Monday, February 28, 2011

LIỆU CÓ CHIẾN TRANH LẠNH LẦN II ĐANG DIỄN RA?


Bài viết của bà Yuriko Koike, cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Nhật Bản, Cố vấn An ninh Quốc gia, hiện là Chủ tịch Hội đồng điều hành Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản.

TOKYO – Chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đến Washington diễn ra vào thời điểm mà quan hệ Mỹ Trung đang ngày càng căng thẳng. Thật vậy, bị thôi miên bởi sự đầu tư quân sự vô bờ của Trung Quốc, một chòm sao mới của quan hệ đối tác chiến lược giữa các nước láng giềng, và sự cam kết hồi sinh của Mỹ đối với an ninh châu Á, nhiều nhà quan sát sắc sảo cho rằng năm 2010 đã loé tia lửa đầu tiên của một cuộc chiến tranh lạnh mới ở châu Á. Nhưng là "chiến tranh lạnh II" thực sự không thể tránh khỏi?

Mặc dù sự xoa dịu của Trung Quốc cho hành động bá chủ của mình ở châu Á là không thể tưởng tượng được, mọi nỗ lực thực tế phải được thực hiện để tránh quân sự hoá ngoại giao trong khu vực. Cuối cùng, không có gì lạnh bằng cuộc chiến tranh lạnh ở châu Á. Đầu tiên trong cuộc nội chiến Trung Quốc, và sau đó tại Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, và Đông Dương - đặc biệt Việt Nam - Chiến tranh lạnh nổ ra không phải là một trận chiến tuyên truyền ý thức hệ / giữa các cường quốc đối thủ, mà trong cuộc chiến kiên trì ấy, việc nồi da nấu thịt ấy, đã làm mất đi hàng triệu sinh linh,
chậm phát triển kinh tế và dân chủ hóa chính trị mới là đáng để suy nghĩ.

Đó là lịch sử nghiệt ngã mà làm cho Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến lời dặn dò của Đặng Tiểu Bình cho hậu bối Trung Quốc rằng "Che giấu tham vọng và giấu móng vuốt của mình" để lo lắng cho các nhà lãnh đạo châu Á từ New Delhi tới Seoul và từ Tokyo đến Jakarta. Từ việc từ chối lên án Bắc Triều Tiên vô cớ đánh chìm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc và pháo kích hòn đảo của Hàn Quốc, đến việc tuyên bố chủ quyền của họ trên hai quần đảo khác nhau của Nhật Bản, Việt Nam, Mã Lai, và Phi Luật Tân và vừa làm trò ảo thuật tuyên bố chủ quyền trên địa bàn tỉnh Arunachal Pradesh của Ấn Độ, Trung Quốc đã tiết lộ một vênh váo tân hoàng đế. Vì vậy, phải ngạc nhiên khi không có ai “ngăn chặn” họ đang diễn thuyết về sự thống trị ngoại giao Châu Á.

Nhưng nó là sai - ít nhất là cho bây giờ - khi nghĩ rằng một tổ chức chính thức của liên minh có Trung Quốc là cần thiết yêu cầu phải có Liên Xô. Ngăn chặn, nó phải được nhớ lại, được tổ chức chống lại một chế độ độc tài toàn trị của Liên Xô không chỉ ý thức hệ hiếu chiến và trong quá trình củng cố các thuộc địa của nó ở Đông Âu (cũng như vùng lãnh thổ phía Bắc của Nhật Bản), mà còn cố tình niêm phong nền kinh tế thế giới rộng lớn hơn.

Trung Quốc ngày nay rất khác. Ít ra về mặt lịch sử, hiếm thấy ở Trung Quốc, với cái cách không úp mở,  họ thực hiện chủ nghĩa đế quốc quân sự kiểu Liên Xô cũ. Tôn Tử, nhà lý luận chiến tranh vĩ đại của Trung Quốc, cho rằng chủ yếu tập trung vào sự suy yếu tâm lý của đối thủ, mà không cần phải trong chiến đấu là thắng. Cho đến gần đây, nhiều dự thầu của Trung Quốc thể hiện quyền bá chủ trong khu vực trong học thuyết của Tôn Tử.

Quan trọng hơn, kinh tế Trung Quốc bị bỏ rơi chính sách tự cung, tự cấp ba thập kỷ trước. Ngày nay, liên kết kinh tế ở châu Á của Trung Quốc sâu rộng và lâu bền – điều này đã được hy vọng. Trung Quốc xuất khẩu máy móc với số lượng lớn, các bộ phận và linh kiện lắp ráp cuối cùng đi khắp châu Á - Thái Lan, Malaysia, Philippines, và Indonesia, cũng như ở các quốc gia giàu có hơn như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, và Nhật Bản. Thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới đã giúp cho Trung Quốc liên kết với mạng lưới sản xuất rất tinh vi toàn châu Á. Mọi người đều được hưởng lợi từ các mối quan hệ này.

Trong suốt ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc từ nghèo đói đến cường quốc thứ nhì kinh tế, thương mại trong khu vực Đông Á đã phát triển nhanh hơn so với thương mại của phần còn lại của thế giới, cho thấy chuyên môn hoá hội nhập sâu hơn. Thật vậy, Trung Quốc tăng trưởng đã làm thay đổi sâu sắc tiến trình trình dòng chảy thương mại của châu Á. Nhật Bản không còn tập trung vào xuất khẩu hàng hóa thành phẩm sang châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng hàng hoá của Nhật Bản được tìm thấy trên các bộ phận và linh kiện lắp ráp xuất khẩu từ Trung Quốc. Đổi lại, Nhật Bản hiện nay nhập khẩu từ Trung Quốc những thành phẩm (chẳng hạn như máy văn phòng và máy tính) nhưng lại đến từ Mỹ và Châu Âu.

Có đến một nửa trong 1.3 tỷ dân số Trung Quốc vẫn còn sa lầy trong nghèo đói khốn khổ, vì lợi ích của nhà nước Trung Quốc để đảm bảo rằng các mối quan hệ kinh tế tiếp tục phát triển. Trong quá khứ, Trung Quốc đã công nhận sự cần thiết quan trọng cho quan hệ láng giềng tốt. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, các quan chức Trung Quốc đã không tham gia vào cam kết giảm giá cạnh tranh của đồng nhân dân tệ. Thật không may, hoạch định chính sách sáng suốt và có trách nhiệm như vậy là khác xa với những gì chúng ta đang thấy ngày nay.

Sự gia tăng chóng mặt khả năng quân sự của Trung Quốc là một mối lo âu ở châu Á. Nhưng, thậm chí theo đánh giá chính xác nhất, ngân sách quân sự của Trung Quốc hiện nay chỉ bằng với Nhật Bản và, tất nhiên, ít hơn nhiều so với ngân sách quân sự kết hợp của Nhật Bản, Ấn Độ, và Nga, tất cả những nước có đường biên giới với Trung Quốc – đó là chưa đề cập đến Indonesia, Hàn Quốc, và một Đài Loan với hiện đại hóa quân sự. Hơn nữa, Nga và Ấn Độ sở hữu vũ khí hạt nhân, và Nhật Bản có công nghệ đủ tiền để cấu hình lại thế trận quốc phòng của mình để đáp ứng với bất kỳ mối đe dọa hạt nhân của khu vực.

Vì vậy, các thách thức mà Trung Quốc đặt ra hiện nay vẫn chủ yếu là chính trị và kinh tế, chứ không phải quân sự. Các thử nghiệm về ý định của Trung Quốc là liệu kinh tế phát triển và, có, gia tăng năng lực quân sự của họ sẽ được sử dụng để tìm cách thiết lập quyền bá chủ châu Á bằng cách làm việc để loại trừ vai trò của Mỹ trong khu vực và ngăn ngừa quan hệ đối tác khu vực từ sự hưng thịnh của họ. Một cách khác là một Trung Quốc trở thành một phần của một nỗ lực hợp tác với châu Á liên kết trong một hệ thống dựa trên luật lệ tương tự như đã từng xảy ra ở châu Âu về việc củng cố hòa bình lâu dài.

Trong ý nghĩa này, châu Á tăng trưởng cũng là một thử nghiệm đối với khả năng cạnh tranh và cam kết của Mỹ ở châu Á. Sự đối đầu có tính lịch sử với nước Mỹ để bá chủ ở châu Á - trong đó Thông cáo Thượng Hải năm 1972(1) là một mục tiêu theo đuổi - vẫn còn hợp lệ. Nó sẽ phải được theo đuổi, tuy nhiên, chủ yếu bằng phương tiện chính trị và kinh tế, mặc dù các vấn đề trong thông cáo này vẫn còn được dựa lưng bởi quyền lực Mỹ.

Trước năm 2010, hầu hết các nước châu Á không có sự ưu tiên phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhưng sự quyết đoán của Trung Quốc đã làm hình thành một hệ thống đa phương châu Á dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, hơn là chấp nhận cách người Trung Quốc loại trừ Mỹ ở khu vực để cầm đầu. Trong năm 2011 chúng ta có thể bắt đầu xem xét những biện pháp vỗ về để cai trị của Trung Quốc hòng đánh giá về đạo đức trong ngoại giao của họ, trong đó có việc theo dõi các người bạn tin cậy của họ như Bắc Hàn và Miến Điện chỉ là những nền kinh tế thủng đáy đang lệ thuộc vào họ, với tham nhũng.

Bản quyền: Project Syndicate, 2010.
www.project-syndicate.org
--------------------------------------------------------------------------
Ghi chú của người dịch:
1. Thông cáo Thượng hải 1972: là một thông cáo chung giữa Mỹ và Trung Quốc trong cuộc gặp lịch sử giữa Nixon và Mao. Mục tiêu của cuộc gâp này là chống lại người Xô Viết Nga. Trong thông cáo chung có 4 điểm chính: thứ nhất là Hoa Kỳ khẳng định lại mục đích của mình là giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng ngoại giao và giữ vững quan hệ chặc chẽ với Nhật Bản và Nam Hàn. Thứ hai, chính phủ Trung Quốc "khẳng định sự ủng hộ vững chắc" đối với nhân dân Đông Dương, "mong muốn" thấy Triều Tiên thống nhất. Phản đối chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Thứ ba là, Hoa Kỳ công nhận Đài Loan là một bộ phận Trung Quốc, nhưng phản đối dùng vũ lực để thống nhất Đài Loan. Trung Quốc không đặt việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Đài Loan và chấm dứt quan hệ với Đài Loan là điều kiện để phát triển quan hệ với Hoa Kỳ. Thứ tư là, thoả thuận cùng hành động để phát triển sự hợp tác và trao đổi khoa học kỹ thuật, văn hoá, thể dục thể thao, thương mại giữa 2 nước.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 18h37', ngày thứ Hai, 28/02/2011

ĐỨC TIN Ở THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HOÁ

Bài viết của ông Tony Blair là cựu Thủ tướng của Vương quốc Anh.

LONDON - Trong nhiều năm, Tôn giáo đã được giả định rằng, chắc chắn ở những xã hội phát triển,  tôn giáo sẽ tàn lụi. Nhưng điều này đã không xảy ra, và, khi bắt đầu một thập kỷ mới, đó là thời điểm để hoạch định chính sách cho tôn giáo tồn tại một cách nghiêm túc.

Số lượng người tuyên xưng đức tin của họ trên toàn thế giới đang gia tăng. Điều này quá rõ ràng trong thế giới Hồi giáo. Trong khi châu Âu tỷ lệ sinh sản giảm sút, thì dân số Ả Rập được thiết lập để tăng gấp đôi trong thập kỷ tới, và dân số sẽ tăng lên trong nhiều nước châu Á theo Hồi giáo. Thiên Chúa Giáo cũng đang phát triển - theo những cách kỳ lạ và ở những nơi đáng ngạc nhiên.

Tôn giáo tăng trưởng lớn nhất lại là ở Trung Quốc. Thật vậy, lòng mộ đạo của Trung Quốc là giá trị phản ánh điều này. Hiện ở Trung Quốc có nhiều người Hồi giáo hơn so với ở châu Âu, nhiều người theo Tin lành hơn ở Anh, và nhiều hơn nữa theo Công giáo hơn cả ở Italia. Ngoài ra, theo các cuộc điều tra mới nhất, khoảng 100 triệu người Trung Quốc tự nhận mình là Phật giáo. Và, tất nhiên, Nho giáo - một triết lý hơn là một tôn giáo – được vô cùng tôn kính.

Có một phong trào Tin Lành lớn tại Brazil và Mexico. Đức tin vẫn còn đối với nhiều người tại Hoa Kỳ và là một phần quan trọng trong cuộc sống của họ. Ngay cả ở châu Âu, những con số thú nhận với một niềm tin vào Thiên Chúa vẫn còn cao. Và, tất nhiên có hàng trăm triệu người Ấn giáo (Hindus) và vẫn còn số lượng chắc chắn theo Tích Khắc giáo (Sikh)(1) và người Do Thái giáo.

Những người có đức tin họ thực hiện những công việc tuyệt vời vì nó. Khoảng 40% những người chăm sóc sức khỏe tại Châu Phi được điều phối bởi các tổ chức tôn giáo. Hồi giáo, Ấn giáo, và các nhóm cứu trợ người Do Thái đang hoạt động trên toàn thế giới trong cuộc chiến chống đói nghèo và bệnh tật. Ở bất kỳ quốc gia phát triển nào, bạn cũng sẽ tìm thấy tấm lòng vị tha được ban bố đến cho người tàn tật, người nghèo, người sắp chết, và những người trong hoàn cảnh khó khăn, bởi những người hành động theo sự thúc đẩy của đức tin của họ. Đối với tất cả các tôn giáo lớn, đức tin thông thường là tình yêu của hàng xóm và bình đẳng của con người trước Thiên Chúa.

Thật không may, lòng trắc ẩn không chỉ là trạng huống, mà trong đó tôn giáo thúc đẩy con người hướng thiện. Mà nó còn có thể thúc đẩy chủ nghĩa cực đoan phát triển, thậm chí là khủng bố. Đây là nơi mà đức tin trở thành một nhãn hiệu đặc trưng đối lập với những người không cùng sự chia sẻ, một loại tinh thần dân tộc mà coi những người không đồng ý - thậm chí những người trong cùng một đức tin cũng có những thế giới quan khác nhau về đức tin - là những kẻ theo chủ nghĩa hoài nghi, kẻ ngoại đạo, và do đó là kẻ thù.

Những trẻ em lớn lên cách nay 50 năm, hiếm khi có thể gặp ai đó có một nền văn hoá và đức tin khác với mình. Nhưng hôm nay, khi tôi đứng trong sân chơi của con trai 10 tuổi, hoặc tôi nhìn vào bạn bè tôi ở một bữa tiệc sinh nhật của mình, tôi tìm thấy vô số các ngôn ngữ, tôn giáo và màu da khác nhau. Khi lượng đổi thành chất thì điều này luôn đúng. Cái làm nên điều ấy là áp lực của toàn cầu hoá, tiến bộ công nghệ đã rút ngắn khoảng cách và thúc đẩy cộng đồng thế giới xích lại gần nhau hơn.

Đứng trên quan điểm c
á nhân, tôi vui mừng cho điều này. Nhưng trong một thế giới như vậy yêu cầu sự tôn trọng thay thế cho sự nghi ngờ lẫn nhau. Một thế giới như vậy sẽ lật ngược truyền thống và thách thức những tư duy lỗi thời, buộc chúng ta phải lựa chọn một cách có ý thức để nắm lấy nó. Hay là không.

Và trong quá trình đó có những khó khăn như: đối với một số người, sức mạnh này là một mối đe dọa. Nó đe dọa giai cấp thượng lưu bảo thủ hơn. Và, đối với những người mà các vấn đề tôn giáo, toàn cầu hóa đôi khi có thể thúc đẩy đến một chủ nghĩa thế tục(2) hiếu chiến (aggressive secularism) hoặc chủ nghĩa khoái lạc (hedonism)(3) làm cho nhiều người khó chịu.

Vì vậy, chúng ta phải có ý thức thế giới đức tin tương tác như thế nào với quá trình cưỡng chế của toàn cầu hóa. Tuy nhiên, dặc biệt là làm thế nào để chúng ta ít mất về công sức hoặc chính trị cho việc này. Hầu hết các xung đột trong thế giới ngày nay có một chiều kích tôn giáo. Chủ nghĩa cực đoan hình thành trên cơ sở xuyên tạc của Hồi giáo cho thấy không có dấu hiệu dịu đi; thực vậy, nó sẽ không dịu đi cho đến khi nó được đặt về vị trí tôn giáo, khi tôn giáo trở về đúng vị trí của nó, lúc đó nó cũng có giá trị tốt như các biện pháp an ninh.

Một cách từ từ nhưng chắc chắn, chủ nghĩa cực đoan đã tạo ra phản ứng của riêng mình, như chúng ta đã thấy từ những lợi ích của các đảng phái bài trừ Hồi giáo (Islamaphobic) tranh cử ở châu Âu, và những phát biểu của nhà lãnh đạo châu Âu theo chủ nghĩa đa văn hóa đã thất bại.

Tất nhiên, trong suốt một thời gian dài, tôn giáo thường góp phần vào một cuộc xung đột chính trị. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôn giáo giảm đi giá trị của nó. Ngược lại, nó đòi hỏi một sự tập trung đặc biệt. Tôi thấy điều này đã làm mất quá nhiều thời gian tại Jerusalem, nơi mà – cả phương Đông và phương Tây - có sự gia tăng mạnh mẽ sự tín ngưỡng.

Tôi bắt đầu thành lập Quỹ tài trợ cho đức tin (Faith Foundation) của mình một cách cẩn trọng để tạo ra sự hiểu biết lớn hơn giữa các tôn giáo. Lý luận của tôi là đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa cực đoan sử dụng cái tên của tôn giáo để hành động, bất kể tính chất phản động trong suy nghĩ của mình – họ rất tinh ý và xuất sắc trong việc sử dụng truyền thông và công nghệ hiện đại. Chúng tôi ước tính có hàng tỷ đô la thực sự mỗi năm được dành cho việc quảng bá này của tôn giáo.

Vì vậy, Quỹ của tôi có một chương trình đại học - bây giờ đang triển khai tại chín quốc gia – chương trình được thiết kế để lấy tôn giáo ra khỏi sự độc quyền của trường thần học và bắt đầu phân tích vai trò của nó trong thế giới ngày nay. Tại 15 quốc gia khác, với những nhóm khác thiết kế để tham gia. Chúng tôi lại có một chương trình khác liên kết học sinh trung học trên toàn thế giới thông qua công nghệ tương tác để thảo luận về đức tin của họ và những gì của đức tin có ý nghĩa đối với họ. Và chúng tôi có một chương trình hành động thông qua đó những người trẻ làm việc với những đức tin khác nhau để nâng cao nhận thức của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên Hiệp Quốc chủ đạo để chống đói nghèo trên thế giới.

Chúng tôi chỉ là một tổ chức. Có những tổ chức khác đang bắt đầu. Nhưng các nhà nước nên bắt đầu thực hiện việc này một cách nghiêm túc hơn. Liên minh các nền văn minh, đã được bắt đầu bỡi chính phủ Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, là một ví dụ. Quốc vương của Ả Rập Saudi cũng đã thể hiện vai trò lãnh đạo tuyệt vời trong lĩnh vực này. Tuy nhiên điều này không chỉ thực hiện ở tầng lớp chóp bu với nhau. Mà nó phải được đưa xuống đến dân thường ở các quốc gia, đặc biệt bằng các phương tiện truyền thông thông qua những người trẻ tuổi.

Cuối cùng, các nhà lãnh đạo tôn giáo phải chấp nhận một trách nhiệm mới: là phải có một lập trường vững chắc và kiên quyết là tôn trọng những người thuộc các tín ngưỡng khác với mình. Những người theo chủ nghĩa thế tục hiếu chiến và cực đoan phải tách nhau ra. Nếu họ tụ vào nhau, họ tạo thành một thách thức thật sự cho những người của đức tin. Chúng ta phải chứng minh bản chất yêu thương của đức tin chân thật, nếu không, tôn giáo sẽ định hình bằng một cuộc chiến mà trong đó những kẻ cực đoan nắm quyền kiểm soát các cộng đồng đức tin và những kẻ theo chủ nghĩa thế tục cho rằng những quan điểm như vậy là thực chất đến với tôn giáo.

Đây sẽ là một thảm kịch. Trên tất cả, trong thời đại toàn cầu hoá, đức tin có thể đại diện cho lý lẽ và tiến bộ. Tôn giáo không chết đi, nhưng cũng không cần đến nó. Mà thế giới cần đức tin.

Bản quyền: Project Syndicate, 2010.
www.project-syndicate.org
-----------------------------------------------------------------------------
Ghi chú của người dịch:
1. Tích Khắc giáo: Là một tôn giáo đứng hàng thứ 5 về mặt số lượng các tín đồ trên toàn thế giới đang theo. Sikh, ra đời năm 1469 do Gunu Nanak, một người tu theo trường phái thiền tông của Phật giáo sáng lập ở Ấn Độ. Ông cho rằng mỗi con người là một đấng tạo hoá tiềm ẩn bên trong. Nên Sikh chủ trương mỗi con người tự đi tìm chân lý cho riêng mình bằng luôn thiền định và trả lời 2 câu hỏi cho chính mình: Ta là ai và Ta có mặt trên đời để để làm gì? Tự đánh thức tiềm năng thánh thiện của chính bản thân mình là con đường dẫn đắt mỗi chúng ta đi đến chân lý trường tồn.

2. Chủ nghĩa thế tục: là chủ nghĩa vô thần cực đoan và hiếu chiến. Nó khác với đạo thờ ông bà tổ tiên của người Việt. Hiện thân của nó đã từng có mặt ở Việt Nam khi các chính khách sử dụng nó để làm cuộc cách mạng thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

3. Chủ nghĩa khoái lạc: đây là một học thuyết lấy mưu cầu khoái lạc làm nguyên tắc và hành vi cho lối sống. Qua các thời đại, chủ nghĩa khoái lạc cò nhiều biến tướng. Như thời kỳ cổ đại có 2 trường phái cực đoan và trung dung, cực đoan thì chủ trương hành lạc, phóng đản; phái trung dung chủ trương điều độ trong khoái lạc, vì thái quá sẽ sinh ra chán chường và dẫn đến đau khổ, nên đề cao khoái lạc tinh thần. Đến thời trung đại, do ảnh hưởng tôn giáo cho rằng khoái lạc là tội lỗi, hạnh phúc là từ bỏ khoái lạc trần gian để đi vào khổ hạnh. Đến thời cận hiện đại, chủ nghĩa khoái lạc có tính chất tiến bộ: thừa nhận quyền con người được thoả mãn nhu cầu riêng của mình, còn gọi là chủ nghĩa vị lợi. Dù còn nhiều hạn chế, nhưng nó cũng góp phần chống lại đạo đức phong kiến giải thích đạo đức xuất phát từ quan điểm duy vật. Tóm lại chủ nghĩa khoái lạc là một chủ nghĩa có tính cực đoan thái quá dù ở thời kỳ nào.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 9h35', ngày thứ Hai, 28/02/2011

Sunday, February 27, 2011

VIẾT MỘT LẦN CUỐI CHO NGÀY THẦY THUỐC

Mỗi lần đến ngày này thì điện thoại di động của mình cứ réo lên những tin nhắn với những lời chúc tụng đầy tình người. Hoa tặng cũng là chuyện thường tình. Mình quý mến tất cả những tấm lòng đã còn nhớ đến mình, mặc dù mình không còn dây với hủi tới nay đã đúng 10 năm.

Mình bảo hủi vì tới ngày này hằng năm nó cứ làm mình nổi gai ốc khắp người để nhớ lại cảnh ngày xưa chứng kiến thầy thuốc vừa làm cò, vừa làm con buôn trong môi trường bệnh viện công như một lũ hủi. Soi đèn tìm kiếm mãi mới thấy còn sót vài người không là  hủi.

Mà có lẽ, tất cả mọi nơi nào trong môi trường công đều là như vậy cả, khi sờ tới đâu cũng thấy toàn hủi. Dựa vào ngày thầy thuốc mà để lên án cái ngày này thì cũng tội cho nó. Nguyên nhân vì đâu?

Có lẽ, một câu nói của người bạn sáng nay mail cho mình là đúng: "Người ta sinh ra những cái Mỹ để Mị nhau". 

Cứ mỗi thời đại, các chính khách lại nghĩ ra những "ngày làm trò" để mị nhau, làm khổ nhau. Ngồi tính lại, ở nước ta, ngày nay có 8000 ngày lễ hội rập rình trong chỉ 1 năm có 365 ngày! Cứ mỗi lễ hội lớn được thực thi, thì đồng tiền lại mất giá và dân chúng lại khổ hơn vì lạm phát.

Cứ phải làm khổ nhau làm gì khi đến ngày này lại phải có những người bệnh khệ nệ mang hoa đến chúc nhau những lời tri ân, mà chưa chắc lòng đã thoả.

Đừng làm khổ nhau nữa vì những cái ngày chẳng ra chi. Viết ra điều này thì quá cực đoan, nhưng không có nó có lẽ hay hơn là có nó, mà người bệnh vẫn còn nằm đôi, nằm ba và thảm cảnh thầy thuốc vừa làm con buôn phe phẩy, mà không phải là người lo thể xác và tâm hồn của người bệnh như tôn chỉ của nó. Nguyên nhân cũng không phải vì họ, mà vì đâu?

Thôi thì cũng viết vài dòng, để thông báo với các bạn gần xa có biết về mình, kể từ hôm nay, không nên chúc mình vào cái ngày mà trong bộ nhớ của mình đã không còn có nó từ lâu. Chúng ta thà nghĩ và hành động cho nhau như những người lương thiện, hơn là những điều phù phiếm hảo với nhau. Mình sẽ không viết cho ngày này nữa, chỉ đến khi nào ngành y tế Việt Nam có được sự đàng hoàng và tốt đẹp với nhiệm vụ thiêng liêng của nó.

Asia Clinic, 9h55', ngày Chúa Nhật, 27/02/2011

Saturday, February 26, 2011

TRUNG ĐÔNG ĐANG BỪNG TỈNH


Bài viết của Joschka Fischer, là ngoại trưởng và là phó thủ tướng Đức trong giai đoạn 1998-2005, là một nhà lãnh đạo Đảng Xanh của Đức trong gần 20 năm.

BERLIN - Khi các cuộc nổi dậy dân chủ ở Tunisia thành công lật đổ chế độ cũ, thế giới đã phản ứng với sự ngạc nhiên. Có sự tồn tại một nền Dân chủ từ bên dưới trong thế giới Ả Rập hay không?

Sau khi lật đổ chế độ 30 năm tuổi của Hosni Mubarak tại Ai Cập, sự ngạc nhiên đã trở thành tất nhiên ở các vùng trung tâm của Trung Đông. Trung Đông đã được đánh thức và bắt đầu bước vào thế giới toàn cầu hóa của thế kỷ XXI. Tính đến nay, khu vực này(không bao gồm Israel và Thổ Nhĩ Kỳ) đã có ít nhiều những lần bỏ lỡ tiến trình lịch sử của hiện đại hoá toàn cầu.

Cho dù sự bừng tỉnh dân chủ của thế giới Ả Rập và Hồi giáo rộng lớn thực sự xảy ra hay sản phẩm chỉ làm thay đổi thành phần chóp bu của chế độ độc tài, hoặc nó sẽ dẫn đến một trật tự ổn định, hoặc sự hỗn loạn và cực đoan kéo dài, thì vẫn còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, một điều đã rõ là: Ở một thời đại mà khu vực này còn đang ngủ thì những nơi khác hiện đại hóa đã kết thúc.

Tất nhiên là c
ác cuộc nổi dậy của nhân dân sẽ còn tiếp tục. Hầu như không có quốc gia nào trong khu vực sẽ thoát khỏi nó, tuy nhiên khi nào và nơi nào sẽ tiếp tục xảy ra vẫn còn chưa chắc chắn. Iran, Syria, và Saudi Arabia đều là ứng cử viên, nhưng với Arab Saudi có lẽ là khó diễn ra nhất.

Cũng như vậy, Israel nên được tư vấn để chuẩn bị cho sự thay đổi thời đại trong khu vực và cần cố gắng đạt được một giải pháp hòa bình với người Palestine và Syria càng nhanh càng tốt. Thế nhưng, có rất ít dấu hiệu cho thấy chính phủ Israel có tầm nhìn cần thiết để thực hiện được công việc này.

Các vấn đề đều giống nhau gần như ở khắp Trung Đông (với ngoại lệ của Israel và Thổ Nhĩ Kỳ): chính trị đàn áp, kém phát triển kinh tế và nghèo đói thê thảm (trừ 1 số nước nhỏ có dầu hoả), giáo dục thiếu thốn, tỷ lệ thất nghiệp cao, và áp lực dân số rất lớn, do dân số rất trẻ và gia tăng nhanh.

Những vấn đề này đã được đưa ra từng năm, trong báo cáo của chương trình phát triển Liên Hợp Quốc. Hơn nữa, tình hình càng trầm trọng hơn bởi sự bất tài của chế độ độc tài ở khu vực, nhưng họ đã không cung cấp cho những người trẻ tuổi bất kỳ triển vọng nào ngoài sự đàn áp. Vì vậy, cách mạng dân chủ chỉ là một vấn đề thời gian cho đến khi những thùng thuốc súng này được phát hoả.

Những mạch dẫn điện là các công nghệ thông tin mới của truyền hình vệ tinh và Internet, chẳng hạn như công ty truyền thông quốc tế Al Jazeera. Thật vậy, một lịch sử trớ trêu là nó không do quyền lực cứng của người Mỹ nhúng tay vào, ví dụ như, trong cuộc chiến tranh Iraq – mà đó là quyền lực mềm làm nên những cuộc cách mạng dân chủ - Twitter và Facebook – chúng quá thâm hiểm dưới bàn tay lông lá của TT George W. Bush và các cố vấn đa mưu(neocon) của ông. Có vẻ như, thung lủng Silicon có hiệu lực hơn Lầu Năm Góc.

Những công cụ kỹ thuật số từ Hoa Kỳ trở thành dụng cụ cho một cuộc nổi dậy của thanh niên vì tự do và dân chủ xuyên từ khối Ả Rập đến Iran. Và, mặc dù có nhiều dịch vụ ở Trung Đông đang ở trong tình trạng cung cấp ngắn hạn, nhưng không thiếu những người trẻ tuổi mất hy vọng, và số lượng truy cập sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới.

Thật vậy, Những sự kiện có tính chất giống nhau như biểu tình ở Quảng trường Tahrir Cairo đến sự kiện tháng 5/1968 tại Paris(1) và sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào năm 1989, sẽ là quá sớm để tuyên bố rằng tự do đã thắng thế. Mặc dù hiện nay, các cuộc cách mạng này sẽ phụ thuộc phần lớn vào cách mà phương Tây phản ứng, bởi vì những gì đang bị đe dọa không chỉ là lật đổ của các bạo chúa, mà còn những biến đổi sâu sắc và hiện đại hóa toàn bộ các xã hội và các nền kinh tế. Nó là một sự việc đáng kinh ngạc.

Hơn nữa, so với Đông Âu vào năm 1989, Trung Đông trong năm 2011 thiếu bàn tay của những tổ chức tham gia làm ổn định từ bên ngoài - chẳng hạn như NATO và Liên minh châu Âu - mà chịu ảnh hưởng cải cách bằng tự thân của các thành viên xã hội. Những nỗ lực liên quan đến chuyển đổi lớn này đã đến từ bên trong các xã hội, và khả năng hiện thực cuộc cách mạng từ những đòi hỏi xã hội đã đến mức lượng chuyển thành chất.

Sau cuộc cách mạng Đông Âu 1989 đã làm mất thời gian và tiền bạc hơn so với những gì dự kiến ban đầu. Có nhiều người bị mất trong cuộc cách mạng này, và những người tổ chức lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ không tiếp tục thúc đẩy phát triển dân chủ và kinh tế sau đó. Với kinh nghiệm "Cách mạng Cam" của Ukraine năm 2004, cho thấy đã thất bại vài năm sau vì bất tài, ghẻ lạnh, và tham nhũng của các nhà lãnh đạo cách mạng.

Tóm lại, những hạn chế và giống nhau này cho thấy rằng phương Tây, đặc biệt là châu Âu, nên tập trung vào hỗ trợ lâu dài cho sự phát triển dân chủ và kinh tế của các nước tái sinh ở Trung Đông, cần quan hệ đối tác với tất cả các lực lượng hỗ trợ dân chủ hóa và hiện đại hoá ở đất nước của họ. Phương Tây không còn có thể tiếp tục với chính sách thực dụng (realpolitik) như đã từng làm.

Những nhiệm vụ này  gồm kêu gọi sự hào phóng, cả về tài chính và các mặt khác (ví dụ, tạo các cơ hội đi du lịch là tầm quan trọng sống còn trong các khát vọng dân chủ của Đông Âu sau năm 1989), và họ cần nhiều thập kỷ, chứ không phải tính bằng nhiều năm cho sự kiên trì. Hay nói cách khác, thành công sẽ rất tốn kém - rất đắt giá – mà chúng ta  sẽ được nhận lấy bất cứ điều gì rất phổ biến như trong khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nhưng một nền dân chủ mà không chuyển đổi như việc chuyển đổi các món trong bữa ăn tối bình thường là một nền dân chủ bị ràng buộc với thất bại.

Viện trợ kinh tế, mở cửa thị trường EU và Hoa Kỳ, các dự án năng lượng chiến lược, cố vấn luật pháp và hiến pháp, và hợp tác giữa các trường đại học là những vấn đề nằm trong số các nguồn lực mà phương Tây phải cung cấp nếu muốn đóng góp vào sự thành công cho sự thức tỉnh dân chủ của Trung Đông.

Nếu cuộc bừng tỉnh này thất bại, kết quả sẽ là một Trung Đông cực đoan. Không thể có chuyện trở về nguyên trạng ban đầu. Vì Thần đèn là phải ở trong chai (2).

