

Cho nên đã là trí thức thì phải biết dấn thân, dấn thân mà không vong thân, có nghĩ là lao vào hoạt động hay công việc nào đó bất chấp gian nan, nguy hiểm, nhưng không được quên mình thì mới gọi là trí thức. Quên mình một cách mù quáng không thể gọi là trí thức' mà đó gọi là cực đoan vì một ảo tưởng nào đó được cá nhân cho là lý tưởng một cách duy ý chí, thiếu lý luận và suy xét.

Hành Đạo, đã là trí thức như tôi nói ở trên thì không còn học nữa mà chỉ có hành. Người đi tu là đang đi học Đạo. Đạo đúng nghĩa nó là con đường. Người có học và có hiểu biết thì con đường đi vạch ra cho riêng mình phải là con đường đúng, chánh đạo. Đã là một trí thức thì phải biết tạo ra con đường không chỉ có cho mình, mà cho cả với cộng đồng một cách chân chính, để có tác dụng với cả hai chung và riêng đến một cái đích tốt đẹp hơn.

Để làm được điều đó người trí thức phải thực hành, thực hành kiến thức mình có để làm gương cho gia đình riêng và cho xã hội chung. Nói cho cô đọng đó là phải hành Đạo. Một khi đã dấn thân thì sự dấn thân đó phải cho một lý tưởng tốt đẹp dù khó khắn, nguy hiểm, nhưng không quên mình thì lý tưởng đó mới được phổ biến và hiện thực.

Nếu hiểu theo nghĩa thời Phong kiến, Vua là thiên tử thay trời trị dân, thì trí thức là đấng bầy tôi thay trời hành Đạo. Hành Đạo để chỉ ra cái sai quấy, cái xằng bậy của vua và hành Đạo để đem hiểu biết của mình đến với cộng đồng còn tăm tối về mặt hiểu biết. Người trí thức phải biết nói với hôn quân. Người trí thức không cần cho một minh quân. Vì nói cho một hôn quân bao giờ cũng khó hơn nói với minh quân. Nói với minh quân thì minh quân luôn biết điều hay lẽ phải, biết điều xằng bậy mà cảm thông. Còn đối với hôn quân thì khó biết điều hay lẽ phải, khó nhận điều xằng bậy, sai quấy do mình làm ra, và nói với hôn quân để hôn quân nghe là rất khó. Nên đã là trí thức thì phải biết nói và hành động làm sao để hôn quân nghe mới là trí thức đúng nghĩa. Đã thế người trí thức phải làm thêm nhiệm vụ dẫn đường sự hiểu biết cái đúng, cái sai cho cộng đồng qua nhiệm vụ hành đạo của mình.

Ngoài hai tính đặc thù trên, dĩ nhiên có học thức và các chỉ số EQ, IQ, AQ, etc... người trí thức bắt buộc phải có để có khả năng lĩnh hội kiến thức và mang kiến thức ấy vào cuộc sống phục vụ cho cái riêng và cái chung của bản thân và cộng đồng mà tôi không nói đến trong bài viết này.

Tóm lại, làm trí thức thật là khó. Khó vì để có đủ kiến thức hàn lâm và kiến thức đời không hề dễ. Sau khi có kiến thức rồi phải biết đem kiến thức đó đến cho tầng lớp lãnh đạo và tầng lớp thứ dân một cách sáng suốt trong công cuộc dấn thân và hành Đạo theo nghĩa chánh Đạo, sao cho vẹn toàn cả hai cái chung và cái riêng, không một sai lệch, suy suyển và lầm lạc. Đó mới là trí thức thực sự. Mọi người nghĩ sao? Xin mời bàn luận và bổ sung những gì còn thiếu trong bài viết này. Một tuần mới tốt đẹp.

Asia Clinic, thứ Ba, 12h10', ngày 20/7/2010

Update: Không biết vì sao, nhưng trang Tia Sáng online đã rút bài viết: "Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài" của tôi xuống rồi. Xác định mất hoàn toàn lúc 16h54 phút chiều ngày 20/7/2010, không một lời giải thíc với tác giả, nhưng nó vẫn còn lưu trong báo mới dot com.


