Friday, April 29, 2011

DÀNH CHO 30/4/2011: MỘT TÀI LIỆU QUÝ VỀ LỊCH SỬ VIỆT

21h30 tối hôm qua, 28/4/2011, tôi xem trên chương trình VTV1 chiếu bộ phim tài liệu với chủ đề: "Chuyện những người ở lại". Phim nói về những nhân vật của nhóm thứ Sáu - có tên là nhóm thứ Sáu, vì họ họp nhau vào thứ Sáu mỗi tuần để sọan thảo, lập và đưa ra những dự án làm thay đổi cả tư tưởng lẫn hành động của những người cộng sản, và đưa đất nước ra khỏi đói nghèo như hôm nay - Họ là những con người trí thức, mà có người đã từng bị học tập cải tạo đến hơn 10 năm sau ngày thống nhất. Nhưng với tấm lòng yêu nước chân chính, họ đã ở lại để góp phần dựng xây đất nước. Trong số những nhân vật ấy, có một người đóng góp nhiều nhất, nhưng thầm lặng nhất, ông chỉ thóang qua với lời tri ân của một người trong nhóm thứ Sáu. Ông cũng là người mà, tôi đã có một thời quan hệ như người trong gia đình. Một bộ phim tài liệu rất nhân bản, nó đã làm tôi có ý tưởng để viết bài này nhân 36 năm thống nhất.

Vậy là đã tròn 3 con giáp sau ngày thống nhất đất nước. Ngày thống nhất, mà người ta, hôm nay vẫn dùng từ chưa đúng với tư tưởng hòa hợp dân tộc, bỏ qua chuyện cũ, hướng tới tương lai bằng cụm từ: “ngày giải phóng”. Vì đứng về thực tế cuộc sống sau 3 con giáp thống nhất Bắc Nam, thì không biết ở đâu giải phóng ở đâu, và giải phóng cái gì?

Sau 36 năm thống nhất, nếu đứng trên hệ qui chiếu cuộc sống kinh tế và tư tưởng nhân bản thì, đúng nghĩa của nó là miền Nam đã giải phóng miền Bắc bằng thực tiễn cỡi trói kinh tế với mỹ từ “đổi mới” 25 năm qua. Còn trên hệ qui chiếu bạo lực và ác độc thì miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Vậy thì nên dùng từ nào cho chính xác?

Để kỷ niệm 36 năm thống nhất đất nước. Tôi xin đưa lên các file MP3 để các bạn tải về nghe cuốn “Tâm tư tổng thống Thiệu” do cựu tổng trưởng kinh tế Việt nam Cộng Hòa - Giáo sư TS NguyễnTiến Hưng hiện đang là GS của Howard University tại Washington DC - Ông đã viết 3 cuốn sau khi rời Việt Nam vì sự kiện 30/4/1975: Hồ sơ mật Dinh Độc Lập (The Palace File, 1986), Khi đồng minh tháo chạy (2005) là 2 cuốn thuộc best seller. Cuối năm 2010 ông cho xuất bản cuốn "Tâm tư tổng thống Thiệu" với 700 trang, được chuyển thành sách đọc do Tâm An phụ trách. Sách gồm 24 chương và được làm ra 31 files MP3 như sau:

Tập 1: http://www.mediafire.com/?dhsxb8udd953dxd
Tập 2: http://www.mediafire.com/?uu4eine8jkq2nto
Tập 3: http://www.mediafire.com/?5za9ff576vr0yko
Tập 4: http://www.mediafire.com/?xuwao599xazytv2
Tập 5: http://www.mediafire.com/?2ad7b7ctzagqgkc
Tập 6: http://www.mediafire.com/?x8f5h5d188sk4r6
Tập 7: http://www.mediafire.com/?w85eybffdqhhcyr
Tập 8: http://www.mediafire.com/?gnkmma25guar1iv
Tập 9: http://www.mediafire.com/?h6ychgixgwrjisy
Tập 10: http://www.mediafire.com/?51z21ke7zhj3fjw
Tập 11: http://www.mediafire.com/?hmjja0ey0deiz7l
Tập 12: http://www.mediafire.com/?2l8pep3alif9cbs
Tập 13: http://www.mediafire.com/?gj7qhz4itulcqsg
Tập 14: http://www.mediafire.com/?wt3ap93pc3t639a
Tập 15: http://www.mediafire.com/?b0p6l233uu670h7
Tập 16: http://www.mediafire.com/?qf52dm8r12cz5aw
Tập 17 phần a: http://www.mediafire.com/?l2n4f2aosdk8a58
Tập 17 phần b: http://www.mediafire.com/?3hakt85gf68ts55
Tập 18: http://www.mediafire.com/?7bcwtp6xim2z39b
Tập 19: http://www.mediafire.com/?xbs7sbbev322480
Tập 20: http://www.mediafire.com/?k4t61qz4boz4azi
Tập 21: http://www.mediafire.com/?cy8s9lwnb17z98m
Tập 22: http://www.mediafire.com/?padggtq2g2ub1h9
Tập 23 phần a: http://www.mediafire.com/?gszjle35r9hlrgg
Tập 23 phần b: http://www.mediafire.com/?2g86bpexrzfxuek
Tập 23 phần c: http://www.mediafire.com/?id9is7729gnc464
Tập 23 phần d: http://www.mediafire.com/?cs5e6hqssn52eu2
Tập 23 phần e: http://www.mediafire.com/?1hdewhbgxcy9kod
Tập 24 phần a: http://www.mediafire.com/?y6fosyeov63yfe4
Tập 24 phần b: http://www.mediafire.com/?4fa7hhhxvl4vow7
Tập 24 phần c: http://www.mediafire.com/?a7yki5c1vp4cub

Vậy là 24 chương được đưa lên thành phần đọc truyện. Nó như một trang lịch sử lần dỡ, để có cái nhìn chân thực về Việt Nam và các cường quốc trong quá khứ soi rọi đến mai sau. Hòng các thế hệ người Việt có sự sáng suốt trong mọi việc để tránh vết xe đổ của các thế hệ cha ông.

Bảng tin cuối cùng của đài phát thanh VNCH

Lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống cuối cùng VNCH: Dương Văn Minh

Ôn cố tri tân (ôn chuyện cũ để hiểu chuyện mới) là một việc cần làm. Để việc ôn chuyện cũ có giá trị, thì yếu tố chân thật cần được tôn trọng. Vì hầu hết tư tưởng của nhân loại không còn mới mẻ, mà chỉ là bổn cũ soạn lại dưới một hình thức khác.

Ôn lịch sử để thấy những sai lầm và đúng đắn của cha ông, mà học cái hay, tránh cái dở. Ôn lịch sử không có nghĩa là để phê phán hay tung hê thế hệ đi trước. Vì không có cái gì là tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai ở hệ qui chiếu Đời.


Tôi luôn mong ước có một ngày các thế hệ người Việt biết ngồi lại với nhau sau cuộc phân ly đau đớn nhất lịch sử dân tộc này. Muốn thế, đòi hỏi cả hai phía cùng hướng về một hướng.

Khi viết bài này, bên tai tôi cứ văng vẳng câu nói của cựu tổng thống Pháp - "Tất cả các chủ thuyết rồi cũng sẽ qua đi. Điều còn lại cuối cùng là dân tộc" - Charle De Gaulle.

Chúc đất nước và con người Việt nam đòan kết, hạnh phúc và bình an,

Asia Clinic, 16h20', ngày thứ Sáu, 29/4/2011

Thursday, April 28, 2011

THỬ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NGHỊ QUYẾT 11 SAU HAI THÁNG

Dẫu biết rằng để đánh giá một nghị quyết ổn định kinh tế vĩ mô của cả đất nước chỉ sau 2 tháng là chưa chính xác. Nhưng làm qua một số tích cực và tiêu cực của nó để tìm ra chỗ sai, chỗ đúng là việc nên làm. Hòng có cái nhìn đúng để có những kinh nghiệm cho mai sau.

Tới hôm nay là đã vừa hơn 2 tháng bắt đầu thực hiện nghị quyết 11 của chính phủ, về các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô. Nên cũng cần nhìn lại để xem bàn tay vô hình đã có những tác động như thế nào với bàn tay hữu hình trong kinh tế. Và liệu nghị quyết có thể làm được chức năng của nó như các nhà tư tưởng đưa ra chính sách để cứu lấy nền kinh tế nước nhà, sau khi đã bị các nắm đấm kinh tế nhà nước đẩy vào vũng lầy suy thoái.

Cũng cần nhắc lại, khái niệm bàn tay vô hình trong kinh tế là yếu tố cung cầu quyết định giá cả thị trường. Còn bàn tay hữu hình trong kinh tế là do chính sách của các nhà tư tưởng đưa ra để lái nền kinh tế đi vào trật tự mà họ muốn có. Không phải lúc nào bàn tay vô hình cũng thắng, mà cũng không phải lúc nào bàn tay hữu hình cũng thắng. Vấn đề đặt ra là bàn tay hữu hình phải đặt đúng lúc, đúng sức ảnh hưởng của nó hay không?