Bản quyền: Project Syndicate / Viện khoa học nhân văn, năm 2011.
www.project-syndicate.org
--------------------------------------------------
Ghi chú của người dịch: 
1. Sự kiện Paris tháng 5 năm 1968: Là một sự kiện gồm các cuộc biểu tình trên toàn thế giới gồm sinh viên và công nhân, bắt đầu từ Paris. Sự kiện này là sự kiện mà các nhà xã hội học đã đưa ra một lý thuyết cho quyền lực thứ 4 - thông tin truyền thông - Các thế hệ sinh ra trong hoà bình sau chiến tranh thế giới thứ II, được giáo dục trong một nền giáo dục tân tiến, được tiếp cận thông tin không bị cấm đoán, nhận thức của các thế hệ này nhân bản hơn với tư duy độc lập. Nên họ đòi hỏi các chính khách phải đối xử với không chỉ với dân tộc họ mà cả nhân loại toàn cầu cùng một triết lý nhân bản. Sự kiện này đã đưa đến các cuộc cách mạng xã hội cho các nước thuộc địa và ngay trong lòng các nước đi xâm lược. Nhưng có 2 xu hướng xảy ra từ các cuộc cách mạng xã hội của các thuộc địa. Một xu hướng tả khuynh đi đến con đường độc tài còn hơn bị trị của các thực dân như khu vực Trung Đông Bắc Phi và các tiểu quốc theo chủ nghĩa cộng sản. Còn xu hướng hữu khuynh đi theo tư bản chủ nghĩa thì thoát đói nghèo và hùng cường.

2. Câu chuyện ngụ ngôn của khu vực Ả Rập: Alladin và cây đèn thần, nói lên Thần đèn đầy quyền năng bị nhốt trong chai, nhưng ông có 1 lời nguyền là sẽ làm toi mọi cho bất kỳ ai mở nút chai để giải thóat cho ông. Nên thần đèn thà bị nhốt trong chai thì còn tốt hơn là Thần đèn ra khỏi chai nhưng bị làm toi mọi cho một hôn quân.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 17h52', ngày thứ Bảy, 26/02/2011

Friday, February 25, 2011

BƯỚC NGOẶT CỦA TRUNG HOA

 Bài gốc: China's Turning Point

Bài viết của Stephen S. Roach, giảng viên của Yale University, Non-Executive Chairman của Tập đòan Morgan Stanley châu Á tác giả của cuốn sách Châu Á Mới (The Next Asia).

NEW HAVEN - Vào đầu tháng Ba, Quốc dân đại hội Trung Quốc sẽ thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của mình. Kế hoạch này có thể sẽ đi vào lịch sử như là một trong những sáng kiến táo bạo nhất của chiến lược Trung Quốc.

Về bản chất, nó sẽ thay đổi đặc tính các mô hình kinh tế của Trung Quốc - chuyển từ cơ cấu xuất khẩu và đầu tư chủ đạo trong 30 năm qua cho một mô hình của sự tăng trưởng sang một mô hình gia tăng sự tiêu thụ nội địa Trung Quốc. Sự thay đổi này sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế Trung Quốc, với phần còn lại của châu Á, và với toàn cầu.

Cũng giống như kế hoạch 5 năm lần thứ năm, trong đó thiết lập các giai đoạn cho "cải cách và mở cửa" của những năm cuối thập niên 1970. Và kế họach 5 năm lần thứ IX, chủ trương kích hoạt thị trường hóa các doanh nghiệp nhà nước vào giữa thập niên 1990. Kế họach sắp tới sẽ buộc Trung Quốc phải suy nghĩ lại đề xuất giá trị cốt lõi của nền kinh tế. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã đặt nền móng bốn năm trước, khi ông lần đầu tiên kết nối các nghịch lý của bốn không (tác giả chơi chữ "FOUR UNs": là 4 UNs). Đó là: “không ổn định, không cân bằng, không đồng bộ, và cuối cùng là không bền vững”. Một nền kinh tế phồn vinh giả tạo, nó đang gia tăng sự không ổn định, không cân bằng, không đồng bộ, và cuối cùng là sụp đổ.

Cuộc Đại suy thoái 2008-2009 cho thấy Trung Quốc có thể không còn đủ khả năng để chống đỡ là phỏng đoán trên lý thuyết. Thời kỳ hậu khủng hoảng có thể được đặc trưng bởi các cơn dư chấn kéo dài trong thế giới phát triển – nó làm suy giảm nhu cầu thế giới bên ngoài, mà Trung Quốc từ lâu đã dựa vào để phát triển. Vậy là chính phủ Trung Quốc không còn sự lựa chọn nào khác, ngoài việc chuyển sang nhu cầu nội địa và giải quyết đầu vào của 4 tiêu chuẩn thống nhất ở trên.

Kế họach 5
năm lần thứ 12 họ sẽ phải tập trung chủ yếu vào ba sáng kiến ủng hộ tiêu thụ. Trước tiên, Trung Quốc sẽ bắt đầu cai sữa cho mô hình sản xuất của mình, một mô hình mà nó đã làm cơ sở cho tăng trưởng xuất khẩu và đầu tư. Trong khi các phương pháp sản xuất của Trung Quốc đã được sử dụng phù hợp 30 năm qua, thì nó lại bị phụ thuộc vào các yếu tố vốn đầu tư lớn và nâng cao năng suất lao động, làm cho nó không có khả năng hấp dẫn lao động dư thừa của đất nước.

Thay vào đó, theo kế hoạch mới, Trung Quốc sẽ thông qua một mô hình có nhiều dịch vụ cần nhiều lao động (labor-intensive). Với hy vọng, nó sẽ cung cấp một bản thiết kế chi tiết cho sự phát triển của những ngành công nghiệp có quy mô lớn, các giao dịch cao như thương mại bán sỉ và bán lẻ, vận tải trong nước và tổ chức lại chuỗi cung ứng dự trữ, y tế, và giải trí và khách sạn.

Một sự chuyển tiếp như vậy sẽ cung cấp cho Trung Quốc nhiều tiềm năng lớn hơn để tạo ra việc làm. Hàm lượng công việc trong một đơn vị sản xuất của một công nhân Trung Quốc sẽ có công suất cao hơn 35% trong các dịch vụ sản xuất và xây dựng. Trung Quốc thực sự có thể bắn trúng mục tiêu tạo công ăn việc làm của mình với mức tăng trưởng GDP chậm hơn. Ngòai ra, về lâu dài, các dịch vụ sẽ ít làm cạn kiệt tài nguyên hơn so với sản xuất - giúp Trung Quốc gia tăng lợi ích của một mô hình tăng trưởng thân thiện với môi trường hơn.

Sáng kiến thứ hai của kế họach mới là kích thích tiêu dùng, sáng kiến này sẽ giúp cho sự tăng lương. Mục tiêu chính sẽ là tiền lương đã bị tụt hậu ở người lao động nông thôn, họ có thu nhập bình quân đầu người hiện nay chỉ có 30% so với những người ở khu vực thành thị - hay nói một cách chính xác là hiện trạng này đang đi ngược lại với nguyện vọng của Trung Quốc cho một "xã hội hài hòa". Trong số những cải cách, đó là cải cách chính sách thuế để thúc đẩy sức mua ở nông thôn, các biện pháp giúp mở rộng quyền sở hữu đất nông thôn, và giáo dục chương trình công nghệ, dẫn đến tăng năng suất nông nghiệp.

Nhưng đòn bẩy lớn nhất chắc chắn sẽ đến từ chính sách thúc đẩy sự di cư liên tục và nhanh chóng từ nông thôn ra thành phố. Kể từ năm 2000, sự di cư từ nông thôn ra thành thị khỏang 15-20 triệu người mỗi năm. Đối với sự di cư tiếp tục theo tốc độ này, Trung Quốc sẽ phải tháo bỏ chính sách quản lý bằng hộ khẩu (hukou: tác giả chế từ mới), nó làm hạn chế thị trường lao động linh hoạt của công nhân nghỉ tết hằng năm (tethering, tác giả lại tự chế từ mới từ tết của Việt Nam) và những tiện ích của họ đối với nơi họ sinh ra.

Thúc đẩy việc làm thông qua các dịch vụ, và nâng mức lương thông qua hỗ trợ nâng cao cho lao động nông thôn, sẽ là một chặng đường dài để Trung Quốc nâng cao thu nhập cá nhân, bây giờ Trung Quốc đang phấn đấu để đạt 42% GDP, trong khi đó đối với Hoa Kỳ con số này là 50%. Nhưng sự tăng trưởng cao hơn nữa của thu nhập người lao động sẽ là cần thiết để kích thích tiêu dùng ở khu vực tư nhân. Những nỗ lực lớn để chuyển từ tiết kiệm chi tiêu sang tiêu dùng cũng rất cần thiết.

Ý tưởng thứ ba của chương trình nghị sự kích thích tiêu dùng trong kế họach mới – là sự cần thiết phải xây dựng một mạng lưới an toàn xã hội để giảm bớt nỗi sợ hãi của người dân hướng đến tiết kiệm phòng ngừa. Cụ thể, có nghĩa là an sinh xã hội, trợ cấp hưu trí tư nhân, y tế và bảo hiểm thất nghiệp – một kế hoạch tồn tại trên giấy vì đang trong tình trạng thiếu kinh phí một cách trầm trọng.

Ví dụ, trong năm 2009, ở Trung Quốc, kinh phí cho hưu trí – bảo hiểm xã hội quốc gia, tiền trợ cấp nghỉ hưu cho chính quyền địa phương, và lương hưu khu vực tư nhân - tổng cộng chỉ 2.4 nghìn tỷ nhân dân tệ (khỏang 364 tỷ đô la).
Khỏang tiền này tính ra trung bình thì mỗi công nhân Trung Quốc về hưu chỉ nhận được 470 đô la Mỹ cho phúc lợi hưu trí suốt đời. Quá thấp để tự hỏi rằng làm sao các gia đình người Trung Quốc không tiết kiệm cho tương lai trong nỗi sợ hãi. Kế hoạch mới của Trung Quốc cần phải khắc phục sự thiếu hụt này một cách nhanh chóng.

Sẽ có nhiều việc để làm hơn trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 cho ba vấn đề chính trên của chính sách kích thích tiêu dùng. Kế hoạch mới tập trung vào phát triển tăng tốc của một số ngành công nghiệp chiến lược mới nổi - từ năng lượng công nghệ sinh học và năng lượng thay thế đến vật liệu mới, công nghệ thông tin thế hệ mới - cũng là đáng chú ý.

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh vào người tiêu dùng Trung Quốc có thể sẽ là vấn đề chủ chốt của kế hoạch mới - đủ, theo ý kiến của tôi, để thúc đẩy tiêu dùng cá nhân như là một phần của GDP của Trung Quốc, thì Trung Quốc phải cố tăng con số quá nhỏ hiện nay khoảng 36% để lên đến 42% -
45% vào năm 2015. Trong khi con số ấy vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, dù sao sự gia tăng cũng sẽ đại diện cho một bước quan trọng đối với Trung Quốc trên con đường tái cân bằng.

Nó cũng sẽ là một sự thúc đẩy rất lớn cho các đối tác thương mại lớn của Trung Quốc - không chỉ những người ở Đông Á, mà còn những nền kinh tế châu Âu và Mỹ đang còn trong tình trạnh tăng trưởng hạn chế sau khủng hỏang. Thật vậy, kế họach 5 năm lần thứ 12 có thể sẽ châm ngòi câu chuyện tiêu thụ lớn nhất trong lịch sử hiện đại.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay khó có thể yêu cầu nhiều hơn nữa.

Nhưng có một nghịch lý: trong việc chuyển đổi sang kế họach năng động, tiêu thụ nhiều hơn, Trung Quốc sẽ giảm tiết kiệm thặng dư của họ và rẻ sang con đường thâm hụt ngân sách liên tục của các nước khác như Mỹ. Khả năng tái cân bằng toàn cầu như vậy không đối xứng - với Trung Quốc đang là người dẫn đầu và là cổ xe ngựa thúc đẩy phát triển thế giới thì lại bị kéo chân lại – nên có thể sẽ là hậu quả nghiêm trọng không lường trước được của kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của trung Quốc.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 13h52', ngày thứ Sáu, 25/02/2011

Thursday, February 24, 2011

THẬT ĐAU LÒNG!

Đầu tháng 6/2010 tôi có viết bài về giá xăng dầu của chúng ta đang cao hay thấp so với thế giới, với cái tựa: Khi độc quyền kinh doanh là một sự tự nhiên (1). Một phép tính so sánh giữa giá xăng dầu của ta và của Mỹ lúc ấy, thì giá xăng của ta cao hơn giá xăng của Mỹ ở tiểu bang đắt giá nhất nước Mỹ là California tới 4850VNĐ tương đương với 25cents USD thời giá lúc ấy. Trong đó, giá xăng nước Mỹ tại California đã có lãi cho doanh nghiệp và nhà nước là 12cents để cho việc xây dựng và tu bổ giao thông nước Mỹ rồi. Hơn thế nữa với thu nhập bình quân đầu người nước Mỹ lại cao gấp 30 lần so với ta. Nhưng hệ thống giao thông nước Mỹ lại là số 1 thế giới, trong khi của ta là ổ gà, ổ voi, lô cốt và ngập úng khi thuỷ triều lên, nhưng lại gọi là "triều cường". Giao thông nghẽn tắc vì thiếu tầm nhìn trong quy hoạch.

Sau một thời gian gắng gượng để không thể gượng được nữa vì sáng nay xem tin chào buổi sáng trên VTV1, thì Daklak không có dầu, xăng để bán cho nông dân trồng cà phê, tiêu, ca cao vì công ty xăng dầu miền Trung, là công ty chịu trách nhiệm đến 60% nhu cầu xăng dầu của tỉnh, không cung cấp đủ xăng dầu cho nông dân. Khi vào trang web của tỉnh Daklak thì thấy thông tin rằng 49 đại lý xăng dầu trong tỉnh ghim xăng dầu chờ tăng giá! Trong khi hạn hán sắp tới, ai đã từng sống ở Daklak, sẽ thấy rằng mùa tưới tiêu sau tết với cây cà phê rất cần thiết để cho ra sản lượng. Thật đau lòng cho nông dân.

10h sáng hôm nay bất ngờ thông báo tăng giá xăng dầu đến một tỷ lệ kịch trần trong lịch sử tăng giá xăng dầu từ trước đến nay. Với xăng A92 tăng 2.900/lít tương đương với 17.7% mỗi lít xăng. Còn với dầu Diesel tăng 3.550VNĐ/lít, tương đương với 24.1% mỗi lít. Dầu hoả thì tăng thêm 3.100VNĐ/lít, tương đương với tăng 20.5% mỗi lít. Lại thật đau lòng cho toàn dân.

Chỉ mới cách đây chưa được nửa tháng chính phủ đã phá giá đống tiền cũng với một tỷ lệ chưa từng có trong lịch sử sau ngày cỡi trói. Sự phá giá đó đã làm cho chỉ số CPI tháng 02/2011 này tăng 2.09%. Nó góp phần làm tăng lạm phát chỉ trong 2 tháng đầu năm 2011 lên đến con số 3.87%. Trong khi con số báo cáo của chính phủ trước Quốc hội cuối năm ngoái là sẽ giữ lạm phát năm 2011 này chỉ 7%. Như vậy chỉ mới 2 tháng đầu năm tốc độ lạm phát trong năm đã chiếm hơn 50% chỉ tiêu mà chính phủ mong muốn. Cũng thật đau lòng cho chính phủ và quốc hội.

Qua câu chuyện tăng giá xăng dầu và phá giá đồng tiền trong đầu năm Tân Mão có mấy vấn đề cũng đau lòng không kém, cần phải phân tích để thấy cách điều hành tiền tệ và giá cả của các think tanks rất không khoa học:

Thứ nhất, khi tăng không ai tăng giật cục một tỷ lệ quá lớn như năm nay. Tăng cao như vậy, phản ứng của thị trường sẽ là sự trả đủa thực sự rõ ràng và cuối cùng là người dân nghèo và công nhân viên chức sống bằng lương - chỉ bằng một tô phở của các "đại gia" ăn trên ngồi trốc - sẽ gánh những sự thật trần trụi đau lòng và hậu quả khó lường.

Thứ hai, khi đã tăng xăng dầu hay phá giá đồng tiền cần phải tuyệt đối bí mật. Nhưng qua lần này, trước tết hầu hết ai cũng biết sẽ có sự phá giá đồng bạc và tăng giá xăng dầu. Nên sẽ làm cho các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và xăng dầu vụ lợi trong việc này. Lại thêm cho tung ra 132 nghìn tỷ tiền mới trước tết cho các ngân hàng, với cái gọi là "đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng", để dẫn đến những hiện tượng ghim vàng, đô la và xăng dầu chờ ngày phá giá, tăng giá để hưởng lợi, và góp phần cho lạm phát kịch trần. Cuối cùng cũng chỉ có dân nghèo và công nhân viên lãnh hậu quả đau lòng, khi cầm đồng lương lãnh ra không biết tiêu ra sao để có thể tồn tại, mà không cần sống đúng nghĩa.

Thứ ba, đối với mỗi quốc gia, chiến lược làm giá xăng dầu và giá ô tô có khác nhau hòng kích thích sử dụng phương tiện giao thông công cộng để giải quyết vấn đề giao thông phân phối và tiết kiệm trong chi tiêu. 

Ví dụ như Singapore, một đảo quốc nhỏ chỉ bằng 1/3 Sài Gòn cả về diện tích và dân số, nhưng mật độ dân số của họ gấp rưởi của Sài Gòn. Nên họ có chiến lược tiết kiệm đất đai để không có nạn kẹt xe. Họ đưa ra chiến lược giá ô tô và xăng dầu cao gấp nhiều lần so với ta. Nhưng không vì thế mà làm một bài toán so sánh với ta như một bài báo đăng trên trang diễn đàn kinh tế.

Nếu thực sự đất nước chúng ta cần có chiến lược ấy, thì quốc hội và chính phủ phải soạn thảo ra hiến pháp và pháp luật qui định rõ ràng, chứ không nên làm việc tăng giá với một tỷ lệ kịch trần và giật cục như thế, sẽ gây ra nhiều hệ luỵ cho dân rất đau lòng.

Thứ tư, không hiểu vì nguyên nhân gì, mà chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng đầu năm Tân Mão mà có đến 3 cuộc tấn công của các bộ ngành nhà nước đẩy giá cả thị trường lâm vào cảnh khốn cùng. 11/02/2011 phá giá đồng tiền 9.3%. 24/02/2011 tăng giá nhiên liệu từ 17% đến 24%. và ngày 01/3/2011 tới đây tăng giá điện lên hơn 15%. Kiểu tăng như một dòng thác cuốn trôi tất cả. Lại thật đau lòng cho cả nhà nước lẫn dân đen.

Và cuối cùng là, khi chính phủ đã ra chủ trương họp khẩn đầu năm là chống lạm phát mạnh mẽ, với ổn định thị trường, kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ linh động và thận trọng... Nhưng cái cách tăng giá xăng dầu như hôm nay là không hợp lý. Nếu muốn chống lạm phát, thì chính phủ phải có lộ trình tăng giá xăng dầu cụ thể hơn. Cụ thể, nếu ai sử dụng phương tiện giao thông cho việc chuyên chở hàng hoá thiết yếu và hành khách thì được mua giá xăng dầu cũ. Nếu các phương tiện giao thông dành cho di chuyển đi làm riêng của bản thân, đi du lịch, v.v... thì phải chịu giá tăng xăng dầu như đãtăng. Chỉ có như thế thì giá hàng hóa nhu yếu phẩm hằng ngày mới không tăng giá. Và lạm phát mới được kềm chế.

Trong khi đó, tất cả các động thái sau tết nguyên đán của nhà nước là luôn như thợ đụng, mà không có lộ trình một cách khoa học cho việc đại sự quốc gia.

Lẽ ra chính phủ phải đưa ra giải pháp buộc các tổng công ty, tập đoàn của nhà nước phải bán USD cho ngân hàng trước khi đưa ra biện pháp có nên phá giá đồng Việt Nam vì thiếu hụt ngoại tệ hay không? Nhưng chính phủ lại quyết định ngược là phá giá đồng tiền trước, rồi sau khi phá giá vẫn không có khả năng kềm chế giá USD leo thang, thì lúc đó, hôm nay mới ra quyết định buộc các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước phải bán tất cả các nguồn ngoại tệ cho ngân hàng. Một cách làm không khoa học và thợ nhiều hơn thầy. Với cách làm việc này thì hậu quả sẽ do ai chịu? Thật đau lòng cho chính phủ.

Đã thế, do cách làm không khoa học, hôm nay chính phủ lại ra một quyết định trở về thời kỳ bao cấp là cấm thị trường tự do buôn bán vàng miếng. Tiến tới trên thị trường không còn sử dụng, buôn bán vàng miếng. Thật đáng buồn. Sau hơn 20 năm cỡi trói, hôm nay lại quay về chỗ cũ. Cái chỗ mà cách đây 21 năm những Quốc phụ nước Việt đã công nhận mình sai.

Có phải chăng khi độc quyền kinh doanh là một sự tự nhiên, thì chính các tổ chức kinh tài độc quyền ấy đủ mạnh để quyết định dùm cho các chính khách vì lợi nhuận của riêng họ?

Có phải chăng khi sở hữu chính trị được quy định độc quyền trong hiến pháp, thì các chính khách có quyền làm như thợ đụng, không có lộ trình khoa học, mọi sai lầm của chính khách không có ai chịu trách nhiệm, và lúc đó người dân chỉ biết than trời?

Thật đau lòng,

Tư gia, 21h49', ngày 24/02/2011

THỰC PHẨM, MỘT VẤN ĐỀ CẦN SUY XÉT Ở BẮC HÀN


Bài viết của Christopher R. Hill, một cựu trợ lý ngoại trưởng về Đông Á, đã từng là Đại sứ Mỹ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia, và Ba Lan, đặc phái viên Mỹ tại Kosovo, một nhà đàm phán  Hiệp định Hòa bình Dayton, và là nhà lãnh đạo đàm phán của Mỹ với Bắc Hàn giai đoạn từ năm 2005 đến 2009. Ông bây giờ là Hiệu trưởng Korbel School of International Studies thuộc University of Denver.

Denver - Gặp gỡ bất kỳ người Hàn Quốc nào có tuổi, và bạn tìm hiểu về mùa lúa mạch, bắt đầu vào tháng Hai kéo dài qua những tháng lạnh của mùa xuân cho đến ngày đầu tiên của vụ thu hoạch lúa mạch mùa đông. Rất ít người Nam Hàn nhớ những năm tháng túng quẩn nữa, nhưng đối với Bắc Hàn, đói ở nông thôn trong thời gian này của năm là rất thực tế.

Trong những năm qua, Bắc Hàn đã được các nguồn thực phẩm chủ yếu từ bên ngoài, thông qua hoặc hỗ trợ lương thực trực tiếp (đối với các vấn đề cấp cứu) hoặc gián tiếp cung cấp phân bón. Nhưng năm nay, với sự gia tăng tức giận và không còn kiên nhẫn của Hàn Quốc đối với chế độ Bắc Hàn, thực phẩm và phân bón là đáng lo ngại. Và một số nhà phân tích tại Seoul tin rằng một loạt liên tiếp biến cố chính trị tại Bình Nhưỡng, kết hợp với thiếu lương thực ở nông thôn, có thể là quá nhiều thách thức để chế độ Bắc Hàn xử lý.
 
Mười hai tháng qua đã thấy một số trong những hành vi tàn bạo nhất của Bắc Triều Tiên trong nhiều thập kỷ. Trong tháng ba năm 2010, một tàu ngầm của Bắc Triều Tiên phóng ngư lôi một con tàu của Hàn Quốc trên biển, làm chết 46 thủy thủ - và làm chìm bất kỳ triển vọng sớm tái tục đàm phán để thực hiện cam kết năm 2005 về việc Bắc Triều Tiên phải loại bỏ tất cả các chương trình hạt nhân. Những lời công kích và những hành động chống lại Nam Hàn của Bắc Triều Tiên liên tục tiếp diễn, và vào tháng mười một - một hòn đảo của Hàn Quốc nằm dọc theo đường biên giới với Bắc Hàn, đã từng là biên giới Bắc-Nam kể từ khi hiệp ước đình chiến năm 1953 – lại bị tấn công.

Gần đây, nhà nước Bắc hàn tự hào giới thiệu một trang thiết bị mới công nghệ cao, hiện đại  làm giàu uranium. Nhưng theo các nhà khoa học Mỹ, những người được mời để xem nó, thì lại trái ngược, trang thiết bị này với công nghệ plutonium của thời xưa cũ, nó xuất hiện như là một trình độ phát triển khoa học kỹ thụât (state-of-the-art), do đó nó củng cố nghi ngờ rằng Bắc Triều Tiên đã không quan tâm thực sự trong việc thực hiện trách nhiệm giải trừ quân bị hạt nhân. Khi được hỏi tại sao họ không báo cáo cơ sở này trong tuyên bố của họ về chương trình hạt nhân, các quan chức Bắc Triều Tiên trả lời vui vẻ - và ngớ ngẩn - rằng nó mới được xây dựng từ sau khi sự thất bại các cuộc đàm phán hạt nhân vào năm 2008.

Bắc Hàn nói dối bằng văn bản không chỉ đối với Hoa Kỳ - việc họ đã làm nhiều lần trong quá khứ - mà còn dối với cả Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Hàn Quốc. Vậy mà người Trung Quốc đã thúc giục Mỹ và những nước khác để khởi động lại các cuộc đàm phán hạt nhân, mặc dù Trung Quốc cũng biết rằng Bắc Triều Tiên đã phản trắc làm nguy hại đến tiến trình đàm phán.

Trong khi đó, ở nông thôn Bắc Hàn thể hiện rất rõ rệt, chế độ đã gần như không đầu tư gì. Không quản lý được nạn lũ lụt thường xuyên, các làng mạc luôn ngập trong mùa mưa bão, nhiều như chúng đã từng xảy ra một ngàn năm trước đây. Hệ thống thủy lợi vẫn còn lạc hậu và không đủ để đối mặt với những thăng trầm của lượng mưa trên bán đảo Triều Tiên, nên thường hạn hán và cằn cỗi. Sự vô trách nhiệm đã đẩy người dân Bắc Hàn vật vờ bên bờ sự sống - và họ chỉ còn biết nương nhờ vào bàn tay thương yêu của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Nam Hàn.

Đối với người Nam Triều Tiên, việc cứu đói Bắc Triều Tiên, là những bạn bè, anh em dòng họ, sẽ là một quyết định khó khăn hơn nhiều so với những quốc gia khác chỉ nhìn Bắc Hàn dưới góc độ của vấn đề an ninh từ xa. Nhiều người Bắc Triều Tiên đã bị suy dinh dưỡng, trọng lượng cơ thể và chiều cao thấp hơn đáng kể so với Hàn Quốc. Theo các tổ chức phi chính phủ và những người làm công tác nhân đạo, nhiều trẻ em Bắc Triều Tiên đang có dấu hiệu suy nhược thần kinh vì thiếu các vitamin thiết yếu.

Nam Triều Tiên ngày càng tin rằng việc thống nhất nước nhà sẽ không thực hiện được trong tương lai xa vời – dù điều này ắc phải đến sớm hay muộn (có lẽ ngay cả trong thập kỷ này) - miền Bắc sẽ sụp đổ và người dân bị suy dinh dưỡng sẽ trở thành công dân tương lai của một nước Cộng hòa
Hàn Quốc thống nhất. Vì lý do này, những vấn đề phải đối mặt với dư luận Hàn Quốc, là quyết định có nên giúp đỡ Bắc Hàn bằng sự trợ giúp thực phẩm hay không là không dễ dàng, thực vậy, đây là một cuộc phân ly đau đớn.

Việc phân chia bán đảo Triều Tiên 65 năm trước là một trong những sự kiện lớn nhất - và kéo dài nhất - bi kịch nhất của Thế chiến thứ hai gây ra. Không có ai mơ ước rằng một đường vẽ trên vĩ tuyến 38 với mục đích chiến thuật khi Nhật Bản đầu hàng Liên Xô và Mỹ lại trở thành một vết sẹo trên bán đảo Triều Tiên lại tạo ra hai quốc gia riêng biệt như thế. Nhưng nó đã được thực thi, và, trong bối cảnh chiến tranh Triều Tiên, nét vẽ ấy đã hình thành - và vẫn tồn tại đến hôm nay - một trong những biên giới được tăng cường vũ trang dữ dằn nhất trên địa cầu.

Những người dân hai miền trên bán đảo Triều Tiên có quyền thoả thuận lịch sử để xác định tương lai của bán đảo của họ, bao gồm cả sự thống nhất để chọn lựa. Làm thế nào quá trình này ngày càng có khả năng hiện thực để tạo ra những kết quả to lớn về chính trị và an ninh cho khu vực. Liệu Trung Quốc có chấp nhận một bán đảo thống nhất dưới một đồng minh của Mỹ? Liệu Hoa Kỳ có biện pháp trấn an Trung Quốc? Một Triều Tiên thống nhất sẽ ảnh hưởng đến thái độ của Nhật Bản như thế nào?

Nhưng những quyết định thật sự - và những hậu quả - chính phủ tại Seoul sẽ gánh lấy. Có nên viện trợ lương thực để đảm bảo sự tồn tại của một nhà nước mà ở đó nhà nước cai trị các công dân của họ tệ hại nhất thế giới? Nếu như vậy, và nếu từ chối viện trợ lương thực thì nạn đói sẽ làm chế độ Bắc Triều Tiên không thể chịu đựng được, nhưng Cái gì có thể quyết định được giá trị cho mối quan hệ đồng bào của người dân hai miền trong một đất nước thống nhất sau này?

Trong những tuần tới, Chính phủ Hàn Quốc sẽ đối đầu với một trong những lựa chọn khó khăn nhất mà bất kỳ chính phủ nào trên thế giới phải đối mặt: Liệu các chi phí ngắn hạn giúp đói cho người dân Bắc Hàn, vì cuộc sống của con người là giá trị dài hạn và lợi ích tiềm năng tương lai (về điều kiện sống của con người) hay một nạn đói – có thể gây ra sự sụp đổ của chính quyền Bắc Triều Tiên.

Bản quyền: Dự án Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 9h48', ngày thứ Năm, 24/02/2011

Wednesday, February 23, 2011

LIỆU CHIẾN TRANH TIỀN TỆ CÒN BAO LÂU?

Vào khoảng thời gian Việt Nam bắt đầu làm lễ 1000 năm rồng bay Hà Nội, lúc ấy báo chí trong nước cho rằng cuộc chiến tranh tiền tệ giữa đồng Nguyên và đồng đô la mới bắt đầu. Tôi có viết một bài Cuộc chiến tiền tệ bắt đầu hay đến giai đoạn kết thúc? Bây giờ ngồi nhìn lại một số sự kiện đã diễn ra trong hội nghị G20 cuối tuần qua và những biến động của Trung Quốc từ kinh tế đến xã hội để có cái nhìn đúng về sự việc này.

Trên bình diện toàn cầu, khủng hoảng kinh tế toàn cầu là một điều tất nhiên của quy luật kinh tế thị trường do mất cân bằng giữa cung và cầu xuất phát từ lòng tham của con người. Trong một đơn vị của xã hội là gia đình cũng vậy, có những thời điểm mà lòng tham của các thành viên trong gia đình đòi hỏi nhu cầu vượt quá khả năng làm ra của cải thì dẫn đến nợ nần. Nhưng khi dư giả tiền bạc, nếu lòng tham vật chất ổn định, mà lòng tham tinh thần đòi hỏi thì khủng hoảng và xáo trộn cũng xảy ra. Và ở mức độ một xã hội cũng vậy. Chỉ khi nào cung và cầu nằm trong trạng thái cân bằng lúc ấy kinh tế, chính trị, xã hội, etc... mới không rơi vào khủng hoảng và xáo trộn.

Thế nhưng đã là thế giới loài người thì bản chất của loài người sẽ không cho phép ngừng nghĩ những tham vọng về tư hữu và quyền lực. Đó là động lực của sự phát triển, mà cũng là nguyên nhân đẩy xã hội loài người đi đến chỗ tự chôn mình: Kinh tế khủng hoảng, môi trường ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, etc... dù đang ngồi trên những chiếc Limousine hay phải cuốc bộ cũng không thể hơn nhau khi các nguồn nhu cầu sống không còn.

Quay lại vấn đề, thực chất cuộc chiến tiền tệ ngấm ngầm xảy ra từ 2003, lúc mỗi ounce vàng còn chưa tới 400USD/oz. Trước đó, tháng 02/2001 mỗi ounce vàng chỉ có giá 255.50USD/oz. Cũng thời gian đó, giá dầu chỉ 20USD/thùng. Thế mà hôm nay vàng đã có giá 1400USD/oz, và dầu đã 100USd/thùng! Bảy năm cho một tiến trình làm vàng tăng giá 4 lần, dầu tăng 5 lần. Trong 7 năm qua, có thể chia ra làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn manh nha bằng những cuộc bình thiên hạ của Hoa Kỳ thông qua chiến tranh Iraq và truy lùng Al Quaeda. Một bên là thế giới Hồi giáo được sự tiếp tay của một số nước lớn để tạo ra thế giới đa cực trở lại, sau sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô cũ. Và một bên là phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ muốn duy trì sự cân bằng cán cân nhiên liệu toàn cầu và vị thế đại ca của mình với thế giới. Giai đoạn này kéo dài khoảng từ 2003 đến 2007.

Đến 2008 thì bắt đầu một giai đoạn khác rõ ràng hơn, không che đậy, mà nói thẳng với nhau vì sao? Và phải làm sao để trật tự thế giới trở lại như cũ. Bằng vào cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu phát động từ Hoa Kỳ đã làm nháo nhào toàn thế giới. Với chỉ hơn 300 triệu dân trong tổng số hơn 6 tỷ người trên hành tinh, nhưng Hoa Kỳ tiêu thụ đến 60% tổng sản lượng làm ra hằng năm của toàn cầu. Nên Hoa Kỳ mà hắt hơi thì cả thế giới thiếu oxy để thở.
 Biểu đồ 1: Neo tỷ giá đồng Nguyên thấp từ 01/2007 đến 09/2009

Trong biểu đồ 1 ở trên cho ta thấy: Sự neo đậu tỷ giả đồng Nguyên của Trung Quốc vào đồng đô la Mỹ để thực hiện chiến lược giá rẻ trong xuất khẩu hàng hoá ra toàn thế giới, để thực hiện quyền lực mềm và hình thành một thế giới đa cực không chỉ chạy đua vũ trang như thời chiến tranh lạnh, mà còn là cuộc chiến tranh không đổ máu: chiến tranh tiền tệ.

Qua nhiều lần thương lượng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong 4 năm qua về tỷ giá giữa đồng đô la Mỹ và đồng Nguyên, nhưng vẫn bất thành. Đến giờ này Hoa Kỳ vẫn là cường quốc về chiến lược kinh tế tài chính thế giới. Với gói kích thích kinh tế 800 tỷ lần 1 vay từ Trung Quốc, Hoa Kỳ đã đẩy Trung Quốc lạm phát trong năm 2008 lên đến hơn 8%. Và hôm nay đang thực hiện gói 600 tỷ lần 2 từ món vay của FED. Họ đã làm một việc mà các nhà kinh tế lỗi lạc gọi là xuất khẩu lạm phát sang các nước mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc rất thành công. Khi làm tình trạng làm phát của Trung Quốc trở lại thời kỳ 2005 ở biểu đồ 2.

Biểu đồ 2: Tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc từ 01/2002 đến 12/2010

Nhưng biểu đồ 2 cũng cho ta thấy rằng: Trung Quốc họ đủ khả năng để kềm chế lạm phát mỗi khi nó bùng lên, ngay cả trong lúc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra vào đỉnh điểm 2008, con số này còn cao gấp đôi hiện tại.

Cho nên, tại diễn đàn kinh tế thế giới G20 cuối tuần qua, cả thế giới đều lên án việc Trung Quốc neo giá đồng tiền. Không ú mở - bộ trưởng tài chính Mỹ Timothy Geithner - đã thẳng thừng: "Họ vẫn cứ còn khuynh hướng nặng nề chống lại việc phải nâng giá đồng tiền của họ". Còn chủ tịch FED - Ben Bernanke - thì thân tình hơn: "Việc duy trì giá đồng tiền thấp của một số quốc gia đã đóng góp cho một mô hình chi tiêu toàn cầu không cân bằng và không bền vững".

Trong khi đó, IMF lại cho rằng đồng Nguyên trong tương lai sẽ là một đồng bạc, mà dùng để làm đồng dự trữ quốc tế.

Biểu đồ 3: Tỷ giá đồng Nguyên với đồng Đô la Mỹ trong 3 tháng qua. Trước khi Trung Quốc nâng giá đồng Nguyên, họ đã làm nó thấp xuống!

Ở biểu đồ 3, ta lại thấy, mặc dù, đồng Nguyên đã bắt đầu thực hiện sự tăng giá lên 1%, trong tiến trình tăng giá 5% trong năm nay như chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã hứa, trong lần gặp mặt với tổng thống Obama lịch sử vừa qua. Nhưng trước khi tăng giá đồng Nguyên như đã hứa, họ đã làm cho nó hạ giá xuống. Lời nói thoảng gió bay của các chính trị gia là vậy.

Song sự điều chỉnh này nằm trong tiến trình chống lạm phát và giúp các công ty Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn. Bằng chứng là vừa qua hạ viện Mỹ phải chống lại thương vụ mà công ty dầu khí quốc doanh của Trung Quốc mua lại hãng dầu khí Unocal của Mỹ. Cho thấy rằng, trong việc điều chỉnh tỷ giá đồng Nguyên này có chừng mực và rất chặt chẽ. Nó làm chiến lược làm đồng Nguyên trở thành đồng dự trữ quốc tế như các đồng tiền mạnh khác là có cơ sở.

Thế rồi, tình hình Trung Đông và Bắc Phi làm đảo lộn tất cả. Cuối năm 2010 và tháng đầu năm 2011, giá vàng, giá dầu đang hạ nhiệt, tức thì lại nóng lên. Đến hôm nay, câu chuyện Libya làm cho đất nước này mất đi mỗi ngày 22% của sản lượng 1.6 triệu thùng dầu xuất ra. Dầu lên cơn nóng giá. Kỳ vọng dầu sẽ tăng trên 100usd/thùng trong tuần và tháng này là trong hiện thực. Dầu làm cho lòng tin nhân loại đổ dồn vào nơi trú ẩn an toàn là vàng. Vàng đùng đùng tăng giá, như đã tiên lượng của tôi cách đây 2 ngày. Và giá vàng chuẩn bị lập kỷ lục mới.

Hôm nay bộ trưởng năng lượng Arab Saudi lên thông báo rằng nước ông sẽ mở thêm sản xuất để lấp đầy chỗ trống mà Libya đã bỏ mất. Liệu họ có thực hiện được điều này? Khi năm qua Trung Quốc đã vượt qua Mỹ về việc tiêu thụ xăng dầu. Nếu dầu tăng giá kéo dài, mà Trung Đông không cung ứng kịp thời thì Trung Quốc sẽ là nước chịu nhiều thiệt hại nhất.

Từ 3 năm qua, phương Tây đã dùng hầu như hết tất cả các chiêu để trừng trị bằng thương mại, tiền tệ, hàng dỏm giả, phá giá đồng usd, xuất khẩu lạm phát, chạy đua vũ trang, bao vây đường tiếp viện dầu, lập phòng tuyến quanh Trung Quốc và kể cả chuyện trao giải Nobel hòa bình cho Lưu Hiểu Ba để tạo ra mầm móng chính biến cuộc cách mạng hoa Nhài cũng chưa làm suy suyển Trung Quốc.

Liệu có câu chuyện ngoại giao bóng bàn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong cuộc chiến tiền tệ này không? Hay là một cuộc chiến thực sự?

Nếu cuộc chiến này là thực sự thì, cuộc chiến này còn bao lâu nữa?Và trong khi chờ đợi cuộc chiến này tàn, thì có bao nhiêu cuộc cách mạng xã hội hoa Nhài như Tuynidi, Ai Cập và đang là Libya? Càng nghĩ, càng thấy rối.

Tư Gia, 23h38', ngày thứ Tư, 23/02/2011

Tuesday, February 22, 2011

LIỆU TRUNG QUỐC CÓ PHẢI LÀ MỘT NGÂN HÀNG THẾ GIỚI MỚI?

Bài viết của 2 tác giả Teresita Cruz-del Rosario và Phillie Wang Runfei: Is China the New World Bank?

Teresita Cruz-del Rosario là một giáo sư thỉnh giảng tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu của Singapore. Phillie Wang Runfei là một trợ lý nghiên cứu tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu.

SINGAPORE - Người Trung Quốc ở khắp mọi nơi. Hay chính xác hơn, tiền của Trung Quốc ở khắp mọi nơi, đặc biệt là nhờ vào Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB: China Development Bank) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (CEIB:
China Export-Import Bank). Vì hai cơ quan này chịu trách nhiệm về tất cả các nguồn tài chính ở nước ngoài của Trung Quốc đang tạo sóng trên toàn thế giới.

Theo Thời báo tài chính, Trung Quốc cho vay giai đoạn 2008-2010 đã vượt qua sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới khoảng 10 tỷ USD. Đến cuối năm 2010, CDB mở rộng đến hơn 90 quốc gia, có tổng số nợ đạt 141.3 tỷ USD.

Vì vậy, có phải là Trung Quốc đang định hình lại bản đồ hỗ trợ phát triển? Trả lời ngắn gọn là có.

Hãy xem xét những điều sau đây: Zambia, nơi có trữ lượng đồng và than đá cao, Trung Quốc đã đầu tư lên đến 7,7% GDP của nước này. Tại Ả Rập Saudi, Tổng công ty xây dựng đường sắt của nhà nước Trung Quốc đã xây dựng dự án đường sắt Al-Mashaaer Al-Mugadassah để giảm bớt áp lực giao thông trong cuộc hành hương Hajj hàng năm tới Mecca. Thậm chí còn có cả những kế hoạch cho một đường cao tốc Bắc Cực để tạo thuận lợi thương mại trên toàn khu vực Bắc cực.

Với các lân bang, một dự án đường sắt Tây Tạng Himalaya để liên kết đến Khasa - biên giới với Nepal - hiện đang được xây dựng, nằm trong những kế hoạch mở đường đến Kathmandu, thủ đô Nepal. Ở Campuchia, Trung Quốc thay thế Nhật Bản cung cấp viện trợ lớn nhất và vượt cả Ngân hàng Thế giới và danh mục cho vay của Ngân hàng Phát triển châu Á, họ đã đóng góp 260 triệu USD hỗ trợ trong năm 2009. Năm ngoái, Trung Quốc đã ký 14 hiệp định song phương với Campuchia, với tổng trị giá 1,2 tỷ USD, để tài trợ cho nhiều hạng mục từ các kênh thủy lợi cho đến đồng phục quân đội Campuchia.

Các chính quyền được tài trợ hài lòng với cách tiếp cận viện trợ của Trung Quốc. Chỉ có một điều, là sự vắng mặt đáng chú ý của các chuyên gia tư vấn với giá đắt được tính vào cái gọi là "hỗ trợ kỹ thuật" trọn gói, một thực tế bất cập đã nhận được những lời chỉ trích hướng vào nhiều cơ quan tài trợ của Trung Quốc.

Thứ hai, viện trợ của Trung Quốc không yêu cầu sự đồng hành với các quan chức cấp cao trong việc thực thi những nhiệm vụ tiền dự án cho một loại hình du lịch phát triển làm tàn phá văn hóa của các địa phương đối tác, mà họ chỉ cần đối tác địa phương phải đi cùng họ trên chuyến du khảo tiết kiệm của họ.

Thứ ba, viện trợ của Trung Quốc được phân phát khá nhanh chóng và không trịnh trọng, không có sự phô trương nặng nề với các cuộc đàm phán kéo dài và những tài liệu dự án đồ sộ, mà họ làm ngược lại cái hàm lâm bằng một cái gọi là "ngoại giao phong bì".

Thứ tư, Trung Quốc phân phát viện trợ mà không cần đòi hỏi điều kiện phù hợp như là: các biện pháp bảo vệ môi trường và kinh nghiệm của cộng đồng tham gia. Trong khi đó, loại hình viện trợ do Ngân Hàng thế giới làm việc miệt mài, nhiều cố vấn làm việc cật lực giữa các bên liên quan - kiểu như nhà máy thủy điện Nam Theun 2 của Lào – thì không cần sự viện trợ của Trung Quốc.

Mô hình viện trợ độc đáo của Trung Quốc là một trong những chiến lược chính mà học giả Trung Quốc Sheng Ding gọi là chiến lược "quyền lực mềm".
Ngoài việc cung cấp tín dụng rẻ và vốn vay ưu đãi, thì mục tiêu xuất khẩu toàn cầu là việc mà Trung Quốc đang làm.

Khi quan hệ kinh tế đã sâu sắc hơn, thì mối quan hệ văn hóa phát triển. Viện Khổng Tử đang mọc lên từ Sri Lanka tới Nigeria để thúc đẩy nghiên cứu về tiếng phổ thông. Bên cạnh các chương trình ngôn ngữ là các đợt du lịch Trung Quốc theo mùa với những màn biểu diễn nhào lộn. Đó là cách ve vãn toàn cầu bởi một chàng trai Trung Quốc khao khát cầu hôn.

Nhưng dấu hiệu đáng lo ngại về thực tiễn cho vay của Trung Quốc dường như không được quan tâm. Trung Quốc hỗ trợ tài chính gắn liền với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và khoáng sản. Các nhà môi trường lo lắng rằng nếu không có sự quan tâm đến môi trường trong việc cho vay của Trung Quốc, những khai thác không được kiểm soát có thể dẫn đến sự suy giảm tài nguyên.

Hơn nữa, các gói hỗ trợ Trung Quốc thường đi kèm với công nghệ Trung Quốc và người lao động, tức là xây dựng năng lực và cơ hội việc làm cho người dân bản địa bị hạn chế. Ví dụ, 750 công nhân Trung Quốc được chuyển đến Indonesia, cùng với 630.000 tấn thép, để xây dựng chiếc cầu Suramadu dài 5km nối thành phố Surabaya thuộc đảo Java đển đảo Madura.

Một lần nữa, sự cần thiết cho cơ chế công bố thông tin và minh bạch đã được nhấn mạnh. Trung Quốc không có tên trong nhóm đối tác các thành viên của Tổ Chức Phát Triển và Hợp Tác Kinh Tế (OECD: Organisation for Economic Co-Operation and Development) để Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC:
Development Assistance Committee), xuất bản báo cáo hàng năm về nguồn tài trợ toàn cầu từ các nước thành viên OECD. Cũng không có một cơ chế chung, như đã đề ra trong Tuyên bố Paris năm 2005 về hiệu quả viện trợ, mà có thể gắn kết viện trợ Trung Quốc với những chiến lược phát triển quốc gia, hoặc thiết lập một diễn đàn để phối hợp với các nhà tài trợ song phương và đa phương. Có rất nhiều lo ngại rằng viện trợ của Trung Quốc đang bắt đầu lồng lên như một kẻ điên cuồng (run amok).

Mối quan tâm này có thể sẽ gia tăng khi Trung Quốc nổi lên như một cầu thủ đang độ phát triển cực độ. Tuy nhiên, trong phần lớn, hỗ trợ của Trung Quốc được các đối tác  hoan nghênh hơn là lo sợ.

Những người thúc đẩy phát triển công bằng và toàn diện mong muốn được thấy viện trợ của Trung Quốc như một phần của các nhà cung cấp thuộc cộng đồng quốc tế liên kết được quy định bởi quyền sở hữu có trách nhiệm phối hợp. Điều này đòi hỏi các quy tắc công bằng và cởi mở, làm việc vì trách nhiệm chung, và các mục tiêu phát triển bền vững, tất cả đều đòi hỏi sự tham gia tích cực của Trung Quốc.

Trong một thế giới mệt mỏi vì những hiệu quả hạn chế của những chương trình phát triển tốt nhất mong làm giảm bớt đói nghèo đặc trưng từng khu vực. Vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc ở các nước trên thế giới đã cung cấp nhiều cơ hội để tái tạo lại cảnh quan viện trợ kinh tế và tài chính. Nhưng để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải có một kế hoạch, và Trung Quốc phải đóng một phần trong việc xây dựng nên kế hoạch đó.

Bản quyền: Dự án Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org
-----------------------------------------------------------------
Oài!!! dịch bài Singlish oải hơn dịch bài Afrilish hay Eurolish.
Nghe
Đọc ngữ âm

Từ điển - Xem từ điển chi tiết

BS Hồ Hải dịch – Asia Clinic, 11h36’, ngày thứ Ba, 22/02/2011

Monday, February 21, 2011

LÀM MỘT VÒNG ĐỂ NHẬN ĐỊNH CHƠI

 Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm. Giá vàng ngày 21/02/2011, ngày mà chú Sam nghỉ lễ để nhớ ơn Quốc Phụ George Washington của mình, nhưng tình hình kinh tế và chính trị toàn cầu đầy tin xấu
Tuần này mọi thông tin dồn dập đổ về. Nhưng toàn tin xấu, không những xấu cho chỉ bất kỳ nước nào, mà cho cả toàn cầu. Giấc ngủ bình yên khó lòng có được cho bất kỳ ai. Thôi thì làm một vòng điểm tin để có nhận định cho bà con một hướng đi đúng, hòng còn miếng cơm, miếng cháo trong lúc bấp bênh.

Sau các cuộc cách mạng của Tuynidi và Ai Cập thì Trung Đông và Bắc Phi vẫn nháo nhào với chuyện tức nước vỡ bờ, vì bao năm sống trong lầm than cơ cực với chuyện người trong nhà quản nhau mà còn hơn kẻ thù xâm lược đến bắt dân mình làm nô lệ. Câu chuyện Trung Đông Bắc Phi làm tắt đường chuyên chở nhiên lệu cung cấp cho toàn cầu, hăm dọa dầu xăng lên giá như lửa đổ vào một nồi áp suất đang sôi ùng ục.

Nhưng đâu chỉ có Trung Đông và Bắc Phi, gần nhà ta anh Ba cũng chẳng khá gì. Thặng dư mậu dịch giảm mạnh trong tháng 02/2011, so với tháng 12/2010, xuất khẩu của anh ba tăng 38%, nhưng nhập khẩu tăng đến 51%. Chỉ trong 2 tháng từ tháng 10/2010 đến tháng 02/2011 anh ba đã tăng lãi suất ngân hàng đến 3 lần. Họ quyết định tăng giá năng lượng lên đến 4%. Có đến 2 lần nâng dự trữ bắt buộc đồng Yuan trong chưa đầy 2 tháng đầu năm Mèo, để hòng chống lạm phát sau khi đã có những đầu tư sai lầm để hòng chạy theo tăng trưởng GDP. Chưa hết, câu chuyện không chỉ ngừng ở kinh tế, mà hôm nay lại manh nha cách mệnh hoa Nhài hay hoa Cứt lợn gì đó. Và cái cách của chính quyền anh Ba là luôn chuyên chính để giữ ổn định chính trị và bảo vệ quyền lợi cho giái cấp thời Vạn Lý Trường Chinh.

Chí Phèo - bồn cầu của anh Ba - cũng manh nha kiếm chuyện để xin tiền vì đói khát. Anh hứa hẹn tháng 3/2011 này sẽ bắn đì đùng làm anh em đồng bào phía Nam lo sốt vó, phải hối thúc Chí Phèo cần nhanh chóng thay đổi thái độ. Kể cũng hay, giàu chưa hẳn đã tốt, mà nghèo chưa hẳn đã thua. Chén kiểu mà đi đấm với muổng dùa thì chỉ có thiệt thân.

Bên kia bờ đại dương chú Sam - đầu tàu thế giới - cũng chẳng có thông tin nào tốt đẹp. Báo cáo cuối tuần qua của ông chủ nhà băng toàn cầu Ben Bernanke  rằng giá tiêu dùng tăng cao nhất tính từ tháng 10/2009 đến nay, và câu chuyện tung gói 75 tỷ đô vực nền khi tế Mỹ - như là một cách xuất khẩu lạm phát sang thế giới còn lại,  mà tôi đã có đề cập trong bài 600 tỷ USD và những gì?. Trong tuần này, các tin tức về niềm tin tiêu dùng, số liệu nhà ở xây dựng mới và bán ra, cũng như tỷ lệ thất nghiệp của chú Sam sẽ là những con số biết nói để làm xấu thêm tình hình kinh tế toàn cầu.

Phương Tây theo cái dớp thứ Sáu 13 - ngày mà Juda phản trắc, hay còn gọi là ngày của bữa tiệc cuối cùng (The Last Supper) - ai cũng sợ. Ở đâu không biết, nhưng đặc biệt là dân Pháp, đi máy bay không bao giờ chọn mua ghế số 13, càng không dám đi ngày 13 và thứ sáu. Và châu âu vẫn còn lom khom lo chuyện các thành viên ăn ở chưa có kỹ cương.

Chú Sam có cái linh động và rất thực dụng. Ngày nghĩ lễ của chú luôn hoặc cuối hoặc đầu tuần để cho dân chúng xả xì chét vì máy phải chạy hết công suất cả tuần, có dịp ăn chơi. Tuần này ngày sinh của Quốc phụ George Washington nhằm vào 22/02/1732 - người duy tâm còn gọi là ông có ngày sinh tứ dễ - Bốn con số 2, hai người Hoa gọi là dzì, đọc trại ra là dễ. Làm cái gì cũng dễ! Nên chú Sam làm đại ca bắt đầu từ ấy. Nhưng này 22 này lại trùng ngày thứ ba của một tuần mới. Chú Sam chuyển sang ngày nghỉ thứ hai - hôm nay 21/02/2011 - để cho dân chúng xả hơi. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm.

Thôi thì đó là chuyện Đông tây. Ta hãy nói chuyện Việt Nam, riêng tôi thì tôi rất ấn tượng năm con Mèo, dù Mèo gì tôi cũng quan tâm. Mèo năm nay thì quá đặt biệt. Mới mở hàng có 3 tuần mà cả thế giới với bao nhiêu sự kiện. Hôm nay tuy thứ hai, 21/02/2011, nhưng là một ngày đen đuổi cho Việt Nam. Chứng khoáng bắt đầu đỏ đèn vì mất niềm tin sau công bố những biện pháp thắt chặt trong năm của các think tanks, sau khi phá giá đồng bạc kịch trần vì chi tiêu sai quấy. Như tôi đã nhận định cuối năm qua. Câu chuyện cổ cánh của 2 sàn Sài Gòn và Hà Nội sẽ rớt không phanh. Đến lúc này, sàn Sài Gòn với 258 mã rớt giá, 13 mã đứng giá và chỉ 8 mã tăng giá làm nên một black day cho thị trường chứng khóan Việt Nam.
Chứng khoán đỏ đèn ngày thứ hai 21/02/2011 đen tối

HNX (Hà Nội): 96,56 điểm (giảm 5,6%, tương đương 5.73 điểm)mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 21/5/2010 (giảm 6.53%,10.57 điểm), về điểm số, là mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 7/6/2010: giảm 4.36% tương đương 6.88 điểm.

HSX(Sài Gòn): 483.68 điểm (giảm 4,02%, tương đương 20.24 điểm) mức giảm mạnh nhất về điểm số và tỷ lệ kể từ ngày 26/11/2009 (giảm 4.13%, 20.81 điểm)

Vàng thì mất định hướng, vì các tiệm vàng liên tục thay đổi giá. Ngay cả đầu tàu SJC cũng sáng nắng chiều mưa, không biết đâu mà lần.

Bây giờ kết lại: Trung Đông bắc Phi làm nghẽn đường tiếp nhiên liệu. Chú Sam nghỉ xả hơi xem động tịnh tình hình khi có nhiều tin xấu đang chờ do 2 đảng đang đổ lỗi cho nhau vì bế tắc ngân sách. Anh ba bấn loạn cả kinh tế và chính trị. Châu Âu bất ổn kinh tế các thành viên. Chí Phèo làm mình làm mẫy để xin tiền. Giá vàng giao chậm trong 4 tháng tới ở phiên giao dịch cuối tuần qua lên đến 1390usd/oz. Như vậy cái mốc 1400usd/oz là chuyện chỉ chờ chú Sam làm việc vào ngày mai, mà không có gì đắn đo suy nghĩ.

Cụ thể nhất là vấn đề sát sườn với người dân chỉ có chút ít phòng thân, tôi chỉ có một lời khuyên đơn giản: bất kỳ khi nào kể từ lúc này giá vàng trong nước ở dưới mức 38 triệu mỗi lạng, thậm chí dưới 38.5 triệu mỗi lượng thì múc vào đừng đắn đo suy nghĩ. Vì cái mốc 39 hay 40 triệu chẳng thấm là bao trong 1 hay 2 tuần kế tiếp.

Khuyên cũng chỉ là lời khuyên. Ai đọc blog của tôi cũng đã trưởng thành. Nên mọi quyết định phải tự chịu trách nhiệm cho mình. Ấy mới là sáng suốt.

 Update lúc 18h02' cùng ngày 21/02/2011: Giá vàng thế giới đã chọc thủng mức cản 1.400USD/oz đạt giúa 1.401.80USD/oz, sau khi tôi viết bài này đúng 67 phút.

Asia Clinic, 16h55', ngày thứ Hai, 21/02/2011
Xem thêm: http://www.cuanhcuem.net/2013/01/tong-hop-cach-chen-emoticons-threaded-comments-blogspot.html#ixzz2UfngJs3i Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial