Monday, May 30, 2011

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM VÀ HẬU QUẢ

Bài viết liên quan theo dòng thời gian:

Theo thống kê của bộ giáo dục và đào tạo, mà tôi không thể lấy được, phải nhờ bạn bè để có con số thông tin, rằng có đến khoảng 153.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và 82.000 tốt nghiệp bậc cao đẳng hằng năm. Và mọi người chỉ cần làm cú gúc gù với từ khóa "bán đề tài" thì chỉ trong vòng 0.33'' đã có 26.500 kết quả.

Sáng nay chương trình VTV1 chào buổi sáng, thông tin nổi bật dành cho giáo dục. Cái đau lòng mà những người làm chương trình truyền hình là các sinh viên đại học ngày nay làm đề tài tốt nghiệp không phải khó khăn, trăn trở như ngày xưa. Các sĩ tử chỉ cần vào một tiệm photocopy hỏi mua một kết quả công trình đã tốt nghiệp cũ, của các năm trước, rồi in ra với giá 700VNĐ một trang hoặc chép nó lại trên USB với giá 10.000VNĐ tương đương 50 xu đô la Mỹ, về nhà mở ra và sửa lại số liệu, câu văn, thế là xong một đề tài tốt nghiệp.

Đài truyền hình phỏng vấn các giáo sư tiến sĩ của các trường đại học thì, người cho rằng lỗi của các sinh viên lười tư duy, lười sáng tạo. Người thì cho rằng lỗi của các thầy/cô vì cho những đề tài chung chung, mà không cụ thể, nên các sĩ tử chỉ cần đi tìm một đề tài đã làm rồi những năm trước na ná như đề thầy/cô ra và sửa lại thế là xong nhiệm vụ. Ô hay, thế thì kiến thức của các thầy/cô đâu mà không phát hiện ra lỗi đạo văn và đạo ý tưởng của trò? Vì đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các giáo sư tiến sĩ trong nghĩa vụ của mình được ngành giáo dục giao phó. 

Chúng ta, những người lớn, không thể đổ lỗi do trò, hay đổ lỗi cho các hàng quán photocopy. Chúng ta cần nhìn lại tư duy giáo dục nước nhà để xem ai đã góp phần làm nên hậu quả đáng buồn này? Đó mới là người có trách nhiệm giáo dục - nơi là lò đúc những nhân tài của đất nước. Và đứng trên tư duy nhân quả vấn đề này đã có nguyên nhân sâu xa của nó.

Nhân tài đất nước phải được một lò đúc vô vụ lời, không đánh tráo khái niệm vì mục đích của bất kỳ ai, bất kỳ nhóm người nào. Tư duy giáo dục mỗi cấp học là đào tạo ra những con người có óc sáng tạo, không sáo rỗng và đi theo lối mòn của người xưa.

Lâu nay chúng ta vì mục tiêu chính trị đã đánh tráo một số khái niệm và đẩy nhiều thế hệ từ những năm 1940s đến nay thiếu óc sáng tạo, chỉ biết đi sao chép của người khác từ tư tưởng đến thực hành. Để rồi hậu quả là một hình thái xã hội què quặt không đúng với những qui luật của khoa học. Và cái suy thoái kinh tế kép đang hoành hành xã hội, mà không có phương thuốc cứu chữa.

Lòng yêu nước và tự hào dân tộc của mỗi công dân không mượn ai phải đánh tráo khái niệm và chỉ dạy. Mà lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc có từ trong điệu ru của mẹ, từ tiếng võng kẽo kẹt trưa hè, từ chùm khế ngọt, từ mái tóc mẹ búi sau đầu, từ gừng cay, muối mặn, và từ... mà thơ ca, điệu vè, lịch sử, văn hóa hun đúc từ thuở nằm nôi đến tuổi bạc đầu. Có thể kể ra rất nhiều đánh tráo khái niệm nó làm di hại đến hôm nay tiêu biểu sau đây.

Không biết vô tình hay cố ý mà các nhà soạn sách giáo khoa đem những bài toán cấp I với tính con số giặc bị tiêu diệt? Không biết vô tình hay cố ý mà các nhà tư tưởng biến môn kinh tế chính trị học Marx Lenin thành triết học để thui chột tư duy và đánh vào nỗi chán chường của các thế hệ Việt với môn khoa học là vua các môn khoa học - triết học - để rồi tư duy các thế hệ từ đó đến nay không còn độc lập, không còn sáng tạo, mà chỉ còn biết nhai lại. 

Không biết tự bao giờ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trở thành Trung Quốc - tức là nước trung tâm của mọi nước - mà không là Trung Hoa? Theo hiểu biết của tôi thì, Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Dật Tiên thành lập ngày 01/01/1912 sau cuộc cách mạng Tân Hợi. Rồi sau đó chính thể của ông Tưởng Giới Thạch mang cái tên này theo ra lập quốc ở Đài  Loan. Nếu vì cái tên Trung Quốc bắt nguồn từ chữ Trung Hoa Dân Quốc thì Trung Hoa đại lục ngày nay cũng không thể gọi là Trung Quốc. Một sự đánh tráo khái niệm.

Và cũng không biết tự bao giờ, biển Đông trở thành biển Nam Trung Hoa (South China Sea)? Ngày tôi còn cắp sách đến trường phổ thông trước 1975, tôi chưa bao giờ nghe đến danh từ "biển Nam Trung Hoa". Chỉ sau này nghe đến nó. Lại một kiểu đánh tráo khái niệm. Mà hậu quả của nó là biến biển  Đông của chúng ta trở thành của Trung Hoa. Hãy trả những khái niệm trở về đúng với sự thật của lịch sử nhân loại và của địa lý mà nguyên bổn của nó đã và đang có: Trung Hoa và biển Đông. Và tôi mong rằng những khái niệm này được phương tiện truyền thông đại chúng và sách giáo khoa dạy trong hệ thống giáo dục sử dụng nó là thường quy.

Văn hóa nền của một dân tộc không mất đi, nhưng sẽ bị sai lệch và chuyển hướng do thể chế chính trị định hướng cộng đồng thông qua quyền lực thứ tư - truyền thông đại chúng - và giáo dục mà thành. Tư duy của cộng đồng cũng vì đó mà phát triển theo hướng của các chính trị gia đưa ra. 

Tôi tha thiết mong mỏi các nhà tư tưởng Việt hãy trả giáo dục và truyền thông về đúng nhiệm vụ giáo dục của nó, mà không có bàn tay vô hình của các chính khách. Hòng đưa dân tộc Việt có một trí tuệ mẫn tiệp trong những thân thể cường tráng, thì mới hy vọng những tha hóa trong học thuật mới rút vào bóng tối. Nếu không, đây sẽ lại là tế ông thật mã, làm Việt Nam luôn trong tình trạng khủng hoảng con người - mà đặc biệt là khủng hoảng con người lãnh đạo - Đó là hiện trạng của đất nước trong hơn một thập kỷ nay.