Với chính sách siết chặt tiền tệ, nên nghị quyết đã đưa ra những giải pháp bao gồm: (1) Hút tiền nội tệ vào ngân hàng chốt giữ bằng cách tăng lãi suất kịch trần trên 20%. (2) Hạ lãi suất đồng đô la trong ngân hàng xuống còn 3%. (3) Cấm buôn bán đô la ở thị trường chợ đen, để tăng giá trị tiền đồng và tạm ứng đồng ngoại tệ tương lai sử dụng cho nhu cầu xuất nhập khẩu. 

Ba giải pháp trên đã bước đầu thành công, khi nhà nước đã đẩy giá đô la trong ngân hàng xuống thấp hơn hoặc ngang bằng với chợ đen. Từ đó giá vàng trong nước cũng xuống ngang bằng với giá thế giới, mà các tay to không còn lũng đoạn giá vàng cao hơn thế giới, như thời điểm cuối năm 2010. Bàn tay hữu hình đã thành công trong việc lũng đoạn giá đô la và vàng.

Song bàn tay vô hình lại khác, từ nhu cầu tiền đồng cạn kiệt do quy định mức cho vay của ngân hàng thương mại không được phép quá dư nợ tín dụng 20%. Và hút tiền bằng tăng lãi suất đã làm cho các doanh nghiệp tư nhân rất khó khăn trong việc huy động vốn làm ăn. Nếu có huy động được thì giá thành sản phẩm cũng phải tăng theo để đáp ứng với lãi suất vay ngân hàng, thì mới sống được, đó là điều thứ nhất. Thứ hai là, tình hình giá dầu thế giới tăng đột biến do chiến tranh Trung Đông và Bắc Phi, đã buộc nhà nước phải tăng giá xăng dầu đến 2 lần trong vòng chưa đầy 1 tháng. Thứ ba là, tình hình tổng công ty điện lực nhà nước đang nợ ngập đầu, nhưng buộc phải nuôi sống, dù đã tăng giá điện 15.28% hồi đầu năm.

Ba yếu tố trên, đã thúc đẩy tình hình lạm phát lên cao nhất từ 32 tháng qua. Tính đến cuối tháng 4 này lạm phát đã gần 10%, đẩy lạm phát của Việt nam đứng hàng thứ 2 trên thế giới. Chính sách kềm lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ mong muốn trong năm 2011 chỉ 7%, đã phá sản. Ngoài ra, tình trạng thiểu triển do thiếu vốn và lãi suất cao đã đẩy sàn chứng khoán vào những cơn sụt giảm liên tục. Một đại gia đã phải rút chân cổ phiếu ra khỏi sàn để tái cấu trúc toàn diện tập đoàn.

Nước Mỹ đi vào suy thoái kinh tế lớn nhất trong vòng 65 năm qua, đẩy kinh tế toàn cầu khủng hoảng cũng vì nợ chính sách công. Mọi đánh giá lạm phát và trở lại suy thoái kinh tế Việt Nam cũng là do nợ công vì đầu tư không hiệu quả, làm nên tham nhũng. Thế nhưng, đầu tư công của năm 2011, không giảm, mà lại tăng hơn 2010, mặc dù chính phủ đã cố gắng giảm đi 4.300 tỷ. Vấn đề nhập siêu 4 tháng đầu năm cũng tăng hơn năm 2010.

Kết quả cuối cùng là nghị quyết 11 có chức năng ổn định kinh tế vĩ mô chỉ để cứu các nắm đấm kinh tế nhà nước trong cơn chết chìm. Và hậu quả của nó để lại thì bàn tay vô hình đè lên gánh nặng cơm áo gạo tiền dân nghèo và thuế tăng kịch trần đến với tư doanh để cứu những con bạch tuộc được đảng và nhà nước cưng chiều.

Asia Clinic, 11h51', ngày thứ Năm, 28/4/2011

Tuesday, April 26, 2011

TẠM ỨNG ... TƯƠNG LAI

Hai bài viết của cùng một tác giả Hải Lý hồi quí II/2010, khi chính phủ dùng biện pháp tăng lãi suất ngân hàng đối với đồng nội tệ, hạ lãi suất ngân hàng đối với đồng đô la và, không cho vay ngọai tệ cho những doanh nghiệp không có họat động xuất nhập khẩu. Tuy là cũ, nhưng không cũ với tình hình hiện nay, khi lãi suất tiết kiệm ở nhiều ngân hàng với đồng nội tệ đã huy động lên đến con số >=18%/năm. Trong khi đó đồng đô la có lãi suất thấp. Và thị trường đồng đô la đang giảm giá ngọan mục về ngang hoặc dưới giá chợ đen. Tình hình rất giống năm 2010. Nên tôi đưa nó về đây để làm tư liệu.


04/05/2010 09:26 (GMT+7)

Vay ngoại tệ đang rẻ và có lợi hơn vay tiền đồng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng được vay.

Nếu bạn là doanh nghiệp bình thường hoạt động trong thị trường nội địa, không tham gia xuất nhập khẩu, không đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, không vay vốn nước ngoài, thì dù có đề nghị, ngân hàng cũng không cho bạn vay vốn bằng ngoại tệ.

Vay ngoại tệ đang rẻ và có lợi hơn vay tiền đồng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng được vay.

Đối với những doanh nghiệp thuộc đối tượng được vay, trước khi giải ngân, ngân hàng còn cân lên đặt xuống khả năng trả nợ của người vay, cho dù có tài sản thế chấp. Nói vậy để thấy rằng vay được ngoại tệ của ngân hàng không dễ.

Mấy tháng qua, dòng ngoại tệ tín dụng chảy mạnh. Con sông ngoại tệ đã được be bờ, được xúc bùn đất cho những con tàu trọng tải lớn có thể lưu thông. Không chỉ mở rộng lòng sông, Nhà nước còn tính toán cân đối lượng tàu vào ra tháng này, tháng sau sao cho khỏi kẹt dòng. Bây giờ, nhìn tàu bè ngược xuôi nhộn nhịp, giới quan sát không khỏi một chút chạnh lòng: giá như động thái điều chỉnh ngoại hối kịp thời và sớm hơn...

Bản chất của điều hành ngoại hối những tháng qua là gì? Là trong bối cảnh nhập siêu, Nhà nước đã thông qua các quy định pháp lý, đưa nguồn cung ngoại tệ trong tương lai về hiện tại, đồng thời san bớt nhu cầu ngoại tệ hiện tại cho tương lai. Diễn đạt một cách khác, chúng ta đang tạm ứng ngoại tệ tương lai!

Nhà xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trong tương lai, thay vì vay tiền đồng để làm hàng hóa giao cho người mua, chuyển qua vay ngoại tệ và bán ngoại tệ ngay cho ngân hàng lấy tiền đồng. Tất nhiên ngân hàng phải tính toán để số ngoại tệ cho nhà xuất khẩu vay tương ứng với số ngoại tệ có được anh ta cam kết bán cho ngân hàng sau một vài tháng nữa. Khi anh ta xuất hàng đi, ngoại tệ về, ngân hàng thu nợ luôn. Ở đây, cung ngoại tệ tương lai đã được đưa về hiện tại. Kết quả là nguồn cung ngoại tệ hiện tại tăng lên.

Nhà nhập khẩu (hoặc những doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, hoặc vay vốn nước ngoài nay đến hạn trả nợ) có nhu cầu ngoại tệ để trả nợ, thanh toán, thay vì mua ngoại tệ, họ vay ngoại tệ. Sở dĩ họ vay ngoại tệ chứ không mua vì họ nhìn thấy vay tiền đồng hiện tại và mua ngoại tệ sau một vài tháng để trả nợ có lợi hơn. Trong trường hợp này, cầu ngoại tệ hiện tại được đẩy về tương lai. Kết cục nhu cầu ngoại tệ giảm đi.

Ở thì hiện tại, cung ngoại tệ tăng, cầu ngoại tệ giảm, tỷ giá sẽ tự động thay đổi theo hướng đồng Việt Nam lên giá so với Đô la Mỹ. Sự cân bằng cung cầu vẫn tiếp diễn, tỷ giá vẫn ổn định với điều kiện là nguồn thu ngoại tệ trong tương lai bằng hoặc lớn hơn nhu cầu ngoại tệ nhà nhập khẩu phải mua vào (trong tương lai) nhằm trả nợ cho ngân hàng.

Nếu lượng ngoại tệ thu về trong tương lai thấp hơn lượng ngoại tệ nhà nhập khẩu cần để trả nợ ngân hàng trong tương lai, tỷ giá sẽ chuyển động theo chiều ngược lại: Đô la Mỹ lên giá so với tiền đồng.