Thursday, July 15, 2010

TÂM TÌNH VỚI CÁC TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

Bài liên quan:
+ Trí thức là gì?
+ Trí thức và kẻ sĩ
+ Một số tổng kết về trí thức
+ Vài dòng về trang web JIPV

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề còn đau nhức này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh - lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ, etc họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh - lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ. 

Như vậy thì, có nên tiên trách kỷ, hậu trách nhân không? Một câu hỏi mà mỗi công dân Việt ở nước ngoài cần suy nghĩ.

Dấn thân và Vong thân:dấn thân mới có vong thân và ngược lại, nếu không có vong thân là biết từ bỏ bản ngã, cái tôi của chính mình hay nói cách khác là từ bỏ mình thì làm sao có dấn thân? Cho nên khi đã có ý nghĩ là sẽ về trả nợ núi sông thì buộc lòng cần suy nghĩ đến cặp phạm trù dấn thân và vong thân. Dĩ nhiên, không ai lại từ bỏ tất cả chính mình để vong thân vì một việc không đi với cặp danh - lợi. Cho nên khi đã nghĩ đến trở về thì phải cần một chút, một phần ba, một nữa, hay nhiều hơn nữa là hai phần ba cho việc dấn thân và vong thân. Ta không thể chỉ nghĩ cho cái riêng mình mà quên cái chung trong cuộc quay về. Vì tất cả những người con Việt hay những doanh nhân, trí thức đang sống và đang làm việc với tổ quốc này họ sống được thì tại sao mình không sống được, một khi mình đã xác định các cặp phạm trù: danh lợi, chung riêng và dấn thân vong thân?

Chung và Riêng: Như đã nói ở phần dấn thân và vong thân, khi đã quyết định làm gì chúng ta không thể tách riêng mình một chỗ được. Theo định nghĩa về tâm thần học thì người bình thường là người biết hòa hợp với cộng đồng về cả tư duy và hành động. Ai đi ra khỏi cộng đồng thì người ấy bất thường. Cộng đồng là cái chung, bản thân ta là cái riêng. Cái chung không có khi không có cái riêng cấu thành, và cái riêng phải theo qui luật của cái chung mà tồn tại và phát triển. Ta không đòi hỏi cái chung phải theo cái riêng, nhưng ta có thể cải tạo cái chung đang lỗi thời, lạc hậu trở thành phù hợp và hiện đại, tại sao không? Liệu ta có thể chỉ nói và trách thì cái chung đang tồn tại những bản ngã lạc hậu có thay đổi được gì, hay ta phải xắn tay áo tham gia vào dòng chảy của chung riêng để cải tạo nó là tốt hơn? Thiết nghĩ điều này đã quá rõ ràng, không cần phải nói nhiều.

Đạo và Đời: Tôi cho rằng không đi tu không có nghĩa là không tu. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn há chẳng phải là tu đó sao? Đi tu là làm việc truyền lửa, còn không đi tu, nhưng vẫn giữ được khí tiết trong sạch thì cũng làm làm việc dưỡng đạo, có khác gì nhau? Khác nhau là khác ở chỗ người thì đang học đạo, và người đang hành đạo. Nhưng có một vấn đề ở đây cần làm sáng tỏ là, người đi tu là đang đi học và tìm kiếm danh, dù danh đó người đi tu không màng đến. Còn người vẫn sống với đời thì đang tìm kiếm cả hai, nhưng kiếm làm sao giữ được Đạo - con đường đi kiếm tìm danh và lợi - thật thanh cao. Ấy mới thực là hành đạo vậy.

Thế thì, khi đã nghĩ đến trở về, thì nên nghĩ ta đang làm việc của Đạo hay Đời, Danh hay Lợi, Chung hay Riêng và Dấn thân để được Vong thân hay không cần dấn thân và vong thân. Đó là việc mà mỗi người Việt ở nước ngoài cần suy nghĩ. 

Có thể một số bạn bên ngành triết cho rằng có một số cặp phạm trù tôi nghĩ ra không phải là phạm trù, nhưng với tôi, nước lửa, đàn ông đàn bà, ngày đêm, sáng tối, etc... những cặp nhị nguyên này là những cặp phạm trù mà tôi luôn tâm niệm và suy nghĩ về nó cho tất cả mọi sự vật hiện tượng tồn tại quanh tôi. Xin mượn câu nói nổi tiếng của cố Tổng thống John Fitzgerald Kennedy để kết tâm tình này: "Đừng bảo tổ quốc phải làm gì cho ta, mà phải tự hỏi rằng ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay?"