Asia Clinic, 14h42', ngày thứ Hai, 30/5/2011

Saturday, May 28, 2011

CỤC DIỆN MỚI CỦA NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Bài liên quan theo dòng thời gian:

Lẽ ra không viết, vì làm dân một nước đã có đảng và nhà nước lo tất mọi chuyện. Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng là phạm húy và cũng chẳng ai cần. Nhưng suy nghĩ kỹ thì cũng phải viết vì tôn chỉ của blog: "Chia sẻ kiến thức là con đường dẫn đến sự bất tử". Thôi thì cũng làm một cái tổng kết cho thế hệ mai sau có cái nhìn lịch sử nước nhà hôm nay vậy.

Giữa tháng 8 năm 2009, tôi viết bài Đu dây, để nói lên chiến lược ngoại giao của Việt Nam trong thời kỳ mới. Chính sách ngoại giao này đã mang lại một năm hùng cường cho ngoại giao Việt. Mặc dù những bộ phận còn lại của xã hội Việt đều thất bại. Thế nhưng, đời luôn biến động, mọi tư duy hôm nay sẽ là lỗi thời cho ngày mai. Càng dễ dàng lỗi thời khi ta không phải là một cường quốc, ta không nắm được quyền chủ động để thay đổi chiến lược toàn cầu.

Cho nên những thay đổi chớp nhoáng của thế giới trong năm 2011 đã làm cục diện toàn cầu có nhiều thay đổi. Cục diện mới ấy lại thay đổi khi cái chết của Osama bin Laden do người Mỹ gây ra bằng một lực lượng biệt kích chuyên nghiệp với 4 trực thăng tàng hình, diễn ra trong 2h đồng hồ (kể cả thời gian ông Obama viết bài diễn văn trên truyền hình đêm 11 rạng sáng 12/5/2011) tại một trung tâm quân sự, mà người ta cho rằng dùng để bảo vệ Osama, có thể có sự tiếp tay của Trung Hoa, mà cả thế giới không hay biết!!!

Câu chuyện cái chết của Osama đã làm một ông tướng cao cấp nhất của Trung Hoa tức tốc đến Mỹ, và công nhận với các tướng quân đội Hoa Kỳ rằng còn có một khoảng cách khổng lồ giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Hoa, nên Trung Hoa không đủ khả năng thách thức với quân đội Hoa Kỳ!

Nhưng quân đội Trung Hoa lại có khả năng thách thức với quân đội các nước khác? Và bằng chứng ấy đã thể hiện qua câu chuyện hôm 25/5/2011, họ phô trương giàn khoang sẽ hoạt động ở biển Đông. Lấn tới thêm bước nữa, họ đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt. Hôm qua, 27/5/2011, tàu hải giám của Trung Hoa vi phạm vùng biển của Việt Nam, và cắt đứt cáp của hệ thống rà tìm giếng dầu ở biển Đông của tàu Petro Việt Nam đang hoạt động trên biển của Việt Nam. Việt Nam chỉ biết tuyên bố và đòi bồi thường thiệt hại.

Ngược dòng thời gian trong 5 tháng đầu năm 2011, đầu tiên là, ông đại sứ Michalak xong nhiệm kỳ trở về nước hồi tháng 02/2011, nhưng đến hôm nay, dù TT Obama đã bổ nhiệm ông David Shear làm đại sứ và sẽ nhậm chức ngay sau khi ông Michalak hoàn thành nhiệm vụ, chỉ vì lý do chuyện xin con nuôi bị gián đoạn, mà đại sứ Hoa Kỳ vẫn chưa có ở Việt Nam. Ô hay, chuyện quan hệ ngoại giao giữa 2 nước là chuyện lớn, nhưng chỉ vì cái cớ nhỏ chuyện xin con nuôi Việt Nam của người Mỹ đã làm gián đoạn là sao? Bên cạnh đó, công ty dầu hàng đầu của Hoa Kỳ rút khỏi biển Đông sau bao nhiêu năm hợp tác vì lý do "thiếu thanh khoản". Mọi động tịnh ở biển Đông được Hoa Kỳ quan tâm sâu sát năm 2010 bao nhiêu thì, năm 2011 những vấn đề Trung Đông và Bắc Phi, cũng như Trung Á làm họ không còn quan tâm đến biển Đông hay là có cái gì đó không hài lòng với ta, sau những nỗ lực của họ trong những năm gần đây?

Cũng ngược dòng thời gian, hơn 1 năm nay Trung Hoa không thấy quấy nhiễu ta trên biển Đông. Nhưng sau cuộc họp thượng đỉnh giữa ông TT Obama và ông Hồ Cẩm Đào, thì tình hình nguội lạnh xảy ra trên biển Đông. Và Trung Hoa lấn tới, mặc dù ta vẫn tuyên bố Việt Nam và Trung Hoa đối thoại chiến lược quốc phòng. Và vẫn là hai người bạn 4 tốt và 16 chữ vàng. Cũng không nên quên chuyện Hoa Kỳ và Trung Hoa bán đứng VNCH qua hiệp định Paris 1973. Rồi sau đó, Hoa Kỳ cấm vận CHXHCN VN suốt từ 1975 đến 1994, còn Trung Hoa thì dạy cho một bài học năm 1979.


Cũng ngược dòng thời gian, năm 2007, những đoàn người Việt xuống đường biểu tình lên án Trung Hoa lấn chiếm biển Đông và đánh chìm. bắt nhiều ngư dân Việt trên biển Đông. Rồi cuối cùng, một số thành viên tiên phong xuống đường ấy bây giờ có người vẫn còn nằm ở trong tù hoặc được chính quyền quan tâm, vì nhiều lý do khác nhau: trốn thuế, vi phạm an ninh quốc gia, etc... cũng chỉ vì lòng yêu nước. Nhưng cũng đi biểu tình thì có người lên chức nhờ làm chỉ điểm và hại người để tâng công!

Những gì diễn ra trong tháng này có phải chăng là hậu quả của chiến lược đu dây trong ngoại giao? Và có phải chúng ta đã để lỡ một cơ hội nữa trong ngoại giao, sau những gì đã sai lầm trong ngoại giao sau thống nhất giang sơn 1975? Đứng ở góc độ người dân, khách quan nhìn sự việc, có 5 vấn đề cần quan tâm,

Thứ nhất là, Hoa Kỳ hay Trung Hoa đến với Việt Nam là chỉ đến với chính quyền Việt Nam. Họ đủ sức hiểu đến với nhân dân Việt Nam chẳng lợi lộc và chẳng hiệu quả bằng đến với chính quyền.

Thứ hai là, Hoa Kỳ không muốn Việt Nam chơi chính sách đu dây. Còn Trung Hoa thì muôn đời tráo trở. Bạn và thù với họ luôn song hành trong chính sách ngoại giao với ta.

Thứ ba là, đối với chính quyền Việt Nam đương đại, dân không được tham gia vào vấn đề nhạy cảm này. Chỉ nên bàn, chuyện to lớn hãy để các tinh hoa giải quyết. 