Mấu chốt của vấn đề là ở điểm này: tạm ứng ngoại tệ tương lai phải ở mức hợp lý, trong tầm kiểm soát. Ở tầm vi mô, các doanh nghiệp vay ngoại tệ nên tính đến khả năng bảo hiểm tỷ giá để phòng ngừa rủi ro; các ngân hàng không chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, cho vay quá mức cần thiết.

Ở tầm vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước hiện có điều kiện mua vào ngoại tệ thừa ở ngân hàng, tăng dự trữ ngoại hối, nhưng cũng cần tính toán lượng bán ra can thiệp nếu cần. Một khi van ngoại tệ mua vào - bán ra của Ngân hàng Nhà nước vận hành nhịp nhàng, thị trường ngoại hối sẽ ổn định.

Sự lên giá của tiền đồng, trước mắt, sẽ có tác dụng thu hút luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tuy nhiên dòng vốn này rất nhạy cảm, nó có thể vào nhanh và ra nhanh bất chấp hậu quả để lại đằng sau nó. Không phải ngẫu nhiên, nhà đầu tư nước ngoài liên tục mua ròng chứng khoán và gần đây giá trị mua ròng ngày một tăng lên. Nhiều tổ chức nước ngoài, kể cả quỹ mạo hiểm lớn, đã mở tài khoản ở các công ty chứng khoán. Với quy định giao dịch T+4 hiện tại, tiền có thể được chuyển vào - mua bán - chuyển ra trong vòng một tuần.

Tiền đồng càng lên giá, lãi suất tiền đồng sẽ càng giảm. Dấu hiện này thể hiện rõ trên thị trường trái phiếu. Ngày 22/4/2010 lãi suất trúng thầu trái phiếu chính phủ kỳ hạn hai năm phát hành trên HNX đã giảm xuống còn 11,3%/năm, kỳ hạn năm năm còn 11,5%/năm thay cho mức 12%/năm mấy tuần trước đó. Doanh nghiệp vẫn “chê” lãi suất cho vay của ngân hàng cao, vẫn đang kiên nhẫn chờ mặt bằng lãi suất hạ xuống.

Ngân hàng không còn thiếu tiền đồng. Một số ngân hàng đang tích cực mua trái phiếu, sau đó bán trái phiếu ấy trên thị trường mở cho Ngân hàng Nhà nước, lấy tiền đồng ngắn hạn lãi suất 7-8%/năm, hưởng chênh lệch lãi suất. Để “giải phóng” vốn, ngân hàng sẽ phải hạ lãi suất đầu ra. Họ không thể bán trái phiếu cho Ngân hàng Nhà nước lấy tiền đồng ngắn hạn rồi “ôm” đó dù là lãi suất thấp. Vòng xoay cứ thế tiếp tục, lãi suất đồng nội tệ sẽ còn giảm.

Nguồn ngoại tệ huy động bắt đầu được sử dụng hiệu quả và bài toán ngoại tệ đã giải được một phần. Nhưng bài toán huy động, cho vay vàng vẫn còn đó. Theo chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM, đến 31/3/2010, tổng lượng vốn huy động bằng vàng của các ngân hàng trên địa bàn là 76.880 tỉ đồng, tương đương 110 tấn, trong khi dư nợ cho vay vàng chỉ có 19.200 tỉ đồng tức 27,5 tấn.

Như vậy, 57.680 tỉ đồng, tương đương 82,5 tấn vàng, hoặc hơn 3 tỉ Đô la Mỹ, đang “án binh bất động” trong két sắt ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước sẽ làm gì để 3 tỉ Đô la Mỹ bằng vàng đó trở nên có ích cho nền kinh tế đang cần vốn?

Hải Lý (TBKTSG)
09/07/2010 07:25 (GMT+7)

Ngày 30/6/2010 là thời điểm đáo hạn một số hợp đồng vay ngoại tệ ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây chủ yếu là các hợp đồng vay có kỳ hạn ba tháng trở xuống.

Sau hai tháng rưỡi đứng nguyên dưới mốc 19.000 đồng/USD, từ cuối tháng 6 đến nay tỷ giá bắt đầu chuyển động. Giá USD bán ra của các ngân hàng thương mại đồng loạt niêm yết ở mức trần 19.100 đồng. Những yếu tố thử thách chiến thuật “tạm ứng... tương lai” trong điều hành tỷ giá của cơ quan chức năng đã xuất hiện.

Nhu cầu trả nợ 500 triệu - 1 tỉ USD/tháng

Ngày 30/6/2010 là thời điểm đáo hạn một số hợp đồng vay ngoại tệ ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây chủ yếu là các hợp đồng vay có kỳ hạn ba tháng trở xuống. Người trả, theo phản ánh của một số ngân hàng, chủ yếu là các đơn vị nhập khẩu. Có những công ty, khoản vay tuy chưa đáo hạn, nhưng do biến động tỷ giá, đã yêu cầu ngân hàng cho trả trước hạn.

“Chúng tôi nói họ không cần trả trước, nhưng họ cứ xin trả và nếu tỷ giá ổn định trở lại dưới mức 19.000 đồng/USD, họ sẽ vay lại” - phó tổng giám đốc một ngân hàng cho biết - “Doanh nghiệp bây giờ tính toán nhanh lắm và họ canh chừng tỷ giá rất sát sao”.

Rõ ràng những doanh nghiệp vay ngoại tệ luôn trong tư thế phòng thủ và chủ động trả nợ để tránh rủi ro tỷ giá. Đại diện một doanh nghiệp bộc bạch: “Khi vay, chúng tôi phải cam kết trả bằng ngoại tệ cho ngân hàng đúng hạn.

Chính vì ràng buộc này nên công ty phải cắt cử một nhân viên kế toán cập nhật tỷ giá hàng ngày, nếu có biến động là xử lý ngay. Trong trường hợp hiện tượng USD lên giá so với tiền đồng chỉ là nhất thời, sẽ làm thủ tục vay lại. Như thế mới tránh bị thiệt”.

Có thể thấy quãng thời gian gần ba tháng yên bình vừa qua đã tích lũy xung quanh tỷ giá một số vấn đề. Về mặt kỹ thuật, hiện nay các nhà xuất khẩu đã vay ngoại tệ vẫn bán ngoại tệ có được từ xuất khẩu cho ngân hàng, nhưng tính chất ở đây đã thay đổi. Trước đây, việc bán ngoại tệ cho ngân hàng là tự nguyện, thỏa thuận được giá cả (trong biên độ cho phép của Nhà nước) và một số điều kiện khác là bán. Nay bán là vì đã cam kết bán cho ngân hàng khi vay ngoại tệ.

Ba tháng trước nếu không cam kết bán trong tương lai, nghĩa là không có nguồn thu, thử hỏi ngân hàng nào dám cho vay ngoại tệ? Còn nhớ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh trong tháng 4/2010 tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt 28.000 tỉ đồng, trong đó cho vay xuất khẩu tới 22.000 tỉ đồng.

Giả sử một phần ba tổng số 22.000 tỉ đồng cho vay xuất khẩu trên có kỳ hạn dưới ba tháng, thì hiện tại các nhà xuất khẩu phải bán để trả nợ cho ngân hàng số ngoại tệ tương ứng là 350-400 triệu USD. Số ngoại tệ mà doanh nghiệp nhập khẩu đã vay, nay phải trả có thể là 100-150 triệu USD. Nghĩa là số ngoại tệ doanh nghiệp cần ngay để trả nợ có thể xấp xỉ 500 triệu USD cho thời điểm cuối tháng 6/2010.

Nếu tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tháng 5, tháng 6 cũng bằng mức của tháng 4/2010, thì lượng ngoại tệ doanh nghiệp cần để trả nợ ngân hàng trong quí 3 sẽ khoảng 500 triệu - 1 tỉ USD/tháng tùy thời điểm đáo hạn (chưa kể số lượng đến hạn trả của những khoản vay trong ba tháng đầu năm và năm ngoái dồn sang). Số tiền trên “ăn lẹm” vào cung ngoại tệ và làm nguồn cung giảm đi tương ứng.

Các đơn vị nhập khẩu “lăm le” trả nợ, mua đô la nhiều hơn, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu giảm bán đô la theo kiểu thông thường (chỉ còn bán để trả nợ), kết quả là cầu tăng cung giảm. Việc giảm cung, tăng cầu sẽ tiếp tục và có thể ngày càng lớn trong các tháng của quí 3 lần lượt theo kỳ đáo hạn các hợp đồng vay ngoại tệ, phần lớn dưới sáu tháng. Đây là yếu tố cấu thành nặng ký nhất và quan trọng nhất trong phép thử của “tạm ứng...tương lai”.

Lãi suất tiền đồng tăng sức ép tỷ giá

Kế đó tỷ giá đang chịu tác động trực tiếp của việc hạ lãi suất tiền đồng. Chênh lệch lãi suất tiền đồng và USD đang được rút ngắn. Những tháng trước, lãi suất huy động tiền đồng khoảng 11,5%/năm, USD khoảng 4%/năm, chênh lệch 7,5%/năm.

Nay lãi suất huy động tiền đồng đang lùi dần về 11%/năm (và sẽ xuống 10%/năm như chỉ đạo của Chính phủ), lãi suất tiết kiệm ngoại tệ của một số ngân hàng đã chạm 5%/năm, chênh lệch 6 điểm phần trăm. Mức 6 điểm phần trăm đúng bằng mức chênh lệch lạm phát của Việt Nam và Mỹ (lạm phát của Việt Nam năm nay dự kiến 8%/năm, Mỹ 2%/năm).

Một khi chênh lệch lãi suất giữa tiền đồng - đô la Mỹ thấp hơn 6 điểm phần trăm này, sự chuyển dịch tiết kiệm từ tiền đồng sang ngoại tệ sẽ diễn ra và ngược lại. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tỷ giá.

Như vậy, để hạ lãi suất mặt bằng tiền đồng, cũng phải hạ lãi suất ngoại tệ. Vì sao Ngân hàng Nhà nước đã không có biện pháp nào để hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ của dân cư? (lãi suất tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp đã được ấn định tối đa 1%/năm - NV). Nếu lãi suất tiết kiệm USD chỉ còn, giả sử 2%/năm, chắc chắn người dân sẽ cân nhắc khi gửi ngoại tệ.

Có thể, Ngân hàng Nhà nước e ngại lãi suất huy động ngoại tệ thấp, dẫn đến lãi suất cho vay đô la thấp, doanh nghiệp lại lao vào vay ngoại tệ. Tuy nhiên, tỷ giá chính là “liều thuốc” chặn đứng “cơn say” vay ngoại tệ lãi suất thấp. “Liều thuốc” đó nồng độ thế nào trong từng thời điểm là do Ngân hàng Nhà nước quyết định. Mấu chốt vấn đề, suy cho cùng, vẫn là hiệu ứng linh hoạt của tỷ giá: khi nào nó cần phát đi tín hiệu động, khi nào sẽ là tín hiệu tĩnh!

Chiến thuật “tạm ứng... tương lai” trong điều hành tỷ giá đã tạo điều kiện để chuyển ngoại tệ huy động sang ngoại tệ thương mại và giúp Ngân hàng Nhà nước mua được 1-2 tỉ USD, nâng dự trữ ngoại hối.

Bây giờ là thời điểm của sự chảy ngược lại: đô la thương mại sang đô la huy động. Nguồn ngoại tệ huy động của ngân hàng vẫn tương đối dồi dào trong khi đô la thương mại vẫn còn thiếu do nhập siêu. Thị trường đang chờ đợi Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp ở mức nào và đưa ra giải pháp gì để kiểm soát sự chảy ngược nói trên.

Hải Lý (TBKTSG)
Asia Clinic, 7h34', ngày thứ Ba, 26/4/2011

Saturday, April 23, 2011

CỤC DIỆN MỚI TÒAN CẦU?

Từ sau thế chiến thứ hai để phân chia lại thị trường thế giới bằng 2 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki. Các cường quốc đã hiểu thế nào là sự hủy họai của bom hạt nhân. Họ chạy đua để có đồ chơi nóng, hòng kềm nhau trong cục diện tòan cầu. Đến giờ này theo thông tin chính thống thì có 9 nước đã có bom hạt nhân. Nhưng thông tin ngòai luồng có đến 17 nước đã có đồ chơi nóng. Trong đó, có những nước giàu và cả nước nghèo.

Từ đó, chiến tranh thế giới để phân ngôi cao thấp hòng tìm ra lãnh đạo tòan cầu, đã biến tướng thành chiến tranh cục bộ. Chiến tranh cục bộ là nơi để các cường quốc hai phe tả hữu làm thí điểm để đi đến kết cục phân ngai vàng.

Điểm lại lịch sử cận đại, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt nam là 2 hình ảnh rõ nét về chiến tranh cục bộ trong thế kỷ XX. Cuộc đua ngày ấy cục diện đã rõ là phe cánh tả bắt đầu bằng sự đầu hàng của Trung Hoa thí chốt chiến trường Việt Nam với Mỹ, để đổi hình thái xã hội chủ nghĩa sang xã hội tư bản thân hữu ngày nay, và Liên Xô - Đông Âu tan rã.

Sự nằm yên chờ thời, để rồi con hổ Trung Hoa thức dậy. Trong 2 thập kỷ qua, Trung Hoa đã gầy dựng một châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ và Trung Á là vệ tinh, để phục vụ cho sự phát triển của mình. Bên cạnh đó, Trung Hoa đã dùng chính sách tiền tệ giá rẻ để biến mình thành công xưởng của tòan cầu. Họ dùng chính sách kinh tế chỉ huy để tăng dự trữ ngọai tệ tình cờ từ tự bảo vệ, trở thành vũ khí mua chuộc các nước có chế độ độc tài khắp thế giới, và chống lại đồng đô la Mỹ.

Cuộc chiến tiền tệ ngấm ngầm đã hơn nửa thập niên. Nước Mỹ sử dụng chính sách kẻ ăn mày hàng xóm để làm hạ giá đồng tiền của mình nhờ vào lợi thế đồng đô la thống trị tòan cầu, để xuất khẩu lạm phát sang thế giới còn lại, hòng giữ vững vị thế số 1 của mình. Bên cạnh đó, để cắt nguồn nhiên liệu và khóang sản của Trung Hoa, người Mỹ đã di chuyển sự kiểm sóat eo biển Mallaca. Nhưng chiến dịch kiểm sóat này đã bị Trung Hoa phá thế cờ bằng ban giao mua chuộc Miến Điện. Tình hình thế giới thay đổi, buộc Mỹ phải dời sự thân thiện đến với Việt Nam, làm ra một năm ngọai giao của Việt Nam rực rỡ 2010.

Dù thế, nhưng với chiến lược ngọai giao đa phương của Việt nam, buộc Mỹ phải quyết định nước cờ thắt yết hầu Trung Hoa. Người Mỹ luôn có chiến lược thế kỷ, họ bằng cách đưa ông Obama lên làm Tổng thống, người Mỹ đã cho thấy Trung Đông và Bắc Phi thấy giá trị của dân chủ kiểu Mỹ. Không bằng súng đạn, người Mỹ đã làm Trung Đông Bắc Phi dậy sóng. Thiệt hại nhất trong cuộc dậy sóng này là Trung Hoa sau 2 thập niên gầy dựng. Mọi động thái phân thây mua chuộc thế giới và khu vực của Trung Hoa trở nên phá sản. Điểm nóng tòan cầu và cục bộ chuyển sang Libya, sau khi họ ký kết và từ bỏ theo đuổi bom hạt nhân hồi 2006, để muốn làm bạn với tòan cầu, từ bỏ tả khuynh mà ông Gaddafi đã theo đuổi hơn 30 năm.

Trong cách chập chờn đánh rồi rút của Mỹ và phương Tây ở Libya, cho thấy rằng cuộc chiến không thể kết thúc sớm. Đồng minh phương tây ủng hộ phe nổi dậy chống lại Gaddafi. Và hôm nay, cả Nga, Trung Hoa và cả những nước đồng minh của Nga đều đứng về phía chính quyền Gaddafi. Một cục diện chiến tranh lạnh lần II, mà theo bà cựu bộ trưởng Nhật Bản đã tiên đóan đang mở ra.

Lại một cuộc nội chiến kiểu Việt nam tái diễn? lại một cuộc trường kỳ kháng chiến để làm nên một nước Libya mới kiểu Việt nam tái diễn? lại một cuộc nồi da nấu thịt kiểu Việt Nam, mà Libya là con chốt trên bàn cờ để các cường quốc đi vào cuộc tỷ thí phân ngôi vị để phân lại thị trường thế giới?

Ai lãi, ai lỗ thì hạ hồi phân giải. Nhưng trước mắt các nước nhược tiểu có những hôn quân vì danh lợi của mình luôn là nơi làm chốt thí cho các cường quốc. Thế giới cứ bổn cũ sọan lại, không có gì thay đổi, nhưng lòai người vẫn cứ u mê.

Nếu Việt nam có những nhà chiến lược biết nhìn xa trông rộng, thì lúc này là lúc thời cơ hoặc hiểm họa phải có phương cách ngọai giao, để cho tương lai trong ít nhất 50 năm tới.

Asia Clinic, 18h22', ngày thứ Bảy, 23/4/2011

Friday, April 22, 2011

KHÓ KHĂN NGHÌN TRÙNG

Chỉ mới bước sang quí hai của năm Tân Mão, nhưng muôn vạn khó khăn đang bao vây nước Việt. Khó trong, khó ngoài, mà mọi cái khó là do tự đảng và nhà nước làm nên. Đó mới là điều đáng sợ. 

Tính đến hôm nay, mười bảy sự kiện lớn trong nước từ sau tết nguyên đán, đã nói lên hết những khó khăn do tự chính sách và chiến lược của đảng và nhà nước gây ra.

Về kinh tế, nhìn ra thế giới, đồng đô la cứ mất giá mà giá của nó trong nước lại tăng. Đồng tiền Việt mất giá, dân chúng không biết làm sao để tính cho từng bó rau, con cá cho từng bữa ăn.

Về chính trị, câu chuyện bẻ từng chiếc đủa của một bó đủa của người bạn phương Bắc đang từng bước thực thi, trong cục diện hết biển Đông rồi đến rừng sâu, sông nước.

Nhìn lại nội địa, thì nội xâm đang hoành hành, nhưng người ta cứ bảo là các thế lực thù địch cả trong lẫn ngoài phá hoại. Trong khí đó, người dân vẫn rất hiền hòa, nhẫn nhục chịu đựng lo ngày hai bữa để qua cơn hoạn nạn.

Mọi chuyện cũng đã được tiên đóan trong bài viết Nhìn lại 2010. Thiết nghĩ không còn gì để viết. Song cái cơ bản là gì mà nghìn trùng khó khăn vậy?

Có lẽ, chỉ có một biện pháp để cứu nền kinh tế, để sau đó là cứu sự ổn định chính trị là việc quản lý ở cơ sở hạ tầng đảng không nên ôm đồm nữa. Lâu nay, nhà nước và đảng mãi lo ổn định chính trị, mà quên nguyên lý kinh tế chính trị học là: kinh tế quyết định chính trị.

Không ai muốn giành quyền chính trị của đảng cả. Nên đảng và nhà nước cần phải hiểu mình, thắng được tham vọng của mình, thì mới mong cứu được vận mệnh quốc gia. 

Trong tất cả mọi chiến thắng, chiến thắng lấy bản thân mình là khó nhất. Không biết đến bao giờ thì đảng và nhà nước mới hiểu được điều này?

Asia Clinic, 19h02', ngày thứ Sáu, 22/4/2011

Wednesday, April 20, 2011

CÓ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG HAY KHÔNG?

Tôi thì không phải dân kinh tế, nhưng võ vẽ chút kiến thức để hiểu vấn đề thì cũng không tệ. Người ta bảo kinh tế thị trường tự do là kinh tế cung cầu thoã mãn. Giá trị của hàng tiêu dùng sẽ được qui định đúng, dưới sự cạnh tranh tự do sòng phẳng.

Nhưng với sự độc quyền kinh doanh của ngành điện như lâu nay không có sự cạnh tranh sòng phẳng với bất kỳ đối tác nào ngoài nhà nước, thì liệu có cơ chế thị trường hay không?

Nhớ lại giai đoạn 1990s, chỉ một mình Mobifone tung hoành ngang dọc mạng điện thoại di động trong cả nước thì giá cước điện thoại cao ngất ngưỡng. Nhưng từ ngày có Viettel, Vinafone, v.v... ra đời thì giá cước điện thoại nào giảm giá, nào khuyến mãi đến 50% liên tục. Ai đã từng phải trả hằng tháng gần 10 triệu tiền cước thời Mobifone một mình một cõi, thì bây giờ nhiều lắm chỉ 1 triệu thời tiền mất giá kinh niên.


Dĩ nhiên, ai cũng hiểu làm sao thiếu khi làm ăn có lãi, mà lại có lãi theo kiểu một mình múa gậy vườn hoang, thì cần phải có luật để kiềm chế sự tăng giá điện vô tội vạ. Và vấn đề còn lại cần được quan tâm là liệu làm điện ra nhiều có làm huỷ hoại môi sinh hay không? Đó là 2 vấn đề đặt ra cho cơ chế thị trường ngành điện Việt Nam.

Asia Clinic, 7h55', ngày thứ Tư, 20/4/2011

Friday, April 15, 2011

ĐÂU LÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ VIỆT?

Hôm trước có bạn làm kinh doanh hỏi: "Đâu là bản sắc văn hoá Việt Nam?". Mình suy nghĩ hơn một tháng và lục hết tất cả tàng kinh cát để đi tìm bản chất của câu hỏi này. Hôm nay thấy tạm ổn, nên viết bài để trả lời. Một bài trả lời đáng giá với một chai XO, như lời hứa của bạn ấy. Là vì kinh doanh mà không nắm rõ bản chất văn hoá của một dân tộc, lại đem chuông đi đánh xứ người, khác nào đánh vào khoảng không vô tận. Nên văn hoá không chỉ quyết định sự phát triển, mà văn hoá còn rất quan trọng trong tất cả các mặt của cuộc sống hiện đại.

Đứng về mặt học thuật, văn hoá thế giới chia làm hai loại hình văn hoá du mục và nông nghiệp dựa trên cơ sở phân loại duy lý hay duy tình trong cách tư duy và hành động của cộng đồng dân. Cũng trên cơ sở phân loại ấy, người ta thấy rằng không có một nền văn hoá nào là đồng nhất duy tình hay duy lý. Mà đã có sự pha trộn văn hoá trong quá trình giao lưu văn hoá của các nền văn minh khác nhau thông qua quá trình di dân, chiếm cứ của các dân tộc khác nhau trên thế giới. Cho nên để nhìn ra bản sắc văn hoá của một dân tộc là một điều khó. Dù khó, nhưng nếu dựa trên duy vật luận: "Từ thực tiển khách quan đi vào tư duy trừu tượng. Rồi từ tư duy trừu tượng đem áp dụng vào thực tiển khách quan. Đó là con đường nhận thức chân lý, chân lý khách quan". Chúng ta có thể nhìn thấy được đâu là bản sác văn hoá Việt.

Trên khái niệm văn hoá là thói ăn, nết ở, thuần phong mỹ tục được hình thành và phát triển định hình nên tư duy và hành động của một cộng đồng dân sống trong một vùng địa lý dưới những hình thái xã hội khác nhau. Có thể nhận ra hai loại bản sắc văn hoá Việt rõ ràng, thứ nhất là bản sắc đặc thù của văn hoá Việt hình thành do quá trình lịch sử. Thứ hai là, bản văn văn hoá Việt do ảnh hưởng của sự giao thoa văn hoá thông qua lịch sử dân tộc Việt. Chúng ta thử đi vào từng phần của bản sắc văn hoá Việt.

Ở phần thứ nhất, nét đặc thù đầu tiên của văn hoá Việt là chiến tranh dựng và giữ nước. Hơn một nửa thời gian lịch sử dân tộc Việt là một lịch sử chiến tranh, ngày nay ai cũng rõ. Chiến tranh của người Việt có 2 đặc thù: giữ nước và mở cõi. Từ đó, cách tư duy và hành động của người Việt trông bề ngoài là vẻ hiền lành, chất phát, có nụ cười luôn trên môi đi tiếp xúc. Nhưng trong bản chất là một sự bùng nổ những lề thói có bản chất chiến tranh giữ và cơi nới. Ngày này, từ trong khẩu hiệu của tấm băng rôn trong các lễ hội cũng có không khí chiến tranh, ví dụ như: "Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại". Học cái gì tốt đẹp hơn mà lại phải học chiến đấu? Dĩ nhiên chữ chiến đâu ở đây, không phải ý nói là chiến tranh, mà ý muốn nói sự phấn đấu. Nhưng thay vì sự phấn đấu thì văn hoá bản sắc của chiến tranh làm cho người ta hình tượng hoá sự phấn đấu lên thành từ chiến đấu. 

Chúng ta dễ dàng bắt gặp rất nhiều ví dụ cụ thể về bản sắc văn hoá chiến tranh này của dân Việt trong đời sống hằng ngày. Như lái xe ra đường không theo qui định, mà mạnh ai nấy lấn đường làm ách tắc giao thông. Như nhà đã có lề, đường đã có lề, nhưng buôn bán luôn cơi nới ra khỏi lề, xây nhà vẫn thêm hàng rào hay một chút diện tích để lấn lề, v.v...

Đặc biệt, bản chất của chiến tranh mở cõi là thuộc về nền văn hoá du mục, nhưng nó lại được đặt trong một cộng đồng có số đông sống theo văn hoá nông nghiệp. Nên nó có những mâu thuẩn nội tại xung đột trong cách ứng xử văn hoá sống có tính triệt tiêu hơn là thúc đẩy để phát triển đi lên. Vì duy tình không giải quyết thấu đáo vấn đề, mà chỉ theo cảm tính. Trong khi duy lý thì triệt để và sắt máu. Chính vì thế mới có câu chuyện 3 người Việt cùng làm việc thua 3 người Nhật. Và vì thế mới có câu chuyện đám đông vô thức của người Việt rất dễ định hướng đi theo một chiều tư tưởng, dù tư tưởng ấy là cực đoan và phi lý.

Nếu các nhà kinh doanh nắm bắt được bản sắc văn hoá này trong tâm hồn người Việt, họ rất dễ dàng giao thương và chiếm thế thượng phong trong công việc, dù mưu đồ của họ là không trong sáng.

Vấn đề thứ hai trong bản sắc đặc thù văn hoá Việt là, thờ cúng tổ tiên. Có lẽ không ở nơi đâu trong văn hoá nhân loại việc thờ cúng tổ tiên được nâng lên thành một đạo sống làm người như dân tộc Việt. Đến một gia đình bất kỳ, nếu khéo léo, đối tác xin phép thắp cây nhang lên bàn thờ tổ tiên là đánh đúng vào cái văn hoá duy tình trong giao tiếp. Qua nhiều thời đại, các chính khách cũng tận dụng nét đặc thù văn hoá này để định hướng lòng dân. Câu chuyện con rùa hồ Gươm, hay lễ hội đền Trần, v.v... cũng là một biểu hiện cụ thể cho nét văn hoá đặc thù này.

Vấn đề thứ ba của bản sắc đặc thù văn hoá Việt là, văn hoá ẩm thực. Vì quá trình lịch sử mở cõi, lấy ẩm thực làm vị thuốc để chống chọi với bệnh tật ở chốn rừng thiêng nước độc. Nên ẩm thực Việt rất khoa học về mặt dinh dưỡng học lâm sàng: "Ăn là thuốc, ăn đúng là trị bệnh, ăn sai là rước bệnh vào mình". Hãy nhìn cách ăn uống của bác nông dân rất khoa học: sáng sớm trước khi ra đồng ăn thật no, nhưđổ xăng cho xe chuẩn bị đi làm, ăn trưa nhiều để làm việc tiếp, ăn tối vừa phải cho một đêm nghỉ ngơi. Trong các mốn ăn Việt cũng nhiều  tinh bột, rau xanh và chất đạm, nhưng mỡ thì vừa phải giống như một tháp dinh dưỡng trong y học. Ngoài ra, rau xanh Việt không thiếu các vị thuốc như: giá cường dương, rau răm hãm dương, v.v... Các món ăn cũng phối hợp rất khoa học triết lý phương Đông: ăn hột vịt lộn phải ăn với rau răm và muối tiêu. Để liệt kê hết tất cả khoa học ẩm thực Việt thì rất nhiều.

Ở phần còn lại, những bản sắc văn hoá khác, không là đặc thù của người Việt mà là, do sự giao lưu văn hoá mà thành. Trong giao lưu văn hoá ấy có sự giao thoa, sự sao chép nguyên bản rất đa dạng. Ví như, nho giáo với tam cương, ngũ luân một thời gian dài nghìn năm sao y bản chính. Phật giáo là giao thoa văn hoá từ nguyên gốc Ấn độ và nho giáo của Trung Hoa mà thành. Nên phật giáo Việt Nam đỉnh cao được xem là thiền tông, nhưng nhuốm màu mật tông trong thực hành trong cuộc sống.

Tất cả những sự giao thoa và sao y ấy đều có cùng mục đích là phục vụ cho lịch sử hình thành và phát triển địa lý, giống nòi của dân tộc Việt từ Thuỷ Chân Lạp để có bờ cõi như ngày hôm nay. Nó giúp cho tránh được sự đồng hoá của người Trung Hoa phương Bắc mà tạo ra sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt, không bị mất đi, mà ngày càng phát triển về phương Nam.

Trong tất cả những ưu điểm từ giao lưu văn hoá ấy, có một ưu điểm nổi bật của dân Việt là rất biết sống hợp thời khi lịch sử đòi hỏi. Sự thức thời ấy thể hiện qua 2 lần thay đổi chữ viết để thoát Á: lần đầu là thời nhà Tây Sơn, nhờ có La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp kế thừa và phát triển chữ Nôm thay thế cho chữ Hán. Và thời thuộc Pháp có các nhà văn hoá Tự Lực Văn Đoàn đã tiếp sức các vị Linh mục làm ra chữ quốc ngữ ngày nay theo mẫu tự La Tinh cho một ngôn ngữ đơn âm tiết. Một nét văn hoá hiếm thấy ở Chấu Á.

Trong những nhược điểm của giao lưu văn hoá để lại cho dân Việt, thì nhược điểm lớn nhất là sức đấu tranh nội tại của văn hoá du mục duy lý không thắng được văn hoá nông nghiệp duy tình. Nên văn hoá sống dân Việt làm lùn đi dân trí khi đứng trước một sự vật hiện tượng, không được nhìn duy lý triệt để mà, mà được nhìn bằng tư duy duy tình cảm tính nửa vời. Cái nửa vời ấy thể hiện từ tư duy đến hành động thông qua hình thái xã hội qua bao đời.

Để có được một dân tộc và đất nước hùng cường, không gì khác hơn người Việt cần hiểu biết văn hoá đặc thù của mình ở đâu, và kết quả của giao lưu văn hoá ở đâu? Đâu là tinh hoa của 2 miền văn hoá và biết sửa mình. Nếu không lịch sử sẽ lập lại những mảng tối cho đất nước và dân tộc lắm khổ nhục này.

Asia Clinic, ngày thứ Sáu, 14h43', 15/4/2011

Thursday, April 14, 2011

ĐIỀU CHƯA ĐƯỢC QUAN TÂM Ở G-20

Tôi dịch bài viết này là vì cũng như Colombia, Peru và Chi Lê, Việt Nam đang là nước đang nằm chung trong hoàn cảnh chịu thiệt thòi của cuộc chiến tranh tiền tệ. Trong khi đó, Việt Nam cũng giống 3 nước trên không là thành viên của G-20. Nên không có tiếng nói của mình để quyết định số phận cho nhân dân và đất nước mình. Xin mời mọi người hãy đọc và suy nghĩ vấn đề thiết thân này, để cùng với các nước đang mới nổi lên chung tiếng nói tự cứu lấy nền kinh tế non trẻ của mình đang là nạn nhân của cuộc chiến tranh tiền tệ. Không loại trừ có một âm mưu kết hợp giữa Trung Quốc và Mỹ để tàn phá thế giới đi đến chỗ kiệt quệ như khủng hoảng kinh tế 1929-1933 để rồi phải giải quyết bằng chiến tranh thế giới thứ II. Bây giờ thì chiến tranh thế giới III chưa xảy ra, nhưng chiến tranh cục bộ ở Trung Đông và Bắc Phi có thể là thùng dầu chêm vào đám cháy khủng hoảng kinh tế 2007-2009. Tất cả mọi việc đều đang diễn tiến rất khó lường.

Theo thứ tự hình ảnh từ trên xuống: Andrés Velasco là một cựu Bộ trưởng Tài chính của Chile. Luis Carranza là một cựu Bộ trưởng Tài chính của Peru. Mauricio Cárdenas là một cựu Bộ trưởng Bộ Phát triển Kinh tế và Giao thông vận tải của Colombia. Đây là bài viết của 3 ông.

BOGOTA, LIMA, SANTIAGO – Phối hợp kinh tế toàn cầu là cần thiết vì nó khó nắm bắt. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, G-20 đã trở thành diễn đàn chính để thống nhất về nguyên tắc cơ bản trong các lĩnh vực như đáp ứng chính sách tài chính và vai trò của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Bằng việc nhấn mạnh sự cần thiết để tránh những chính sách bảo hộ thương mại và chính sách ăn xin hàng xóm, G-20 cũng đặt một số áp lực lên các chính phủ liên quan về những gì không nên làm. Trong những khía cạnh này, G-20 đã đi được một bước tiến ràng.

Tuy nhiên, gần đây, việc G-20 đã cố gắng dung hòa những lợi ích các quốc gia khác nhau và những chiến lược phục hồi kinh tế, có quá ít thành công các cuộc họp đầu tiên tại Washington và London trong năm 2009. Thật vậy, hội nghị thượng đỉnh Seoul của G-20 vào đầu tháng mười một năm ngoái đã bộc lộ một sự chia rẻ sâu sắc.

Sự mất cân bằng toàn cầu và những cuộc hôn phối không môn đăng hộ đối về tiền tệ cũng có thể phá hỏng sự phục hồi toàn cầu và đẩy thế giới vào vũng lầy bảo hộ. Hầu hết các quốc gia sẽ bị ảnh hưởng, nhưng các quốc gia nằm ở giữa sẽ gánh chịu nhiều nhất. Hiện nay, các nền kinh tế đang nổi lên của châu Mỹ La tinh có thể trở thành một trong những tử thi đầu tiên trong làn lửa đạn kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Hãy xem xét Colombia, Chile, và Peru. Các nền kinh tế đối mặt với hai vấn đề nghiêm trọng. Đầu tiên là sự tràn ngập của vốn ngắn hạn
làm theo cách của họ. Nếu có cái gì đó để nghi ngờ thì, những sự kiện của vài năm qua đã củng cố những bài học là, có quá nhiều vốn theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn có thể làm sai lệch tỷ giá hối đối tỷ giá tài sản, một tiềm năng dẫn đến thảm họa tài chính.

Những quốc gia vay nợ có thể cố gắng vượt qua các rào cản, nhưng sóng thần của thanh khoản đe doạ càn quét qua họ. Sự mất giá của đồng đô la được thiết kế bỡi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ dường như là một đề xướng quyến rũ theo quan điểm kiểu Mỹ, nhưng nền kinh tế của châu Mỹ La tinh không thể và không nên chịu gánh nặng của đồng đô la.

Sau đó có Trung Quốc. Các nhà chức trách Trung Quốc miễn cưỡng cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá
làm chậm lại tái cân bằng toàn cầu và cản trở tăng trưởng toàn cầu. Ngành xuất khẩu từ châu Mỹ La tinh nằm trong số các nạn nhân. Đồng nhân dân tệ bị đánh giá thấp cũng làm cho châu Mỹ La tinh giảm thị phần xuất khẩu hàng hoà ra toàn cầu và trở nên thành những nơi chuyên xuất khẩu vật liệu thô.

Hậu quả là sự suy giảm không mong đợi của khu vực sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp cao ở nhiều nước Mỹ Latinh. Để chắc chắn, việc tái cơ cấu hàng hoá của Mỹ Latinh để đi theo chính sách tỷ giá của Trung Quốc. Nhưng việc này đang trở nên ngày càng khó khăn cho các nhà máy trong khu vực vẫn còn kinh doanh trong điều kiện nhu cầu toàn cầu yếu và những đồng nội tệ mạnh.

Những vấn đề này nên được đặt trên bàn
hội nghị của các thành viên Mỹ La Tinh thuộc G-20 - Argentina, Brazil, và Mexico. Nhưng các quốc gia như Argentina và Brazil sợ bị trả thù của Trung Quốc nhằm vào mục đích xuất khẩu hàng hóa của họ. Ví dụ, Argentina đang lo lắng về việc giữ được thị trường mới mở cửa lại của Trung Quốc đối với dầu đậu tương, sau khi nó bị đóng cửa hồi đầu năm 2010. Và Brazil đã nói rằng họ không có vấn đề với Trung Quốc, nơi mà gần đây đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của họ.

Ở thái cực khác
, Mexico, quốc gia cạnh tranh với Trung Quốc rất khốc liệt. Trong cả hai việc kết tội và tư lợi, Mexico luôn theo quan điểm của Washington cho rằng tỷ giá hối đoái bị định giá thấp của Trung Quốc là nguyên nhân của trì trệ kinh tế.

Với tổng dân số gần 100 triệu của 3 nước Colombia, Chile, và Peru,với tổng GDP hơn 600 tỷ đô la. Với những hệ thống tài chính vững mạnh của họ, bộ khung ngân khố mạnh, nợ công thấp, và sự tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ tiêu lạm phát đã làm nên uy tín của 3 nước. Để giảm sự phụ thuộc vào những mặt hàng mà họ cũng đã ký thỏa thuận thương mại tự do với Mỹ (không cắt nghĩa được lý do không được chấp thuận bởi Quốc hội Hoa Kỳ trong trường hợp của Colombia).

Cả ba nước đều ở một vị trí duy nhất
để yêu cầu rằng G-20 phải ngưng hành động của Mỹ và Trung Quốc theo đuổi chính sách ăn xin hàng xóm mà, chính sách này đại diện như một mối đe dọa lớn cho sự ổn định kinh tế toàn cầu. Vấn đề đặt ra là Colombia, Chile, và Peru không thuộc thành viên của G-20.

Nếu G-20 muốn đóng một vai trò quan trọng trong
tiến trình ra quyết định cho hậu cuộc khủng hoảng toàn cầu, vấn đề hợp pháp đối với các quốc gia nhỏ đang mới nổi phải được giải quyết ngay bây giờ. Nếu các quốc gia không đủ tiêu chuẩn để đại diện, sự kết hợp kinh tế quốc tế sẽ trở lại mặc định để thành các tổ chức đa phương, nơi mà G-20 đạt được tiến bộ rất ít trong những năm dẫn đến cuộc khủng hoảng.

Chúng tôi đề xuất thay đổi hiện trạng bằng cách cho phép các nước này
thay phiên nhau đại diện họp với G-20. Họ có thể giúp chỉ đạo thế giới hướng tới kết hợp để phục hồi và tiết kiệm nhiều nền kinh tế đang mới nổi lên, mà họ đang trở thành nạn nhân vô tội trong những cuộc chiến tranh tiền tệ của các nước khác.

Bản quyền:
Project Syndicate, 2010.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 14h42', ngày thứ Năm, 14/4/2011

Wednesday, April 13, 2011

SỰ TRỞ LẠI Ả RẬP CỦA MỸ


Bài viết của Daoud Kuttab là Tổng Giám đốc, Community Media Network, tại thủ đô Amman của Jordan, và một cựu giáo sư của khoa Báo chí tại Princeton University.

AMMAN - Không có sự phô trương nhiều, trong vài tháng qua đã thấy không có cuộc biểu tình chống Mỹ và đốt cờ Mỹ trên toàn thế giới Ả Rập. Càng ngày người Ả Rập có vẻ sẵn sàng chấp nhận - và thậm chí hoan nghênh - chính sách của chính quyền Obama đối với khu vực.

Tất nhiên, người Ả Rập vẫn không hài lòng với sự thiên vị tiếp tục của Hoa Kỳ đối với Israel.
Không có khả năng kết thúc sự chiếm đóng quân sự suốt 44 năm vùng đất Palestine của Israel đã không được quan tâm. Nhưng nhiều người Ả Rập ngày nay thích để cho Hoa Kỳ một sư rảnh tay. Ngoại trừ thiếu sự quyết tâm của chính quyền Obama trong việc xử lý tố cáo của những người biểu tình do những cách thức cai trị của liên minh Mỹ ở Bahrain và Yemen, thì vị trí của Mỹ trong các cuộc nổi dậy Ả Rập đã được hoan nghênh.

Người Ả Rập, đặc biệt là giới trẻ, những người chiếm đa
phần dân số của khu vực, tìm đến Mỹ quyền lực toàn cầu của Mỹ khi nó phát huy những giá trị và đạo đức của dân chủ. Có sự tôn trọng cao các khái niệm về giá trị của dân, do dân, và vì dân, cũng như sự bảo lãnh của Hiến pháp Hoa Kỳ tự do ngôn luận. Trong khi nó lại thất bại khi áp dụng các giá trị này ở những vùng như Palestine hay Iraq, nơi có vô số người Ả Rập kịch liệt chống Mỹ - và vẫn thực thi.

Sự đắc cử của Tổng thống Barack Obama trong cuộc bầu cử hai năm trước đây đã có tác dụng tích cực làm cho người Ả Rập bị sốc và họ tích cực trao quyền dân chủ, họ đã nhìn thấy nó như là bằng chứng của tính chất dân chủ của Mỹ đúng sự thật. Bài phát biểu của ông Obama ở Cairo, bày tỏ trong chuyến đi nước ngoài đầu tiên của mình, hứa hẹn một khởi đầu mới Mỹ-Ả Rập, và làm cho vững chắc sinh khí dân chủ của Ả Rập.

Nhưng thử nghiệm đầu tiên
về việc lãnh đạo toàn cầu của ông Obama làm thất vọng nhiều người Ả Rập. Một phủ quyết của Mỹ đối với một nghị quyết Hội Đồng Bảo An(*) được đồng thuận bởi 14 thành viên khác trong hội đồng - để phản đối các khu định cư Israel dường như để báo hiệu rằng ông Obama đã sụp đổ dưới áp lực vận động hành lang của giới ủng hộ Israel Mỹ. Hoa Kỳ đã không xem xét lại chính sách của mình, ngay cả với đứa con trai của một người nhập cư châu Phi đang điều hành tại Nhà Trắng.

Một điểm tích cực hơn của Obama
là có mặt ngay khi các cuộc nổi dậy của người Ả Rập bắt đầu ở Tunisia và Ai Cập, nơi mà những quốc gia có chế độ thân Mỹ. Trong khi Mỹ bước đầu thể hiện sự thận trọng trong lời nói và hành động, điều đó được nhanh chóng hiểu rằng những cuộc nổi dậy thật sự phản ánh ước nguyện của người dân và hành động để gắn kết bản thân với dân chủ.

Cùng
với số dân chúng mà Obama đã kêu gọi tìm kiếm dân chủ trong phát biểu của mình ở Cairo, nó đã hình thành phong trào bất bạo động quan trọng nhất trên thế giới​​trong nhiều thập kỷ qua. Thanh niên Ả Rập cuối cùng đã nổi dậy, Obama và đội ngũ của ông đã bày tỏ sự phấn khởi ngay lập tức để khuyến khích họ, đồng thời làm cho nó rõ ràng với các chế độ của Ai Cập và Tunisia rằng họ không còn có thể ẩn đằng sau những tuyên bố rằng họ đang chiến đấu chống lại chiến tranh của Mỹ ở Bắc Phi.

Kéo ra khỏi nhà độc tài hoặc chiếm quyền điều khiển các cuộc nổi dậy mà không cần cố gắng để
tạo dựng lòng tin là quá tuyệt vời. Thanh niên Ả Rập đã phải chiến đấu và giành chiến thắng dân chủ cho chính mình. Tất cả những gì mà người Mỹ đã muốn, hầu hết những người trẻ Ả Rập nghĩ rằng Mỹ đã rút sự hỗ trợ đối với các đồng minh như Hosni Mubarak và các nhà độc tài Ả Rập khác.

Tuy nhiên,
ở Libya đòi hỏi khác. Cùng một khả năng tiềm tàng được trình bày tại Cairo và Tunis lại bằng chứng cho giới trẻ Libya, tuy ở thời điểm này, Mỹ ít có thể ngoại giao bởi vì họ không có mối quan hệ với Đại tá Muammar el-Qaddafi.

Cho nên, không ngạc nhiên, khả năng tiềm tàng của tuổi trẻ Libya húc đầu vào sự tàn bạo của Qaddafi và, quan trọng hơn, vào lính đánh thuê của ông ta. Mỹ đã có một trách nhiệm đạo đức để bảo vệ những người trẻ tuổi mà Obama đã khuyến khích. Một loại giúp đỡ cần thiết, nhưng việc quyết định giúp kiểu gì là vấn đề phức tạp.

Các nước Ả rập, đặc biệt là Ai Cập, đã có hàng trăm ngàn công dân đang làm việc tại Libya. Những chính phủ này, họ tự xem dân làm công ở Libya như là con tin của Qaddafi. Nên các quốc gia Ả Rập không thể hỗ trợ quân sự, họ chỉ có thể ủng hộ chính trị cho sự can thiệp quân sự của Mỹ, Anh, và Pháp.

Các nước vùng Vịnh nào không có công dân làm việc tại Libya, là
nơi đầu tiên tố cáo Qaddafi. Sau đó, Liên đoàn Ả Rập đã họp dưới sự chủ trì của các quốc gia vùng Vịnh. Với người trẻ Ả Rập nổi dậy từ các nước khác nhau thể hiện bên ngoài văn phòng chính phủ Cairo và yêu cầu hỗ trợ cho anh em Libya của họ, Liên đoàn Ả Rập đã lãnh lấy vị trí không đặc thù của mình: họ đồng ý tố cáo người đồng chí lãnh đạo Ả Rập của mình. Rõ ràng, thế giới Ả Rập đã được thay đổi, và Hoa Kỳ đã đột nhiên không còn là một kẻ thù, mà là một người bạn.

Sau khi đạt được
sự hỗ trợ của Hội Đồng Bảo An, Mỹ, Châu Âu, và một số quốc gia Ả Rập đã bắt đầu thực hiện một cách chính xác những gì được mong đợi của cộng đồng quốc tế khi một chính phủ đang chuẩn bị tàn sát công dân của họ: ngăn chặn cuộc tàn sát.

Tất nhiên, vấn đề của nước Mỹ với người Ả Rập và những thách thức của nó ở Trung Đông
là chuyện xa vời. Hiện tại, ông Obama vẫn phải thực hiện lời hứa ăn mừng với đầy đủ thành viên của người Palestine Liên Hiệp Quốc vào mùa thu này và rút bớt quân đội Mỹ tại Afghanistan.

Tuy nhiên,
thời điểm này, người Ả Rập không phải là biểu tình phản đối Mỹ. Thay vào đó, với sự giúp đỡ của Mỹ, họ đang hạnh phúc với những gương mặt đỏ phừng của tự do.

Bản quyền: Dự án Syndicate, 2011th
www.project-syndicate.org
--------------------------------
Ghi chú của người dịch:
(*) Đây là lần đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của ông Obama, Hoa Kỳ đã phủ quyết một nghị quyết về Ả Rập tại Hội Đồng Bảo An hôm 19/02/2011. Theo đó, HĐBA lên án các khu định cư của Israel tại các vùng lãnh thổ Palestine, với lý do là trở ngại cho hòa bình. Trong khi 14 thành viên khác của HĐBA đều bỏ phiếu thuậnc chỉ một mình Hoa Kỳ phủ quyết.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 8h02', ngày thứ Tư, 13/4/2011

Tuesday, April 12, 2011

HÃY CỨU DÒNG MÊ KÔNG!!!

Vào lúc 17h15' hôm nay 12/4/2011 tôi nhận được bức thứ của bà Aviva Imhof - giám đốc điều hành lâm thời của Hiệp hội bảo vệ những dòng sông trên thế giới với nội dung tiếng Anh và tôi đã dịch ra để đưa thông tin tới mọi người để cùng chung tay vì môi trường sống của chúng ta. Đây là nghĩa cử của một công dân. Mong mọi người chung tay vì sự sống của chúng ta để ngăn cản những hành động vì tư lợi của những quốc gia riêng lẻ mà quên mất vì cái chung của cộng đồng tòan cầu. Bức thư tiếng Anh như sau:


Dear Hai,

I’m writing to you today with a very special request. For more than 15 years, I have been working to protect the Mekong River in Southeast Asia. But today this magnificent river – known as the “Mother of all Rivers” – is facing its greatest threat ever. 


Next week, the governments of Laos, Thailand, Cambodia and Vietnam will meet to decide whether to build the first dam on the lower Mekong mainstream – the Xayaburi Dam. This dam would devastate the river’s rich fisheries and directly impact hundreds of thousands of people. 

Scientists from around the world agree that dams on the lower Mekong mainstream would sound a deathknell for the Mekong river’s rich biodiversity, impacting millions of people. The region’s governments are divided about whether to approve the Xayaburi Dam or not – and your voice can make a difference. Let’s send them a message today letting them know that the citizens of the world care about the Mekong River. 


Thank you for joining me in protecting a river that is very close to my heart. 

For people, water and life,

Aviva Imhof, Interim Executive Director


Tôi tạm dịch như sau:
Hải thân mến,

Tôi đang viết cho bạn ngày hôm nay với một yêu cầu rất đặc biệt. Trong hơn 15 năm, tôi đã làm việc để bảo vệ sông Mekong ở Đông Nam Á. Nhưng ngày nay con sông
tuyệt vời này - được gọi là "Mẹ của tất cả các con sông" - đang đối mặt với mối đe dọa lớn nhất hơn bao giờ hết.

Liệu bạn có thể hành độngngay hôm nay để bảo vệ sông Mekong?

Tuần tới, các chính phủ Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam sẽ họp để quyết định có nên xây dựng các đập nước đầu tiên trên dòng chính sông Mekong - đập Xayaburi. Đ
ập này sẽ tàn phá nguồn thủy sản phong phú của con sông và tác động trực tiếp đến hàng trăm ngàn người.

Các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đồng ý rằng các con đập trên
hạ lưu chính của sông Mê sẽ là hồi chuông báo tử cho đa dạng sinh học phong phú của sông Mekong, ảnh hưởng đến hàng triệu người. Các chính phủ trong vùng đã bị mất đoàn kết trong việc phê duyệt đập Xayaburi có được xây dựng hay không - và tiếng nói của bạn có thể tạo sự khác biệt. Hãy gửi tin nhắn ngày hôm nay cho họ biết rằng các công dân của thế giới quan tâm đến dòng sông Cửu Long.

Hãy hành động ngay hôm nay để giữ cho
dòng Mekong chảytự do.

Cảm ơn bạn đã tham gia với tôi trong việc bảo vệ một con sông mà
rất gần với trái tim tôi.

Vì nguồn nước, con người và cuộc sống,

Aviva Imhof, Giám đốc điều hành lâm thời

Tôi đã chèn link vào đúng theo thư của bà Aviva Imhof để các bạn có thể gửi thư yêu cầu ngưng xây đập thủy điện Xayabury ở Lào. Nó sẽ ảnh hưởng đến từng sự sống hạ lưu sông Mekong, mà cụ thể là dòng Cửu Long - nơi mà vựa lúa nuôi sống chúng ta - và những con tôm, cái cá dần mất theo thời gian qua. Những năm trước, cá Linh chỉ để làm mắm, nhưng hôm nay không có mà ăn.

Mong mọi công dân Việt Nam hưởng ứng lời kêu gọi này, vì một môi trường sạch, xanh và vì cuộc sống trên hành tinh xanh này.

Asia Clinic,  18h39' ngày thứ Hai, 12/4/2011
Xem thêm: http://www.cuanhcuem.net/2013/01/tong-hop-cach-chen-emoticons-threaded-comments-blogspot.html#ixzz2UfngJs3i Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial