Friday, July 29, 2011

ĐỌC MÔI TRUNG HOA

Stephen S. Roach, một thành viên của Đại học Yale, là Chủ tịch điều hành của Morgan Stanley châu Á và là tác giả của cuốn The Next Asia. Tôi đã có dịch 2 bài viết của ông là: Bước ngoặc Trung Hoa và bài Làm sao để Châu Á đối phó với tình trạng tiêu thụ đang hấp hối của Mỹ? Vì là chủ tịch của chi nhánh của một tập đoàn tài chính lớn hàng đầu của Mỹ ở Châu Á, đồng thời là một giảng viên của Yale University. Nên những bài viết của ông có giá trị thực tế rất cao. Cái nhìn của ông không quá cực đoan và mơ hồ như các nhà kinh tế tài chính khác, khi họ chỉ chăm chăm vào một Trung Hoa sụp đổ. Nhưng khi một ai đó đã từng sống trong một nhà nước đơn nguyên tả khuynh cực đoan như Trung Hoa hoặc Việt Nam sẽ mới thấy hết giá trị của những bài viết về kinh tế của ông Stephen S. Roach.

Bài viết gốc: Read China’s Lips

NEW HAVEN – Đã từ lâu người Trung Hoa ngưỡng mộ tính năng động kinh tế của Mỹ. Nhưng họ đã mất niềm tin đối với chính phủ Mỹ và rối loạn chức năng trong cương vị quản lý kinh tế của Mỹ. Thông điệp đó đến quá ầm ĩ và rõ ràng trong chuyến du lịch gần đây của tôi đến Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh, và Hồng Kông.

Đứng ngay trên bờ vực của cuộc khủng hoảng do cho vay dưới chuẩn, các cuộc tranh luận về trần nợ và thâm hụt ngân sách chỉ một liều thuốc nhỏ nhoi cho con bệnh trầm kha. Các quan chức cấp cao Trung Hoa kinh hoàng là làm cách nào để Hoa Kỳ cho phép các chính trị gia chơi con bài chủ để ổn định tài chính. Một nhà hoạch định chính sách cao cấp Trung Hoa lên tiếng trong giữa tháng Bảy này, "Điều này là thực sự gây sốc ... Chúng tôi hiểu chính trị, nhưng chính phủ của các bạn vẫn cứ tiếp tục khinh suấtđiều đáng kinh ngạc".

Trung Hoa không phải là người ngoài cuộc vô tội trong cuộc đua của Mỹ đến vực thẳm. Trong hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990, Trung Hoa đã tích lũy được khoảng 3,2 nghìn tỷ USD trong dự trữ ngoại hối để bảo vệ hệ thống của mình từ những cú sốc bên ngoài. Hai phần ba số đó - khoảng 2 nghìn tỷ USD - được đầu tư trong các tài sản dựa trên đồng đô la, phần lớn là trái phiếu kho bạc Mỹ và các chứng khoán của công ty (ví dụ, Fannie Mae và Freddie Mac). Kết quả là, Trung Hoa đã vượt Nhật Bản vào cuối năm 2008 là chủ sở hữu nước ngoài lớn nhất của tài sản tài chính Mỹ.

Không chỉ Trung Hoa cảm thấy an toàn trong việc đặt cược lớn như vậy vào những thành phần một thời tương đối không rủi ro của những đồng tiền dự trữ trên thế giới, nhưng chính sách tỷ giá của Trung Hoa đã làm cho nó không còn phương cách nào khác để lựa chọn. Để duy trì một mối quan hệ chặt chẽ giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô la, Trung Hoa đã phải tái đầu tư một phần lợi nhuận của dự trữ ngoại tệ vào các tài sản dựa trên đồng đô la.

Những ngày xa xưa đó đã qua. Trung Hoa nhận ra rằng chiến lược tăng trưởng hiện nay không còn là một phương cách thông minh nữa - quá phụ thuộc vào sự kết hợp giữa xuất khẩu và một bộ đệm lớn bằng cách dự trữ ngoại tệ bằng đồng USD. Ba sự phát triển then chốt đưa các lãnh đạo Trung Hoa đến kết luận này:

Thứ nhất, khủng hoảng và suy thoái 2008-2009 là một lời cảnh tỉnh. Trong khi các ngành công nghiệp xuất khẩu của Trung Hoa vẫn còn có tính cạnh tranh cao, có những nghi ngờ dễ hiểu về tình trạng sau khủng hoảng của nhu cầu nước ngoài đối với các sản phẩm Trung Hoa. Từ Mỹ sang châu Âu đến Nhật Bản – những nền kinh tế đã phát triển bị méo mó vì khủng hoảng chịu chung số nợ hơn 40% xuất khẩu của Trung Hoa -  nhu cầu thị trường đến tận tay người tiêu dùng trong những năm tới có khả năng phát triển với tốc độ chậm hơn so với thời gian bùng nổ xuất khẩu của Trung Hoa trong 30 năm qua. Sự tăng trưởng của Trung Hoa đã được điều khiển một cách mạnh mẽ nhất, có nhược điểm đáng kể để động lực xuất khẩu thúc đẩy.

Thứ hai, các chi phí bảo hiểm của nền kinh tế Mỹ sự đòi hỏi quá sức của nền kinh tế Mỹ, phần lớn dự trữ bằng đồng đô la dự trữ ngoại hối của Trung Hoa - đã bị phóng đại bởi rủi ro chính trị. Với việc trả nợ của chính phủ Mỹ hiện đang như một trò đùa, khái niệm tài sản không rủi ro dựa trên đồng đô la đang trong tình trạng bị nghi ngờ.

Trong những năm gần đây, Thủ tướng Trung Hoa Ôn Gia Bảo và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nhiều lần bày tỏ mối quan tâm về chính sách tài chính của Mỹ và tình trạng nơi ẩn náu an toàn của trái phiếu kho bạc. Giống như hầu hết người Mỹ, các nhà lãnh đạo Trung Hoa tin rằng Hoa Kỳ cuối cùng sẽ né tránh được viên đạn của một cuộc vỡ nợ hoàn toàn. Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Hiện nay, chủ nghĩa hoài nghi đã trở thành cốt lõi cho bất kỳ "sự dàn xếp nào" - đặc biệt là tin vào những điều ảo tưởng (one that relies on smoke and mirrors) để trì hoãn việc điều chỉnh tài chính có hiệu quả.

Tất cả các phép thuật này làm thiệt hại lâu dài đến độ tin cậy của cam kết Washington "sự tin tưởng và tín nhiệm tuyệt đối" vào chính phủ Mỹ. Và điều đó đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về sự khôn ngoan của các khoản đầu tư khổng lồ của Trung Hoa trong các tài sản bằng đồng đô la.

Cuối cùng, lãnh đạo của Trung Hoa là tâm đến của những rủi ro được đưa đến bởi sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô và vai trò của tăng trưởng xuất khẩu và tích lũy dựa trên đồng đô la ngoại hối đóng vai trong việc duy trì những sự mất cân bằng. Hơn nữa, người Trung Hoa hiểu được những áp lực chính trị là đặt thế giới đã phát triển tăng trưởng-chết đói trên sự quản lý chặt chẽ với tỷ giá trao đổi của đồng nhân dân tệ so với đồng USD – cái áp lực mà nó làm thu hút người ta phải nhớ đến chiến dịch tương tự như đã từng xảy ra với Nhật Bản vào giữa những năm 1980.

Tuy nhiên, không giống như Nhật Bản, Trung Hoa sẽ không tham gia vào cuộc đánh giá lại đồng nhân dân tệ. Đồng thời, Trung Hoa cũng nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những căng thẳng địa chính trị. Nhưng, Trung Hoa sẽ làm như vậy bằng cách cung cấp kích thích nhu cầu trong nước, do đó họ sẽ chấm dứt chính sách tin vào các tài sản dựa trên đồng đô la.

Với những cân nhắc trong tâm trí này, Trung Hoa đã thông qua một phản ứng rất minh bạch. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 mới thể hiện tất cả - một sự thay đổi ủng hộ tiêu thụ trong cơ cấu kinh tế của Trung Hoa rằng ưu tiên giải quết về sự mất cân bằng không bền vững của Trung Hoa. Bằng cách tập trung vào tạo việc làm trong các lĩnh vực dịch vụ, đô thị hóa hàng loạt, và mở rộng mạng lưới an toàn xã hội, sẽ có một sự thúc đẩy lớn lao động thu nhập và sức mua của người tiêu dùng. Kết quả là, thị phần tiêu thụ của nền kinh tế Trung Hoa có thể tăng lên ít nhất là 5% của GDP vào năm 2015.

Một định hướng tái cân bằng người tiêu dùng sẽ giải quyết những căng thẳng đã nói ở trên. Nó di chuyển tăng trưởng kinh tế đi từ một sự phụ thuộc nguy hiểm vào nhu cầu quốc ngoại, thành hỗ trợ nhu cầu quốc nội chưa được khai thác. Ngoài ra, sự làm mất đi tình trạng một đồng tiền bị định giá thấp như là một chỗ dựa để tăng trưởng xuất khẩu, làm cho Trung Hoa mất nhiều thời gian đáng kể để đẩy mạnh tốc độ cải cách tiền tệ.

Nhưng, bằng cách nâng cao thị phần tiêu thụ GDP của mình, Trung Hoa cũng sẽ thu hút nhiều tiết kiệm thặng dư trong dân chúng. Điều đó có thể mang lại cho tài khoản hiện tại của Trung Hoa vào sự cân bằng - hoặc thậm chí vào thâm hụt nhẹ - vào năm 2015. Điều đó sẽ làm giảm mạnh tốc độ tích lũy ngoại hối và cắt thành nhu cầu mở tài sản bằng đồng đô la của Trung Hoa.

Vì vậy Trung Hoa, người mua nước ngoài lớn nhất của trái phiếu chính phủ Mỹ, sẽ sớm nói, "đã quá đủ". Tuy nhiên, một thỏa thuận ngân sách rỗng, kết hợp với ​​tăng trưởng dự kiến yếu hơn cho nền kinh tế Mỹ trong những năm tới, với một thời gian kéo dài bằng ma thuật của những thâm hụt chính phủ quá cỡ. Điều đó đặt ra câu hỏi lớn nhất của tất cả: thiếu nhu cầu đối với trái phiếu kho bạc Mỹ của Trung Hoa, làm cách nào để một khoản thiếu tiết kiệm để tài trợ cho nền kinh tế Mỹ mà không làm đồng đô la mất giá và / hoặc có tình trạng gia tăng lớn trong tỷ lệ lãi suất thực tế dài hạn?

Với sự phản ứng đủng đỉnh nghe từ trong nội bộ Washington rằng Trung Hoa sẽ không dám khuấy động như một ván cờ tàn. Vì khác nào là cuối cùng họ phải đặt cược tài sản của họ? Tại sao họ có nguy cơ thua lỗ trong danh mục đầu tư lớn của các tài sản dựa trên đồng đô la?

Những câu trả lời của Trung Hoa cho những câu hỏi trên rõ ràng: Trung Hoa không còn sẵn sàng mạo hiểm ổn định tài chính và kinh tế trên cơ sở những lời hứa cuội của Washington và một sự quản lý kinh tế đã bị tồi tệ. Người Trung Hoa cuối cùng đã nói không. Hãy đọc môi họ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 17h44', ngày thứ Sáu, 29/7/2011

CHỈ DẤU ĐẤT NƯỚC

Vận nước, lòng dân đi lên hay đi xuống là một điều khó đoán. Có nhiều cách đoán cho một tương lai của một dân tộc, nhưng không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy hết.

Theo lý học phương Đông, mỗi con người có một mệnh số. Mỗi dân tộc có một vận mệnh phải trả vay. Mỗi con người có một cá nghiệp, tổng của những cá nghiệp ấy của một dân tộc được gọi là cộng nghiệp.

Để giải quyết vấn đề trả vay của từng cá nghiệp và cả cộng đồng một dân tộc nào đó thì, cần những con người lèo lái dân tộc và đất nước ấy đi đến phương pháp và cách giải quyết cụ thể cho cá nghiệp và cộng nghiệp.

Muốn biết hình ảnh chung của một dân tộc ở một thời kỳ có nhiều cách để biết. Người hiểu biết về lý học phương Đông thì có thể lý giải rõ ràng bằng lý số, sự chuyển vận các vì tinh tú, những tác động của thiên nhiên để tiên đoán vận nước đi đến chỗ hưng suy.

Các đấng quân vương vì đó mà nghĩ đến chuyện mê tín, lập dàn cúng trời đất để cầu xin phước thái dân an. Nhưng không thể làm thay đổi được cộng nghiệp và vận nước đổi dời. Vì nếu vận nước và cộng nghiệp hưng thái thì ắt thiên nhiên sẽ hiền hòa, dân tình làm ăn phát đạt, nhà nhà áo ấm, no cơm. Nhưng nếu, cộng nghiệp nặng, vận nước suy vong thì thiên nhiên giận dữ, con người lam lũ mà vẫn trong cảnh bần hàn, bạo loạn xảy ra khắp nơi. Ấy là điềm báo trước vậy.

Tôi không am hiểu nhiều và cũng không chuyên và lý học phương Đông, nhưng cứ mỗi kỳ đến hẹn lại lên, đất Việt có một lần đổi thay những con người lãnh đạo đất nước tôi chỉ cần xem kỹ 3 điều: thứ nhất là, đường lối chủ trương và mô hình chính trị xã hội đang và sẽ sử dụng để vận hành đất nước. Thứ hai là, theo dõi đất trời trong vòng 3 tháng khi các vị cầm cương nẩy mực cho dân tộc có bình yên hay dậy sóng? Và cuối cùng là, nhìn xem mức độ sáng tối trên khuôn vàng của tứ trụ triều đình.

Chỉ bấy nhiêu thôi, tôi có thể tiên đoán 5 năm tới vận mệnh quốc gia mình như thế nào?

Asia Clinic, 8h58' ngày thứ Sáu, 29/7/2011

Wednesday, July 27, 2011

TƯƠNG LAI CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Bài viết khác của ông Dani Rodrik: Phát triển ngược, mà tôi đã dịch hồi tháng 3/2011, rất đáng để đọc và hiểu sự tiên đoán về sự dẫn đầu nền kinh tế thế giới sẽ vẫn là các cường quốc Mỹ và phương Tây, chứ không thể là các nước đang phát triển có nền kinh tế mới nổi như Trung Hoa, Ấn Độ hay Brazil...


Bài viết của Dani Rodrik, ông là giáo sư kinh tế chính trị quốc tế tại Đại học Harvard, là tác giả của cuốn sách: Nghịch lý toàn cầu hóa: Dân chủ và tương lai của nền kinh tế thế giới (The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy)

CAMBRIDGE - Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tương lai của nền kinh tế toàn cầu nằm trong tay của các nước nghèo. Hoa Kỳ và Châu Âu chiến đấu như những gã khổng lồ bị thương, thương vong quá mức tài chính của họ và tê liệt chính trị. Họ dường như bị lên án bởi những gánh nặng nợ nần lớn của họ do nhiều năm trì trệ hoặc chậm tăng trưởng, phân hóa sự bất bình đẳng, và xung đột xã hội có thể xảy ra.

Trong khí đó, phần lớn của thế giới còn lại, tràn đầy năng lượng và hy vọng. Những nhà hoạch định chính sách ở Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ, và Thổ Nhĩ Kỳ đang lo lắng về sự tăng trưởng quá cao, chứ không phải là quá thấp. Theo một số tiêu chuẩn đánh giá thì, Trung Quốc đã đạt được nền kinh tế lớn nhất thế giới, và thị trường mới nổi và các nước đang phát triển chiếm hơn một nửa sản lượng của thế giới. Công ty tư vấn McKinsey đã mang tên châu Phi, đồng nghĩa với thất bại kinh tế, vùng đất của "sư tử đang chuyển mình".

Như là trường hợp thường thấy, giả tưởng tốt nhất đưa đến tâm trạng thay đổi. Cuốn tiểu thuyết truyện tranh của tiểu thuyết gia người Nga lưu vong Gary Shteyngart: Super Sad Love Story đúng là một bài học tốt cho bất kỳ những gì có thể chờ đợi tương lai. Đặt trong tương lai gần, câu chuyện mở ra chống lại nền tảng của một nước Mỹ đã bị sa lầy vào công cuộc làm hỏng tài chính và chế độ độc tài độc đảng, và nó cho thấy Mỹ bị lôi kéo vào một cuộc phiêu lưu quân sự vô nghĩa nước ngoài – thời kỳ này ở Venezuela. Tất cả các công việc thực sự trong các công ty được thực hiện bởi những người nhập cư có tay nghề cao; Các trường Ivy League đã đáp ứng thương hiệu cho các đối tác châu Á của họ tồn tại; nền kinh tế chịu ơn Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc; và "tỷ giá nhân dân tệ-cố định với đô la Mỹ" đã thay thế chuẩn mực tiền tệ như là sự lựa chọn an toàn cho tài sản.

Nhưng các nước đang phát triển thực sự có thể gánh vác nền kinh tế thế giới không? Phần lớn sự lạc quan về triển vọng kinh tế của họ là kết quả của phép ngoại suy. Thập kỷ trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo ra nhiều cơ hội tốt nhất cho các nước đang phát triển. Tăng trưởng  lan xa một số nước châu Á, và là, lần đầu tiên kể từ những năm 1950, phần lớn của các nước nghèo đã trải qua điều mà các nhà kinh tế gọi là sự hội tụ - tức là một sự thu hẹp khoảng cách thu nhập với các nước giàu.

Tuy nhiên, đây là một thời kỳ độc đáo, đặc trưng bởi rất nhiều luồng gió xuôi chiều của kinh tế. Giá hàng hóa tăng cao, làm lợi cho các nước châu Phi và Mỹ Latinh nói riêng, và nhờ vào nguồn tài chính từ bên ngoài dồi dào và rẻ. Hơn nữa, kinh tế của nhiều nước châu Phi đã chạm đáy và hồi phục sau một thời gian dài chiến tranh dân sự và suy giảm kinh tế. Và, tất nhiên, tăng trưởng nhanh chóng ở các nước tiên tiến trong thời kỳ trước đó nói chung là động lực thúc đẩy sự gia tăng khối lượng thương mại thế giới cao kỷ lục.

Về nguyên tắc, sau cuộc khủng hoảng tăng trưởng thấp các nước tiên tiến không nhất thiết phải cản trở hoạt động kinh tế của các nước nghèo. Tăng trưởng ở các nước nghèo cuối cùng phụ thuộc vào những yếu tố chính sách hạ mức thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư - đầu tư và mua lại công nghệ mới - và cổ phiếu của các công nghệ có thể được thông qua bởi các nước nghèo không bị biến mất khi tăng trưởng của các nước tiên tiến bị chậm lại. Vì vậy, tiềm năng tăng trưởng của các nước chậm phát triển được xác định bởi khả năng của họ để thu hẹp khoảng cách với ranh giới công nghệ - chứ không phải bằng cách tự các nước nghèo tăng tiến nhanh chóng để đến ranh giới của các nước giàu.

Những thông tin xấu là chúng ta vẫn còn thiếu một sự hiểu biết đầy đủ là khi nào các tiềm năng này hội tụ thực sự, hoặc của các loại chính sách tạo ra sự tự duy trì tăng trưởng. Ngay cả những trường hợp thành công một cách rõ ràng cũng bị giải thích trái ngược nhau. Một số thuộc tính phép lạ kinh tế châu Á làm các thị trường tự do hơn, trong khi những nước khác tin rằng sự can thiệp của nhà nước đã cho ra những con số không trung thực. Và sự thúc đẩy tăng trưởng quá nhiều cuối cùng thất bại sau những sự rầm rộ ban đầu.

Những người lạc quan tin tưởng rằng thời kỳ này là khác nhau. Họ tin rằng những cải cách của những năm 1990 - chính sách kinh tế vĩ mô được cải thiện, cởi mở hơn và dân chủ hơn - đã ươm mầm cho thế giới phát triển một khóa học cho sự tăng trưởng bền vững. Ví dụ, một báo cáo gần đây của Citigroup, dự đoán rằng tăng trưởng sẽ dễ dàng cho các nước nghèo với dân số trẻ.

Qua những bằng chứng mà tôi đã đọc làm cho tôi thận trọng hơn. Một điều chắc chắn là nguyên nhân cho những sự ca tụng rằng những chính sách lạm phát đã bị loại bỏ và quản trị đã được cải thiện phần lớn của thế giới đang phát triển. Nhưng rồi, những sự phát triển này cũng chỉ làm tăng khả năng phục hồi của nền kinh tế trước những cú sốc và ngăn chặn sự sụp đổ kinh tế mà thôi.

Tuy nhiên, duy trì tăng trưởng nhanh chóng và đốt cháy giai đoạn đòi hỏi một cái gì đó nhiều hơn: sản xuất theo các chính sách có định hướng phải kích thích liên tục để làm thay đổi cơ cấu và gia tăng việc làm ở những lĩnh vực hoạt động kinh tế mới. Tăng trưởng dựa vào dòng vốn rót vào hoặc những bùng nổ hàng hóa thì chỉ khuynh hướng xảy ra trong ngắn hạn. Trong khi tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải đặt ra các ưu đãi để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào ngành công nghiệp mới - và làm sao để nạn tham nhũng giảm xuống tối thiểu và thu nhập người dân phải có cuộc sống sung túc.

Nếu lịch sử là khuôn mẫu, thì số quốc gia đi ngược với những gì đã diễn ra trong lịch sử để thành công chỉ là ngoại lệ hiếm. Vì vậy, khi mà có thể có ít hơn các quốc gia sụp đổ kinh tế, là nhờ vào quản lý kinh tế vĩ mô tốt hơn, thì tốc độ tăng trưởng cao sẽ chỉ là ngắn hạn, gián đoạnngoại lệ. Một cách chuẩn mực thì, hiệu suất có thể là tốt hơn so với trong quá khứ, nhưng không có nền kinh tế của quốc gia nào gần như là ưu tú như các nhà có quan điểm lạc quan mong đợi.

Câu hỏi lớn cho nền kinh tế thế giới là liệu các nước tiên tiến trong suy trầm kinh tế sẽ có thể phải nhường chỗ cho các quốc gia đang phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn không, những quốc gia đó có hiệu suất, khi mà hiệu suất đó sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc xâm nhập vào các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ của các nước giàu có lâu nay vẫn chiếm ưu thế. Hậu quả của việc này là việc làm ở các nước tiên tiến sẽ có vấn đề, đặc biệt là sự thiếu hụt những công việc được trả lương cao trong hiện tại. Đáng kể xung đột xã hội có thể trở thành không thể tránh khỏi, đe dọa cho chính sách cải tổ chính trị sự cởi mở kinh tế.

Cuối cùng, sự xích lại gần nhau hơn giữa các nước giàu và nghèo trong nền kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng dường như không thể tránh khỏi. Nhưng, một sự đảo ngược lớn trong tài sản của các nước giàu và nghèo dường như không có khả năng xảy ra trong kinh tế, cũng không khả thi trong chính trị.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 14h38' ngày thứ Tư, 27/7/2011

Sunday, July 24, 2011

NƯỚC NGA, ĐÔNG TIẾN

Tuy bài viết là một bài chiến lược cho kinh tế nước Nga, nhưng chúng ta vẫn thấy có những ý có tính ngoại giao rất thật của một nhà chính khách hơn là một nhà khoa học. Tôi dịch bài này để mọi người bàn luận và có cái nhìn chiến lược khu vực và toàn cầu trong vấn nạn Trung Hoa hiện nay. 

Bài đọc liên quan:
Putin vĩnh cửu
Nga, quốc gia không dành cho thủ lĩnh chính trị trẻ

Bài viết gốc: Look East, Russia

Bài viết của Sergei Karaganov, ông là Hiệu trưởng Trường Kinh tế Thế giới và các vấn đề quốc tế tại Russia’s National Research University Higher School of Economics.

MOSCOW - Trong 18 tháng qua, mối quan hệ của Nga với châu Á đã bắt đầu được cải thiện. Cả hai Tổng thống Dmitri Medvedev và Thủ tướng Vladimir Putin đã nhiều lần chỉ ra sự cần thiết cho một cuộc chuyển hướng kinh tế đến châu Á. Hàng chục các đề cương và thoả thuận về các dự án mới đã được ký kết với Trung Hoa. Một số đã được đưa ravận hành.

Tuy nhiên, Nga vẫn chưa đưa ra một chiến lược dài hạn và toàn diện với châu Á. Nói một cách thẳng thắng, lực lượng chính đang nắm quyền nước Nga là thiếu hiểu biết. Thật vậy, đối với một số người Nga, bất kỳ chuyển động kinh tế hướng đến châu Á là tương đương với một khởi hành từ một con đường phát triển của châu Âu.


Tất nhiên, không có sự thay đổi của châu Á theo định hướng văn hóa và chính trị của Nga hướng về châu Âu. Nhưng một phần định hướng kinh tế hướng đến châu Á không gây bất kỳ nguy cơ thực sự ràng buộc từ châu Âu; ngược lại, trong hai năm qua, Nga đã chính thức thực hiện một quyết định ủng hộ hội nhập chặt chẽ hơn với Liên minh châu Âu.

Châu Âu hiện đang chiếm hơn 50% kim ngạch thương mại của Nga. Tuy nhiên, thị trường châu Âu sẽ không phát triển với bất kỳ mức độ đáng kể nào trong tương lai gần. Sự giàu có nhờ tích lũynguồn tài nguyên văn hóa của châu Âu sẽ cho phép lục địa cũ sống tương đối thoải mái trong những thập kỷ tới, ngay cả khi nó dần dần nhượng lại vị trí của nó trong việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Thật vậy, châu Âu có khả năng trở thành một địa điểm du lịch và giải trí cho những người châu Á chăm chỉ.

Trong khi Nga cần phải hòa nhập với phần còn lại của châu Âu cách tân (Đức, trên tất cả), thì tiềm năng tăng trưởng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ quyết định tương lai của nước Nga. Ở đây, đối tác chính là Trung Hoa, nơi mà Nga cung cấp phân bón, thủy sản, gỗ, kim loại màu, và khối lượng ngày càng tăng của dầu thô. Không giống như phương Tây, Nga nhập khẩu từ Trung Hoa hàng tiêu dùng không quá nhiều như các sản phẩm kỹ thuật. Trong hầu hết các ngành công nghiệp, cạnh tranh đối đầu với châu Á sẽ là vô nghĩa, khi chi phí lao động của Nga cao hơn.

Nhưng, nếu xu hướng hiện nay vẫn tồn tại, phía đông của vùng Urals của nước Nga, và sau đó toàn bộ nước Nga, sẽ trở thành một phần phụ thuộc vào Trung Hoa - một kho tài nguyên, và sau đó là một chư hầu kinh tế và chính trị. Nỗ lực không "tích cực" hoặc không thân thiện của Trung Hoa sẽ là điều cần thiết, để Nga sẽ bị chinh phục bởi sự vỡ nợ.

Không có mối đe dọa địa chính trị ngay tức thời trong tình huống này. Bành trướng lãnh thổ không phải là một đặc điểm lịch sử của Trung Hoa, và hai nước đã có quan hệ chính trị tuyệt vời.

Tuy nhiên, Trung Hoa đã và đang cung cấp cho các dự án của Nga tương tự như những mà họ quảng bá ở các nước châu Phi: sự phát triển các nguồn tài nguyên bằng tiền và lao động của Trung Hoa. Nga phải hành động ngay bây giờ để bảo vệ một nơi có giá trị và lợi ích trong một trật tự thế giới trong tương lai.

Mục tiêu đó đòi hỏi Nga phải dựa trên lợi thế cạnh tranh thật sự của nó. Hãy chú ý đến thực phẩm cơ bản. Giá lương thực tăng lan rộng khắp châu Á, trong khi tiềm năng để mở rộng sản lượng ngũ cốc của Nga là rất lớn. Theo một số ước tính, Nga có thể tăng diện tích canh tác lên 10 triệu ha, và sản lượng cây trồng lên 250%, do đó thúc đẩy xuất khẩu ngũ cốc đáng kể.

Cho nên một tầm nhìn lớn hơn là cần thiết. Một chiến lược hiện đại phần lục địa châu Á của Nga – với cái gọi là "dự án Siberia" - nên kết hợp chủ quyền chính trị của Nga với công nghệ và vốn nước ngoài. Đầu tư nên đến không chỉ từ Trung Hoa, mà còn phái đến từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước ASEAN và EU, tất cả đều được quan tâm để ngăn chặn sự thống trị độc quyền của Trung Hoa ở vùng Urals.

Bản đồ khu vực phía Đông của dãy núi Urals thuộc nước Nga với các quốc gia lân cận là một vùng Siberia rộng lớn. Nó nói lên bi kịch của Mông Cổ lừng danh một thời bị các cường quốc chia cắt và xâm chiếm. Ôi, uy danh Thành Cát Tư Hãn sau thất bại ở Việt Nam nay còn đâu?

Lực lượng lao động có thể được tìm thấy để thực hiện các dự án phát triển ở phía đông của Nga, bao gồm cả cụm sản xuất nông nghiệp với năng suất cao cho ngũ cốc, thức ăn cho gia súc, thịt, gia cầm, thịt lợn, và có thể cả rượu bia. Hiện vẫn còn vài triệu lao động dư thừa ở Trung Á. Lao động thời vụ có thể được mang từ Ấn Độ và Bangladesh. Và, dĩ nhiên, một số sẽ được đưa đến từ Trung Hoa.

Tất nhiên, một chiến lược như vậy sẽ đòi hỏi các đường cao tốc, cầu, đường sắt,, cảng biển. (Ví dụ như, trong thực tế không có điểm xuất khẩu lương thực đến tận nơi trong vùng phía đông của Nga). Một số người Nga sợ rằng nếu Trung Hoa được phép xây dựng các dự án này, đám đông của Trung Hoa sẽ đổ vào nước này. Câu trả lời của tôi là thế này: nếu chúng ta chỉ biết ở tại nơi của chúng ta, giống như câu cách ngôn con chó nằm trong máng cỏ, thì cỏ - nền kinh tế của Nga - sẽ mục nát.

Chiến lược phải nên thay đổi vùng phía đông của Nga thành một vùng gia tăng tài nguyên và căn cứ thực phẩm của châu Á. Phía đông của Nga phải trở thành một nhà cung cấp những hàng hóa có giá trị gia tăng hàng hóa tương đối cao, chứ không phải là một khu vực xuất khẩu gỗ, dầu, quặng, và hải sản, như tình hình hiện nay. Một kịch bản như vậy sẽ đảo ngược xu hướng nhân khẩu học và kinh tế ảm đạm trong vùng lãnh thổ phía đông của Nga, và sẽ củng cố vị trí địa chính trị của Nga trong tiến trình này.

Điều gì làm cho dự án Siberia hiệu quả mà nó đem lại lợi ích cho tất cả mọi người. Nga sẽ duy trì có hiệu quả chủ quyền trên các vùng lãnh thổ phía đông trong khi tạo ra một nền tảng mới cho sự phát triển. Trung Hoa, châu Á và thế giới sẽ có được một nguồn tài nguyên mới và cơ sở cung cấp thực phẩm, giảm bớt tình trạng thiếu lượng thực. Và, cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là, tầm nhìn của hội nhập toàn cầu trong xu thế hòa bình sẽ nhận được một sự thúc đẩy mạnh mẽ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 17h39', ngày Chúa Nhật, 24/7/2011

Wednesday, July 20, 2011

"TƯ BẢN GIÃY CHẾT" HIỂU DUY VẬT LUẬN KHÔNG?


Ngày mai chế độ "xã hội chủ nghĩa ưu việt" Việt Nam ngồi lại với nhau ở cái gọi là quốc hội để bàn nhau phát triển như thế nào cho thời kỳ mới.

Hơn tháng nay tôi đã viết loạt bài về duy vật luận trong quản lý và điều hành cũng như hình thái xã hội Việt đương đai vì sao nó cũng đang giãy chết, và đang cần liều thuốc cải tử hồi sinh. Nếu không viết sự hiểu biết về duy vật luận của Engels của bọn "tư bản giãy chết" thì quả là điều thiếu sót nghiêm trọng cho loạt bài này.

Tụi "tư bản giãy chết" mà đứng đầu là tụi Mỹ nó ngu lắm khi nó thúc đẩy cái riêng phát triển đến tận cùng, xong rồi mới bắt cái riêng đóng thuế đến tận cùng xương tủy để lo cho cái chung. Nó trao quyền quyết định đến từng tiểu bang, thậm chí nó trao quyền giáo dục đến tận trường học. Nó không ôm đòm để kiếm chác, để nó lo những cái chung không chỉ nước Mỹ, mà cho toàn thế giới, để quay lại lo cái riêng của nước Mỹ. Ngu gì ngu dữ vậy Mỹ? Khi không đem tiền cho học sinh thế giới ăn học? Khi không nhảy vào cứu trợ các nước nghèo? v.v... Để rồi an sinh xã hội của người nghèo, trẻ con nước Mỹ đau ốm và học hành không tốn tiền?

Tụi "tư bản giãy chết Mỹ" nó cũng ngu lắm. Nó hiểu có thực mới vực được đạo - vật chất ý thức - một cặp phạm trù đánh vào bản năng sinh tồn của con người rất quan trọng. Nên nó giúp dân nó có cái ăn dư dật, nên mới có tiền đóng thuế theo đúng pháp luật nó đẻ ra, để nó đứng đầu thế giới mà, cấm có nước nào trên thế giới được cãi. Ngu gì mà ngu dữ vậy hả Mỹ? Sao lại ngay cả đất đai, thậm chí có cái mỏ dầu nằm bên dưới mãnh đất dân ở cũng trao quyền sở hữu cho dân là làm sao? Tớ sống ở một nước xã hội cộng sản ưu việt, luôn lấy cái chung làm đầu, nên xã hội của tớ không ai lo cái gì cả, cái chung chỉ là miếng bánh vẽ để còn chấm mút vật chất cho cái riêng chứ?

Tụi "tư bản Mỹ giãy chết" nó ngu lắm. Nó chả biết gì hiện tượng với bản chất. Nó cứ cắm đầu đi tìm bản chất, mà không dùng hiện tượng để mỵ dân trong cai trị. Nên nó cứ hết phát minh này đến phát minh nọ để rồi các nước khác ăn cắp bản quyền về dùng mà không có chi phí nghiên cứu hay bản quyền sáng chế cũng "đi tắt đón đầu".

Tụi "tư bản Mỹ giãy chết" nó ngu lắm. Nó chả biết gì là ngẫu nhiên và tất nhiên. Nên nó muốn có diễn biến hòa bình ở đâu là nó thực hiện được như đi chợ mua bó rau muống. Nó muốn Bắc Phi Trung Đông làm những cuộc cách mạng dân chủ thì nó chỉ cần thòi cái anh da đen con rơi của tay du học sinh Kenya, lên làm tổng thống, và chỉ uốn ba tấc lưỡi trong vài bài diễn văn là dân cùng khổ ở những xứ này tất nhiên phải làm cách mạng. Đằng sau những cuộc cách mạng ấy là gì, nếu không là làm cho anh em 4 tốt và 16 vàng gấu ó nhau ở biển Đông vì nguyên nhiên liệu?

Tụi "tư bản giãy chết Mỹ" nó ngu lắm. Nó chả hiểu gì 2 nguyên lý phổ biến và nguyên lý của sự phát triển, nên nó cứ bô bô thực hiện cho dân nó biết, mà không sợ dân nó phản đối, biểu tình chi cả. Ngu gì mà ngu dữ vậy hả Mỹ? Ngu chi mà ngu rứa hả Mỹ? Ngu đến độ mà công dân của nước chúng mày lại là số 1 thế giới là sao?

Tụi "tư bản Mỹ giãy chết" nó ngu lắm. Nó chả hiểu gì 3 qui luật: mâu thuẩn, thống nhất các mặt đối lập và lượng chất. Nên nó mới tạo ra tam đầu chế - lập pháp, tư pháp và hành pháp - mà lại còn đa nguyên con voi con lừa độc lập với nhau để kiểm soát, kiểm tra nhau làm gì? để rồi hôm nay phải ngồi cãi nhau chuyện tăng nợ trần nước Mỹ làm gì cho nó khổ? Có bộ lọc với nhau làm gì để giảm bớt tham nhũng? Sao không học hệ thống chính trị đơn nguyên tả khuynh cực đoan ưu việt xã hội cộng sản kiểu mới ở phướng Đông, để mà thống nhất các mặt đối lập dễ dàng, không cần cãi nhau, tranh luận cho đến tận cùng bản chất. Chỉ cần đồng thuận trong thập tứ đại gia trong nhà với nhau để còn dễ dàng kiếm chác chứ? vật chất - ý thức, có cái riêng đầy túi hiểu chữa?

Tụi "tư bản giãy chết Mỹ" nó ngu lắm. Nó chả hiểu mẹ gì duy vật luận cả. Nên nó chỉ biết sử dụng duy vật luận như một lũ nhai lại, để rồi, nước Mỹ mới lập quốc chỉ 235 năm mà nó phải khổ, khi phải đứng đầu thế giới, giành quyền kiểm soát tài chính kinh tế, quân sự, tư tưởng tự do dân chủ, v.v... làm đại ca thế giới, gồng gánh khắp nơi. Ở đâu có loạn thì nó tới. Ở đâu có khủng bố nó cũng tới. Ở đâu có kẻ muốn bá quyền, nó cũng tới. Ở đâu con người mất quyền sống, nó cũng chía mũi vào, v.v... và v.v... Đúng là "tư bản Mỹ giãy chết" chính hiệu là tên "xen đầm quốc tế" như đảng ta đã "dạy".

Ngu chi ngu rứa vậy Mỹ hè? Phải sáng tạo và qua xứ Việt của tớ mà học cách sử dụng và vận hành xã hội bậc thầy của duy vật biện chứng nhé!

Asia Clinic, 8h54', ngày thứ Tư, 20/7/2011