Thứ tư là, để lựa chọn giữa Trung Hoa và Việt Nam trong cùng một tư thế thì, Hoa Kỳ sẽ chọn Trung Hoa vì: (1) Một thị trường lớn nhất thế giới. (2) Ông chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. (3) Một cường quốc hiện đang đứng hàng thứ 2 về tiềm lực kinh tế. (4) và cuối cùng là hầu hết tất cả các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ đều có nhà máy đặt ở Trung Hoa, và chính sách đồng Yuan giá rẻ là một mối lợi kếch sù để họ mang lợi nhuận về cho nước Mỹ. Còn với Việt Nam thì có gì để Hoa Kỳ quan tâm, ngoại trừ nếu chịu làm trái độn cho Hoa Kỳ bên cạnh Trung Hoa?

Cho nên vấn đề cuối cùng là đối với mỗi người dân Việt, tốt nhất dân Việt Nam không nên bị kích động dù bất kỳ 3 phía nào ở trên để phải vì nó mà vào vòng lao lý hoặc làm xấu đi tình hình, dù đó là lòng yêu nước tối thiểu! Vì trong ngoại giao, có những động thái thấy vậy, nhưng không phải là vậy. Và vì như tôi đã viết trong bài Gaddafi, hương hoa nhài và cách mạng xã hội rằng: "Qua lịch sử các cuộc cách mạng vô sản toàn cầu, từ Âu sang Á đến Phi. Chúng ta thấy một sự nghịch lý đau lòng: Chỉ có giai cấp vô sản mới làm cuộc cách mạng triệt để, vì họ không có gì để mất và ác độc. Nhưng họ không đủ khả năng để xây dựng và họ thiếu nhân bản. Cuối cùng các cuộc cách mạng xã hội thành công hầu hết quay lại con đường độc tài và tham nhũng. Cái mà họ đã từng chối bỏ nó. Họ đối xử với dân mình còn tệ hơn ngoại xâm đối xử với dân mình"

Thôi thì ai có quyền và lợi ở đất nước này, họ tự biết lo lấy những gì họ đang có vậy. Làm dân thì chỉ biết bàn, chuyện thực thi là chuyện của các tinh hoa.

Asia Clinic, 14h18', ngày 28/5/2011

Friday, May 27, 2011

TỔ CHỨC INTERNATIONAL RIVERS TUYỂN NHÂN VIÊN

Sáng nay tôi nhận được bức thư của bà Aviva Imhof giám đốc điều hành của tổ chức International Rivers gửi để tuyển dụng người, làm việc ở Bangkok. Các bạn trẻ nào có khả năng tiếng Anh, có ảnh hưởng đến cộng đồng và có kinh nghiệm trong việc vận động cộng đồng, thì nên làm đơn nộp. Tôi không cần phải dịch ra tiếng Việt. Bức thư đó như sau:

Dear all,

International Rivers is seeking qualified candidates to join our SE Asia program as a Mekong Campaigner.  We would appreciate it if you could forward this announcement to your networks and others that might be interested. Attached, please find the job description.

Interested candidates need to submit their applications to jobpost@internationalrivers.org by June 15th, 2011, with subject line "Mekong Campaigner".

Many thanks for your help!

Aviva Imhof
--
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::
Aviva Imhof
Interim Executive Director
International Rivers
tel: +1 510 848 1155, ext. 312
skype name: avivaimhof

Assistant: Jamie Greenblatt, jamie@internationalrivers.org
 Trong thư có đính kèm một thông báo như sau:
 
Position Available

Mekong Campaigner

Bangkok, Thailand

International Rivers supports communities around the world in protecting their rivers, watersheds and human rights. We work to halt destructive dams and encourage better methods of meeting needs for water, energy and protection from floods.

International Rivers is looking for a full-time campaigner to work in our Bangkok office. The Mekong Campaigner will help support the regional campaign against dams on the mainstream Mekong River. S/he will work closely with the Save the Mekong coalition and other local, regional and international organizations working to protect the Mekong River Basin. The campaigner will be expected to travel within the Mekong region and occasionally to other parts of the world. The Mekong Campaigner reports to the Southeast Asia Program Director.

Primary responsibilities

1. Networking, Outreach and Capacity-Building
Work with the Southeast Asia Campaigns Team to support a regional network of affected people, NGOs and individuals committed to protecting the Mekong River from mainstream dams. Tasks include organizing and attending local and regional meetings, answering emails and information requests, public speaking, managing small grants applications, active outreach to groups in the region, and coordination with international support groups. Support the activities of the Save the Mekong coalition through writing various materials for the coalition, providing input into strategy development, joining coalition meetings and activities, and maintaining www.savethemekong.org.

2. Information Dissemination, Research and Writing
Coordinate dissemination of information to key decision-makers, bilateral donors, other NGOs, and the general public. This includes writing of action alerts, press releases, blogs, articles for publication in International Rivers’ magazine World Rivers Review, fact sheets, briefing papers, trip reports, campaign updates and other materials where necessary. Update and maintain relevant sections of the International Rivers website. Conduct research into priority projects if needed.  Write content for grant proposals and reports. When Environmental Impact Assessments and other technical documents are released, work with experts to prepare critical reviews.

3. Media, Communications and Outreach
Implement International Rivers’ communications strategies at the national, regional and international level for drawing public attention to the potential impacts of dams on the Mekong mainstream. Communicate with the foreign press corps in Thailand and regional journalists, and act as media spokesperson on occasion.

4. Lobbying and Advocacy
Together with the Southeast Asia Campaigns Team and regional and international partners, implement a medium-term strategy for stopping the development of dams on the Mekong mainstream, initially focused on the Xayaburi Dam in Laos. This will include helping to execute targeted strategies to dissuade project developers, governments and financiers from building Mekong mainstream dams, while persuading the Mekong River Commission (MRC) and its bilateral donors to take a clear position against dams on the Mekong River’s mainstream. When necessary, challenge the MRC’s processes including the Basin Development Plan and the Procedures for Notification and Prior Consultation and Agreement (PNPCA).

Skills and Experience Required
·        Strong written and verbal communication skills in English
·        At least three years experience conducting advocacy campaigns, preferably at the international level.
·        Knowledge of Mekong region politics, developments and issues, including some knowledge of hydropower issues.
·        Excellent organizational, planning and interpersonal skills, including the ability to work both independently and within a team
·        Commitment to environmental integrity, social justice and the mission of International Rivers
·        Excellent computer skills
·        Bachelor’s degree or equivalent experience

Desired Qualifications
·        Ability to speak, read and write one regional language (Thai, Khmer, Lao or Vietnamese) preferred
·        Experience with campaigning to influence financial institutions

Salary and Benefits

Competitive salary and benefits package includes health insurance and excellent vacation and sick leave. Salary dependent on experience.

Application Procedures

Please send an application letter in English with resume, English writing sample and expected salary to jobpost@internationalrivers.org by June 15th, 2011, with subject line “Mekong Campaigner”.

International Rivers is an equal opportunity employer and encourages applications from all qualified candidates regardless of age, class, disability status, ethnicity, gender, race and sexual orientation.

International Rivers offers a stimulating, casual and flexible work environment.

Chúc các bạn trẻ thành công,

Asia Clinic, 8h01 AM, ngày thứ Sáu, 27/5/2011

Tuesday, May 24, 2011

MÁU ĐANG CHẢY ĐẦY ĐƯỜNG?