Hy vọng tâm tình này có ích cho các bạn.

Asia Clinic, 11h49', thứ năm, ngày 15/7/2010

Update: Bài đã được đăng trên Tia Sáng. 12h24' ngày 16/7/2010. Nhưng đến 16h54' Tia Sáng rút bài xuống không có lý do nào giải thích với tôi. Nhưng nó vẫn còn lưu trong báo mới dot com.

Wednesday, July 14, 2010

LẠI CHUYỆN ĐIỀU TRỊ HIV

Tháng 7 này các nhà khoa học của Trung Tâm Nghiên Cứu Vaccine (Vaccine Reaseach Center: VRC) thuộc Viện những bệnh Dị ứng và nhiễm trùng Quốc gia Mỹ (National Institute of Allery and infectious Diseases: NIAID) của những Viện sức khỏe quốc gia Mỹ, đã tìm ra 2 loại kháng thể có hiệu năng chống lại hơn 90% những dòng HIV gây bệnh thế kỷ cho người đã được biết. Tên của 2 loại kháng thể này được đặt từ chữ viết tắt của Trung tâm nghiên cứu Vaccine (VRC) và đặt theo số thứ tự 01 và 02: VRC01 và VRC02.

Ông bác sĩ Anthony S. Fauci, giám đốc Viện những bệnh dị ứng và nhiễm trùng quốc gia Mỹ phát biểu rằng: "Sự khám phá ra những kháng thể có khả năng trung hòa HIV đặc biệt nàyvà sự phân tích cấu trúc của chúng đã kích thích lòng hăng say chúng tôi cố gắng đi tìm một vaccine ngăn ngừa HIV cho toàn cầu. Hơn thế nữa, các đội ngũ đã tìm ra kháng thể nhảy vào một chiến lược mới lạ có thể thiết kế làm ra những vaccine điều trị cho nhiều bệnh nhiễm trùng khác" ("The discovery of these exceptionally broadly neutralizing antibodies to HIV and the structural analysis that explains how they work are exciting advances that will accelerate our efforts to find a preventive HIV vaccine for global use" says Anthony S. Fauci, MD., diractor of the National Institute of Allery and Infectious Diseaes (NIAID), National Institutes of Health. "In addition, the technique the teams used to find the new antibodies represents a novel strategy that could be applied to vaccine design for many other infectious disease.")

 Thế giới Tây y cách nay khoảng nửa thế kỷ khi bế tắc trong mọi lý giải bệnh tật đã đi vào hướng Miễn Dịch học (Immunology). Từ Miễn dịch học đã đẻ ra vấn đề điều chế vaccine phòng ngừa những bệnh tật thông thường. Từ đó, thị trường vaccine là thị trường kiếm lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn đa quốc gia dược phẩm. Không ai còn lạ gì những cú scandal về vaccine cúm trong thập kỷ này, thông qua những thông báo đại dịch.

Câu chuyện vaccine để phòng ngừa HIV đã bị thất bại, khi năm 2008 Dr. Sudhir Paul và cộng sự đã tìm ra một Abzim có thể tiêu diệt con HIV. Và theo hiểu biết của tôi đây có thể là một trong những ứng cử viên cho Nobel y học trong vòng 1-2 thập kỷ tới. Nên chuyện vaccine tạo ra kháng thể chống HIV là chuyện có thể, nhưng không thể là từ kháng thể tìm thấy trong máu người nhiễm HIV mà phải từ kháng nguyên dối trá của con HIV của Dr Sudhir Paul mới là duy vật luận trong khoa học có tính logic hơn.

Dù sao thì đây cũng là một thông tin khoa học đáng để lưu ý trong cái ánh sáng cuối đường hầm, trên quá trình chống chọi với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Mời bà con nghe cuộc thảo luận trên Youtube của the News HUB.



Asia Clinic, 11h27', thứ tư, ngày 14/7/2010