Tối 22/5/2011 trong mục bình luận kinh tế Việt Nam của các nhà kinh tế tài chính trên truyền hình lúc 21h tối cuối tuần, ông tổng giám đốc ngân hàng Bảo Việt có một phát biểu với những con số rất ấn tượng và kết luận rất thực tế: "Theo thống kê, năm 2011, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tương đương 3 triệu tỷ đồng, tương ứng với 1,2 lần số tiền huy động tín dụng cả năm. Ước tính năm 2012, số dư nợ tín dụng sẽ tăng lên 1,4 lần so với tổng huy động tiết kiệm trong cả nước. Cái vòng luẩn quẩn thiếu thanh khoản ngân hàng cứ tiếp diễn và lãi suất kịch trần vẫn cứ xảy ra, mặc dù báo cáo tình hình tăng trưởng tín dụng của khối tài chính ngân hàng vẫn cứ cao. Nhưng kết quả cuối cùng là lạm phát tăng cao, và nền kinh tế chụp giật cứ mãi tồn tại".

Tiếp lới ông ngân hàng Bảo Việt là câu kết của ông cựu thống đốc ngân hàng cho rằng vấn đề kinh tế Việt nam là vấn đề thuộc về cơ cấu nền kinh tế và hình thái chính trị xã hội Việt nam không đúng với qui luật, chứ không còn là vấn đề đem nghị quyết này, hay chủ trương nọ ra chữa cháy tạm thời. Một nền kinh tế giật gấu vá vai, trên một kiến trúc thượng tầng cũ nát. Và vòng xoắn bệnh lý kinh tế Việt ngày càng trầm kha.

Đã hơn 2 năm nay, tôi đã đứng trên quan điểm triết học viết rất nhiều bài về hình thái xã hội và sự phát triển, cũng như lý luận đưa ra hình thái kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa là sai lầm về mặt lý luận và triết học. Nhưng nó vẫn cứ được đại hội đảng lần thứ 11 thông qua và vẫn cứ thực hiện giai đoạn quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng, trong 4 tháng qua kết quả, các nước trên thế giới đang đi ra khỏi khủng hoảng kinh tế thế giới thì, nền kinh tế nước ta đang lao vào cuộc khủng hoảng kép. 

Hôm nay, để chào mừng thắng lợi của cuộc bầu cử quốc hội lần thứ 13 và hội đồng nhân dân các cấp thành công rực rở, nền kinh tế Việt Nam đầu tuần này có những dấu hiệu báo động một thời kỳ khó khăn đang đến. Khi thị trường chứng khoán, nơi đại diện đầu tư lâu dài bán tháo cổ phiếu, chứng kiến một đợt rơi tự do lớn với 8 phiên giao dịch rớt giá liên tục. Còn nền nông nghiệp mà ta luôn tự hào là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới thì, nhà nông bỏ ruộng vì chi phí tăng.

Ba khu vực kinh tế nước nhà: bất động sản đang trên đà vỡ bong bóng. Hệ thống công thương nghiệp đang tháo chạy. Nông lâm thủy hải sản đang chết mòn vì ngoại và nội xâm. Để cho 3 khu vực ấy có sức khỏe, thì tiền tệ phải lưu thông. Nhưng tiền tệ đã, đang và sẽ bị đóng băng vì những biện pháp cực đoan do lỗi lầm của một cấu trúc thượng tầng không hợp thời. Máu đang chảy đầy đường, và các con kền kền đang chực chờ những thây ma đang hấp hối.

Nếu những gì đang diễn ra là đúng thì, rõ ràng phải cảm ơn chính phủ đã có công gầy đắp cho lượng tích đủ thành chất để cho cuộc họp quốc hội đầu tiên của khóa 13 sẽ làm nên những thay đổi ngoạn mục vào tháng 7 tới.

Cấu trúc hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Khi cấu trúc hạ tầng đổ máu không cầm được, thì cái thây ma kiến trúc thượng tầng cũng đã đến giờ cần phải chôn cất, tẩm liệm để một vòng tuần hoàn mới được tái sinh.

Và khi máu đang chảy đầy đường cũng là lúc những ai muốn một đất nước Việt hùng cường hãy chuẩn bị tâm thế và tư thế để đầu tư và phát triển cho nền kinh tế Việt vì một thương hiệu toàn cầu.

Asia Clinic, 7h21', ngày thứ Ba, 24/5/2011

Sunday, May 22, 2011

VÀI DÒNG VỀ Y TRIẾT

Lâu rồi không chạm đến đề tài y khoa. Hôm nay có thân chủ hỏi tỷ mỷ về một căn bệnh thông thường. Và cũng có một học viên thạc sỹ y khoa nhờ viết về một vấn đề y triết học mà anh ta đang học, nhưng chưa thông. Nên xin viết ra đây để xem như một giải trình y triết. Vì triết học là môn khoa học chung nhất, nó nghiên cứu sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, để tìm ra những quy luật của các đối tượng nghiên cứu. Nếu không nắm được nó thì sẽ không thể có phương pháp và giữ lại những kiến thức sâu rộng của nhân loại hôm nay.

Trong một bài trước đây, nói với một đồng nghiệp đang vướn vào vấn đề y đức. Tôi đã từng viết trong y học có 3 bậc mà bất kỳ người thầy thuốc nào cũng phải biết: y chứng, y nguyên và y triết. 

Y chứng là y triệu chứng, công việc của các người làm y ở bậc thấp nhất. Đau đâu đánh đấy, mà không cần biết nguyên nhân. 

Y nguyên là y học nguyên nhân, công việc của những thầy thuốc đích thực. Phải tìm ra nguyên nhân để chữa và tiên lượng bệnh thành bại trong chữa trị.

Y triết là y học của tầm vĩ mô nhìn thấu được y lý của cả nhân loại để đi đến việc đạt được tiêu chí của ngành y: "Phòng bệnh hơn chữa bệnh".

Y học là một ngành khoa học thực chứng có liên quan cả 2 lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội. Có thực hành, thực nghiệm và có chứng cứ cho mọi tư duy và hành động trong nghề nghiệp. Y học không phải là chiêm tinh học, cái ngành mà chỉ ngồi để phán đoán dựa theo những gì đã được cho là "đúng" như thầy bói.

Nếu trong y học phương Đông lấy triết lý phương Đông làm nền tảng lý thuyết để mọi thực hành làm theo trong việc khám và chữa bệnh. Thì ngược lại, y học Tây phương lấy thực chứng để làm nên lý thuyết cho mọi hoạt động trên cơ sở sử dụng duy vật luận là nền tảng cho thực chứng.

Trong y nguyên lại chia làm 3 bậc khác nhau - theo thứ tự của độ khó - điều trị, chẩn đoán và tiên lượng. Người làm nghề y giỏi là người chẩn đoán và tiên lượng giỏi. Chứ không phải người điều trị giỏi. Vì chẩn đoán không đúng nguyên nhân thì điều trị sẽ không hết bệnh. Và nếu chẩn đoán đúng nguyên nhân, nhưng tiên lượng chưa đúng thì việc điều trị cũng không đem đến một kết quả hoàn hảo, mà có khi tiền mất mà tật lại mang. Ví dụ: một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã chẩn đoán đầy đủ cần phải phẫu thuật. Nhưng dù có phẫu thuật hay không phẫu thuật khối ung thư đó thì, tiên lượng thời gian sống còn của người bệnh không thay đổi thì, có nên đè người bệnh ra để phẫu thuật không? Đó là y đức rút ra từ tiên lượng trong y học.

Làm sao một thầy thuốc có thể chữa hết bệnh cho một bệnh nhân khi người thầy thuốc ấy không hoặc chưa tìm ra được nguyên nhân của căn bệnh ấy? Nên việc của người thầy thuốc là phải chẩn đoán được bệnh không chưa đủ, mà phải chẩn đoán được nguyên nhân của căn bệnh ấy. Nếu không, nhiệm vụ của người thầy thuốc chưa hoàn thành.

Từ gần 2.600 năm trước, khi ngài Tất Đạt Đa ngộ, ông đã đưa nhân - quả trở thành một qui luật cho đạo và đời. Sau ngài Tất Đạt Đa hơn 2200 năm - Emmanuel Kant (1724-1804) - mới dùng nhân quả như một cặp phạm trù cho lý luận của mình. Mặc dù trước Emmanuel Kant các nhà khoa học vẫn sử dụng nhân - quả như một cặp phạm trù trong suy luận để khai phá mọi lĩnh vực tự nhiên và xã hội.

Nếu chịu khó quan sát, cuộc sống thường nhật nhân - quả luôn hiện diện mọi lúc, mọi nơi, mọi hiện tượng sự vật. Trong y học và trong các ngành khoa học khác, nhân - quả không thể thiếu khi biết dùng nó một cách nhuần nhuyễn.

Đứng trên quan điểm y triết, thì bệnh lý là hậu quả. Còn nguyên nhân gây ra bệnh nằm ở đằng sau là cái mà thầy thuốc cần tìm để giải quyết bệnh. Nhưng ngoài quan điểm y triết ra, người thầy thuốc còn phải nhìn thấu cái kết cuộc của nguyên nhân gây ra bệnh nó sẽ đưa căn bệnh đi về đâu với khả năng hiểu biết và chữa trị của y học đương đại. Ấy mới là một thầy thuốc toàn diện và làm đúng chức năng và nhiệm vụ của mình. Và lúc ấy người thầy thuốc mới đạt được tiêu chuẩn y đức.

Người thầy thuốc giỏi và có đạo đức là người thầy thuốc phải có kiến thức toàn diện chứ không chỉ có kiến thức y học - đặc biệt phải thông tư tưởng triết học trong y học - thì mới nhìn ra bản chất của những hiện tượng mà được gọi là những biểu hiện lâm sàng của bệnh lý, nguyên nhân của bệnh lý và bao nhiêu cặp phạm trù khác đang có mặt trên con bệnh của mình.

Và không cứ gì trong y học mới cần đến triết học để làm nền tảng cho sự đi tìm. Mà triết học đã là nền tảng cho mọi phát minh nhân loại từ khi khai sinh lập địa đến ngày nay.

Asia Clinic, 10h20' ngày Chúa Nhật, 22/5/2011

Friday, May 20, 2011

LÀM SAO ĐỂ CHÂU Á ĐỐI PHÓ VỚI TÌNH TRẠNG TIÊU THỤ ĐANG HẤP HỐI CỦA MỸ?


Bài viết của Stephen S. Roach, một giảng viên tại Yale University, ông còn là Non-Executive Chairman của chi nhánh Morgan Stanley châu Á và tác giả của cuốn The next Asia (do Wiley xuất bản năm 2009).

NEW HAVEN - Châu Á cần có một khách hàng mới. Một thế hệ sau cuộc khủng hoảng của những "khách hàng thây ma" (1) tại Hoa Kỳ có khả năng tăng trưởng què quặt cho tiêu thụ toàn cầu trong nhiều năm tới. Và điều đó có nghĩa là châu Á đang phát triển nhờ xuất khẩu hiện nay không có lựa chọn, nhưng có thể chuyển và dựa vào 3,5 tỷ người tiêu dùng của mình.

Tất nhiên, đây không phải là lần đầu tiên mà châu Á đã phải đối mặt với cái chết kinh tế đang diễn biến. Những thây ma tập đoàn Nhật Bản đang ở tâm điểm đầu tiên của "thập kỷ mất mát" trong những năm 1990s. Những công ty thiếu năng động được đặt vào hỗ trợ tín dụng cho sự sống bỡi các Zaibatsu (2) - các đối tác như là ngân hàng – đang trì hoãn thất bại không thể tránh khỏi của họ và duy trì sự thiếu hiệu quả và làm thoái chí dẫn đến sự sụp đổ sau hậu quả bong bóng trong tăng trưởng kinh tế Nhật Bản.

Tương tự như vậy, cuộc khủng hoảng 2008-2009 đang tạo ra những thây ma cần cứu trợ ở phương Tây. Từ Wall Street đến AIG (American International Group: tập đoàn bảo hiểm đa quốc gia của Mỹ) cho đến Detroit, Mỹ đã nhanh chóng giải cứu những tập đoàn khổng lồ và bỏ rơi một số tập đoàn khác. Anh và Châu Âu cũng làm tương tự, họ ném mạch sống đển RBS (Royal Bank of Scotland), HBOS (Tập đoàn ngân hàng và bảo hiểm của Anh), Lloyds, Fortis, Hypo Real Estate, và những tập đoàn khác. Ở phương Tây, lý do là quá lớn để sụp đổ. Nó khác nhau như thế nào với suy thoái của Nhật Bản gần 20 năm trước?

Nhưng nổi bật nhất của những thây ma kinh tế như là một nhát dao cắt ngang rộng khắp ở người tiêu dùng Mỹ, những người vẫn còn những nỗi đau khổ từ sự tàn phá của cuộc Đại suy thoái. Bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ thất nghiệp cao có tính lịch sử, mất việc làm ào ạt, và những đồng lương trì trệ, trong khi gánh các khoản thế chấp lún quá sâu, nợ quá nhiều, và tiết kiệm cổ phiếu, người tiêu dùng Mỹ bị siết họng hơn bao giờ hết.

Đúng lúc này thì, chính phủ Mỹ đã cố gắng hầu như tất cả mọi biện pháp để ngăn chặn tiêu dùng bằng cách điều chỉnh. Chính phủ Mỹ đã làm quá những đòi hỏi cần thiết cho trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm, mạng lưới an toàn xã hội đã được tung ra để ôm đồm việc ngăn chặn chương trình tịch biên nhà đất, các hình thức giãn nợ, và kích thích tiền tệ và tài chính một cách mạnh mẽ.

Lòng trắc ẩn là một dàn khung đạo đức của bất kỳ xã hội nào. Nhưng một lằn ranh mỏng ngăn cách nó với "sự hủy diệt sáng tạo" đó là điều cần thiết để thanh lọc một hệ thống sau khủng hoảng do những hành động thái quá. Nhật Bản vượt qua lằn ranh vào những năm 1990s, khi những công ty thây ma bị ngăn cản một cách đau đớn bằng những điều chỉnh cần thiết cho nền kinh tế sau phát triển bong bóng. Điều đó có thể xảy ra ở Mỹ nếu Washington tiếp tục chính sách ủng hộ bỏ qua sự thái quá thiếu thận trọng của quá khứ gần đây và ngăn cấm sự giãn nợ và quyết toán sửa chữa mà những thây ma người tiêu dùng của Mỹ bây giờ cần phải chữa lành vết thương hậu khủng hoảng.

Mặc cho các sáng kiến ​​hỗ trợ đời sống của chính phủ, người tiêu dùng Mỹ dường như đang hướng đến năm cắt giảm chi tiêu. Thị phần tiêu thụ của Mỹ hiện đang cao, chiếm 70% GDP. Đó là nó đã xuống từ mức cao 71,3% vào đầu năm 2009, nhưng nó vẫn còn cao hơn 4% so với mức 66%, cái mức chiếm ưu thế trong 25 năm cuối của thế kỷ XX.

Phải trở lại thị phần trước đó khi người tiêu dùng Mỹ phải chuyển sự hỗn loạn do bùng nổ của thời kỳ thịnh vượng sang sự tỉnh táo trong tiêu dùng trong thời kỳ suy thoái . Đó là phép thuật chinh phục tốc độ tăng trưởng ở thị trường tiêu dùng Mỹ trong những năm tới - với một tác động dự đoán với quy mô lớn vào tiêu thụ toàn cầu. Hãy cứ nhìn, trong khi Mỹ chỉ chiếm 4,5% dân số thế giới, nhưng người tiêu dùng Mỹ chi tiêu đến mười ngàn ba trăm tỷ đô la hàng năm - nhiều nhất trên thế giới.

Vì vậy, với tăng trưởng tiêu dùng Mỹ bị hạn chế, những nơi nào sẽ xảy ra suy thoái như ở Mỹ? Châu Âu? hay Nhật Bản? Tôi không đặt dự đoán của mình vào một trong hai nơi này.

Châu Á là nơi phù hợp với tình hình. Là một khu vực xuất khẩu, châu Á vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường cuối cùng của người tiêu dùng ở các nước phát triển. Thị phần xuất khẩu của 12 nền kinh tế lớn nhất đang phát triển của châu Á đã tăng từ 35% sản lượng xuất khẩu của toàn khu vực vào cuối những năm 1990s lên 45% vào đầu năm 2007. Hiển nhiên là mỗi nền kinh tế trong khu vực hoặc là rơi vào suy thoái hoặc đột ngột trải qua tăng trưởng chậm khi thương mại toàn cầu sụt giảm vào cuối năm 2008. Không thể tách rời tăng trưởng kinh tế châu Á và thị trường tiêu thụ to lớn của Mỹ.

Châu Á cũng không nên có một ý thức sai lầm về an ninh từ tất cả những cường điệu hiện đang được chấp nhận với những hy vọng và ước mơ của một cái gọi là "thế giới hai tốc độ". Châu Á phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ một nguồn nhu cầu mới, thay vì phụ thuộc nặng vào thị trường của phương Tây.

Nó phải bắt đầu bằng cách soi lại mình. Đối với phát triển châu Á hầu như giống nhau, cả tiêu dùng cá nhân nội địa hiện đang đứng ở mức thấp kỷ lục chỉ 45% của GDP – rớt mất mười phần trăm từ 55% thị phần mới đây vào năm 2002.

Không phải nhu cầu tiêu dùng châu Á ngủ đông. Mà là, tăng trưởng kinh tế châu Á đang đi lệch hướng, nặng về xuất khẩu và đầu tư cố định như là phương tiện chính để thu hút lao động dư thừa và tạo ra thịnh vượng. Trong một thế giới sau khủng hoảng - suy giảm do thây ma người tiêu dùng của Mỹ - Nhu cầu quan trọng một châu Á chủ đạo xuất khẩu là cần tái cân bằng thúc đẩy tiêu thụ.

Không ở đâu có bằng chứng rõ ràng hơn ở Trung Hoa. Với thông tin tiêu dùng đã giảm đến một mức thấp kỷ lục 35% GDP trong năm 2008 (thấp hơn 10% chỉ tiêu của châu Á), Trung Hoa phải đối mặt với mệnh lệnh tái cân bằng lớn - tất cả phải cấp bách hơn nếu sau cuộc khủng hoảng tăng trưởng tiêu thụ ở phương Tây vẫn còn yếu.

Tin tốt lành là Trung Hoa dường như đã đi đến một kết luận tương tự. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 là tập trung vào ba sáng kiến thúc đẩy tiêu dùng: việc làm (đặc biệt là lao động dịch vụ); tiền lương (chú trọng tình trạng gia tăng đô thị hóa); và giảm tiết kiệm phòng ngừa cho tương lai ở hộ gia đình (bằng cách mở rộng của an sinh xã hội). Nếu Trung Hoa thực hiện ba mặt trận này - như tôi cho là nó sẽ xảy ra Thì thông tin tiêu dùng của Trung Hoa có thể tăng khoảng 5% GDP từ nay đến năm 2015.

Đó sẽ là tin tốt cho nền kinh tế Đông Á - cụ thể là, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Với dân số tương đối nhỏ - và một giảm sút dân số trong trường hợp của Nhật Bản - những nước này không có sự lựa chọn, nhưng phải dựa vào xuất khẩu và nhu cầu bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Lúc đó, đối với cả ba nước Nhật, Hàn và Đài, Trung Hoa sẽ thay thế Mỹ để trở thành thị trường xuất khẩu chủ yếu của họ.

Đó là sự thay đổi xảy ra đúng thời điểm (in the nick of time). Nếu Trung Hoa thành công trong việc thực hiện thúc đẩy tiêu dùng của chương trình nghị sự, phần còn lại của châu Á sẽ có vị thế tốt để tránh những hậu quả những thây ma từ thế hệ mới của người tiêu dùng Mỹ. Hoa Kỳ phản ứng như thế nào là một vấn đề hoàn toàn khác với vấn đề hiện thời của các nước châu Á.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org
---------------------------------------------------
Ghi chú của người dịch: 
1. Zombie Consumers: khách hàng thây ma. Còn có thể dịch là khách hàng tiêu thụ thoi thóp, hay khách hàng vật vờ, hấp hối… Ở đây tôi dùng từ thây ma để nói lên tình trạng sa sút không chỉ có thị trường tiêu thụ sau Đại khủng hoảng kinh tế mà còn cho cả các tập đoàn và công ty đang trên tình trạng sụp đổ. 

2.  Zaibatsu: từ của Nhật để chỉ các tập đoàn tài phiệt lớn kinh doanh nhiều lĩnh vực, trong đó có cả ngân hàng tư nhân của họ đứng đằng sau để hỗ trợ vốn cho sự phát triển hoặc khống chế sụp đổ do suy thoái của các công ty con trong một Zaibatsu. Ở Việt Nam gần đây, một số tập đoàn tư nhân lớn cũng đã bắt đầu tự gầy dựng cho mình những ngân hàng để tự hỗ trợ kinh doanh cho bản thân, bắt chước theo mô hình Zaibatsu của Nhật. Nhưng hướng phát triển và đầu tư của các loại Zaibatsu này của Việt Nam đang bị đi lệch hướng, là không vì thương hiệu Việt trên toàn cầu, mà chỉ tham gia vào đẩy lạm phát và bong bóng bất động sản ngày càng phình to.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 15h51', ngày thứ Sáu, 20/5/2011

Wednesday, May 18, 2011

CHÁY NHÀ LÒI MẶT CHUỘT

Năm nay quả là năm đặc biệt. Chỉ mới chưa đầy 5 tháng mà cục diện toàn cầu thay đổi không kịp chớp mắt. Với cách uốn ba tất lưỡi của chính sách bàn tay sắt bọc nhung của đảng dân chủ cấp tiến, nước Mỹ đã làm dậy sóng Trung Đông - Bắc Phi. Câu chuyện Trung Đông - Bắc Phi là một đòn đánh mạnh vào các nước có nền kinh tế mới nổi. Di chứng của nó là cuộc chiến Libya sẽ kéo dài. Cung năng lượng sẽ làm điêu đứng các nước đang cần phát triển.

Nhưng với cú đánh đột xuất vào để giết ông trùm al Qaeda, Osama Bin Laden ở Pakistan lại làm cục diện thế giới một lần nữa thay đổi. Hôm qua thủ tướng Pakistan - ông Yousuf Raza Gilani - tuyên bố Trung Hoa là người bạn tốt nhất của Pakistan.

Hai thập niên người Trung Hoa gầy dựng mối quan hệ Bắc Phi và Trung Đông để tìm ra nguồn tài nguyên và năng lượng phục vụ cho giai đoạn phát triển tư bản nhà nước thân hữu của mình, chỉ trong chốc lát biến thành bong bóng xà phòng vì cách mạng hoa Nhài.

Cũng bằng thời gian ấy, người Mỹ tạo ra một vùng trái độn quanh Trung Hoa gốm: Hàn, Nhật, Đài, Pakistan, Afghanistan, Ấn, v.v... chỉ vì một cái chết của Oasama Bin Laden đã làm người Mỹ mất một mắc xích quan trọng của vùng trái độn này: Pakistan và có thể Afghanistan trong tương lai?

Bằng vào sự kiện 11/9/2001, ông Osama Bin Laden đã đánh vào lòng tin về một nước Mỹ siêu cường chỉ trong chốc lát tan thành bọt bễ. Một siêu cường mọi mặt đã quật ngã siêu cường cánh tả Liên Xô, nhưng chỉ một buổi sáng, bằng vào tài trí và tổ chức khủng bố đơn lẻ của mình, ông Osama Bin Laden đã tấn công vào 2 nơi quan yếu: ngũ giác đài trung tâm quyền lực quân sự, và World Trade Center trung tâm quyền lực kinh tế toàn cầu. 

Nước Mỹ có 3 loại quyền lực làm thế giới phải kinh sợ: quân sự, kinh tế tài chính và văn hóa dân chủ tự do. Hai trong 3 quyền lực ấy đã lung lay, và nước Mỹ đi vào một thời kỳ suy thoái như hiện nay chỉ bằng một cái đầu của Osama Bin Laden biết sử dụng kinh Koran: "Tử vì đạo là được rửa tội và hiển thánh".

Nếu nhà nước thần quyền Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông và Bắc Phi có kinh Koran để xúi giục dân tử vì đạo. Thì nhà nước thế quyền cực đoan Trung Hoa cũng có tư tưởng của Tôn Tử là, cách chiến thắng tối ưu nhất là thắng mà không cần đánh. Cả 2 tư tưởng này phối hợp nhau để chỉ huy được thế giới thì quả không gì bằng cách ném đá giấu tay.

Với tuyên bố của ông Youluf Raza Gilani, cho thấy đằng sau sự ẩn núp của Osama Bin Laden suốt gần 6 năm ở khu quân sự Pakistan có bàn tay của Trung Hoa? Và sự đồng lõa của Pakistan để sử dụng tổ chức al Qaeda trong ván bài ngoại giao đa phương hòng kiếm viện trợ và cân bằng quyền lực.

Nhưng việc Osama Bin Laden bị tiêu diệt ngay trung tâm quân sự của Pakistan, cũng làm cho thế giới thấy được sức mạnh quân sự của siêu cường Mỹ. Vậy thì, với sự trợ giúp của Trung Hoa, và sự bảo an của Pakistan cho Osama Bin Laden ngay tại khu quân sự, nhưng tại sao suốt 38 phút đánh nhau của lực lượng SEAL để tiêu diệt Osama, cộng thêm thời gian gần 1h đồng hồ, để ông Obama ngồi viết bài phát biểu trên truyền hình vào nửa đêm rạng sáng 02/5/2011, mà cả thế giới không hay biết. Thế thì thực sự về sức mạnh quân sự Trung Hoa đã cố tình vươn móng vuốt để hù dọa khu vực và toàn cầu trong 2 năm nay là cái gì?

Và như vậy, đằng sau của tổ chức khủng bố al Qaeda ở Pakistan và Taliban ở Afghanistan là ai? Là những con người như Osama Bin Laden hay là những nhà nước lớn ném đá giấu tay?

Những câu hỏi lớn này nếu giải đáp tận tường sẽ cho chúng ta thấy một câu tục ngữ ông cha mình rất minh triết: "Cháy nhà lòi mặt chuột". Nó cũng cho chúng ta thấy, phải bình tỉnh nhìn nhận thực lực toàn cầu và sức mạnh của các bên liên quan, để có một chiến lược ngoại giao lâu dài cho đất nước và dân tộc trong cục diện mới toàn cầu.

Asia Clinic, 8h52', ngày thứ Tư, 18/5/2011

Monday, May 16, 2011

NHỮNG QUỐC GIA NGOÀI CUỘC VÔ TỘI


Bài viết của Andrés Velasco, bộ trưởng tài chính của Chile  nhiệm kỳ 2006-2010, giảng dạy chính sách công tại Kennedy School of Goverment, Harvard University.

SANTIAGO - Đi taxi ở São Paulo hiện nay và bạn sẽ trải nghiệm giao thông bực mình và đường phố lộn xộn của một đô thị quốc gia mới nổi. Nhưng khi trả tiền cho chuyến đi, bạn có thể cảm thấy như đang ở Boston, Luxemburg, hoặc Zurich: giá trị của đồng real Brazil, giống như các loại tiền tệ của nhiều quốc gia thị trường mới nổi, đồng tiền có giá cao - và có thể còn cao hơn.

Các loại tiền tệ mạnh làm cho nước mạnh, một nhà hoạch định chính sách cao cấp của Hoa Kỳ đã từng nói. Nhiều nước đang phát triển nhờ xuất khẩu, đấu tranh để giữ chân khách hàng ở những thị trường Mỹ và châu Âu đang có cảm giác lung lay.

Trong nhiều thập kỷ, những nước đang phát triển mơ ước một niết bàn của giá cả hàng hóa cao trên trời và lãi suất quốc tế thấp nhất. Nhưng có lẽ những ông bộ trưởng tài chính ở Lima, Bogota, Pretoria, hoặc Jakarta cần phải cẩn thận hơn về những gì họ muốn. Vấn đề đặt ra là? Một cuộc xâm lược của luồng vốn ngắn hạn chạy trốn sự tăng trưởng chậm, lãi suất thấp ở các quốc gia tiên tiến.

Cuộc họp trong tháng qua ở Calgary, Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ báo cáo rằng 266 tỷ USD nhập  vào Mỹ Latinh từ bảy nền kinh tế lớn nhất thế giới trong năm 2010, so với ít hơn 50 tỷ USD mỗi năm, con số trung bình của từ năm 2000 đến năm 2005. Và trong khi chỉ có 37% nguồn vốn chảy vào trong năm 2006 là "tiền nóng" mà có thể để lại tại một thời điểm của thông báo, năm qua nguồn vốn này nhập vào 69% tổng số.

Vì vậy, những gì đang xảy ra? các nước mới nổi ở Mỹ Latinh, Đông Á, Đông Âu, và châu Phi là những người ngoài cuộc vô tội trong cuộc đu nhau giữa Mỹ và Trung Hoa về tiền tệ và sự mất cân bằng thương mại. Và những kẻ qua đường này đang nhận những cú đánh mạnh nhất.

Một thập kỷ nay, nền kinh tế thế giới đã bị mất cân bằng lớn toàn cầu: thặng dư lớn từ bên ngoài ở các nước như Trung Hoa, Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ, và các nước sản xuất dầu, trong khi đó có sự thâm hụt ngân sách lớn ở Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, và những nước khác. Sự mất cân đối đã giảm tạm thời khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra nhu cầu giảm ở Mỹ, Anh, và các nơi khác. Tuy nhiên, bắt đầu vào năm 2010, sự mất cân bằng trở lại, và, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế gần đây đã phát hành cuốn Triển vọng kinh tế thế giới, sự mất cân bằng này sẽ không giảm từ nay đến năm 2016. G-20 thông cáo đã nhiều lần cam kết sẽ đảm bảo "điều chỉnh" và "tái cân bằng" nền kinh tế thế giới, nhưng những lời hứa đó có kết quả là con số không.

Tuy nhiên, khó khăn hệ thống tài chính và thâm hụt tài chính khổng lồ đang thâm hụt của các nước phương Tây (đặc biệt là Mỹ) từ sự phình to nhu cầu trong nước. Và một sự thiếu thiện ý với chính sách thương mại tăng trưởng bằng xuất khẩu chủ đạo là có hiệu quả tương tự các nước thặng phương Đông (đặc biệt là Trung Hoa). Kết quả là, các nước mới nổi, theo IMF, đã bị áp lực phải thực hiện "một gánh nặng không cân xứng của nhu cầu tái cân bằng kể từ khi cuộc khủng hoảng".

Các nước dư thừa tích lũy cổ phiếu lớn đang đầu tư tài sản nước ngoài, và những nguồn tài nguyên đã được đầu tư một nơi nào đó. Trước khi cuộc khủng hoảng, một số tiền đáng kể đã được đầu tư vào bất động sản  ở Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, hoặc Ailen. Hôm nay, thị trường đã chết và số tiền phải bỏ đi nơi khác. Châu Âu, nắm chặt một ngân hàng lớn và khủng hoảng nợ, không phải là một điểm đến hấp dẫn, và chính sách tiền tệ nới lỏng ở Mỹ đã sản xuất những trái phiếu cực thấp. Kết quả là, nhiều quốc gia mới nổi, với lãi suất cao hơn và triển vọng tăng trưởng đầy hứa hẹn, đã trở nên không cưỡng lại được sức hấp dẫn cho nhà đầu tư.

Sau sự kiện gần đây ở Tunisia, Ai Cập và Libya, các nhà phân tích phố Wall trở nên ít lạc quan về sự ổn định chính trị ở các nước mới nổi. một căn hộ 2011 thực hiện ở một số nước Mỹ La tinh và thị trường chứng khoán châu Á - sau cuộc chạy trốn khủng khiếp trong năm 2010 - đã tạo ra một chút ánh sáng về mốt đầu tư thị trường mới nổi. Nên tiền vẫn cứ đến.

Cuộc xâm lược của đồng đô la đang làm cho việc quản lý kinh tế vĩ mô ở các nước mới nổi nhiều thách thức hơn bình thường. Giá cả hàng hóa cao dự kiến ​​sẽ kéo dài, sau đó các loại tiền tệ mạnh lên sẽ đến và không thể tránh khỏi. Nhưng một đường phân cách mỏng có trật tự để điều chỉnh những điều kiện thay đổi từ phản ứng quá mức của thị trường. Và người có óc phán đoán ở nhiều quốc gia mới nổi đang tự hỏi liệu chúng tôi có vượt qua lằn ranh đó.

Mất khả năng cạnh tranh xuất khẩu do kết quả của đồng tiền mạnh không phải là vấn đề duy nhất. Luồng vốn ồ ạt nhập vào do bong bóng của thị trường bất động sản và chứng khoán tại Mỹ và châu Âu. Hôm nay, một số nhà hoạch định chính sách ở Mỹ Latinh, lo lắng rằng những điều tương tự có thể xảy ra cho các quốc gia của họ, họ đang đưa ra các công cụ chính sách để ngăn chặn nó.

Kết quả là, chính sách của cục dự trữ liên bang Mỹ với cái gọi là "nới lỏng định lượng" đi về phía nam, nơi mà nó có sự can thiệp ngoại hối. Nếu ngân hàng trung ương của quốc gia giàu có thể mua trái phiếu dài hạn, sau đó những ngân hàng trung ương của các quốc gia mới nổi có thể mua trái phiếu đô la. Ngay cả các nước đang có tình trạng lạm phát hiện hành các nước khác tuyên bố sẽ để cho tỷ giá hối đoái thả nổi – như Brazil, Colombia, Peru, và Chile, chẳng hạn - đã thực hiện nó, và với số lượng lớn.

Những chính sách cực kỳ khôn ngoan để đi về phía nam, cũng vậy - và được xác định lại trong tiến trình. Nhưng nếu mua USD không đủ để ngăn chặn làn sóng tăng giá, các nhà quản lý những nền kinh tế mới nổi sẽ dựng lên một loạt các rào cản khác để giữ tiền lại không cho ra thị trường.

Không có bất kỳ chính sách nào trong số này là không tốn kém. Chúng là chính sách địa phương tốt thứ hai đáp ứng với một cơ chế không hiệu quả để điều chỉnh toàn cầu (hoặc không điều chỉnh). Một hệ thống tốt hơn để cân bằng lại nền kinh tế thế giới là cần thiết nhưkhông được mong đợi. Tất cả chúng ta có thể mong đợi thông báo mới của G-20.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Tư gia, 22h52', ngày thứ Hai, 16/5/2011
Xem thêm: http://www.cuanhcuem.net/2013/01/tong-hop-cach-chen-emoticons-threaded-comments-blogspot.html#ixzz2UfngJs3i Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial