Bài viết liên quan của chủ blog:
Bài viết liên quan của các chuyên gia thế giới:
Bài viết gốc: Obama’s Middle East Malady
Bài viết của ông Zaki Laïdi. Ông là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại
Institut d'Etudes politiques de Paris (Viện nghiên cứu chính trị Paris:
viết tắt là SciencesPo). Viện
này được thành lập vào năm 1872, SciencesPo
có truyền thống giáo dục tinh hoa chính trị và ngoại giao của Pháp.
PARIS - Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vừa mới chào
đón quân đội Mỹ trở về từ
Iraq và tán dương sự ổn định của quốc gia này có dân chủ hơn thì một làn sóng bạo lực chưa từng có đã xảy
ra - trên khắp Baghdad và các nơi khác - cho thấy mức độ nghiêm trọng của cuộc
khủng hoảng chính trị tại
Iraq. Có phải cuộc khủng
hoảng là một ngoại lệ đáng tiếc, hoặc, đúng hơn, là triệu chứng của sự thất bại
trong ngoại giao Trung Đông
của ông Obama, từ Ai Cập đến Afghanistan?
Khi nhậm chức, Obama đặt ra 4 mục tiêu ở Trung Đông: thứ nhất, ổn định Iraq trước khi rời khỏi; thứ
hai, rút khỏi Afghanistan trong tư thế của
một kẻ mạnh và trên cơ sở hội tụ
chính trị tối thiểu với Pakistan; thứ ba, đạt được một bước đột phá lớn trong tiến trình hòa
bình Trung Đông bằng cách thúc đẩy Thủ tướng Israel Binyamin Netanyahu ngưng xây khu định cư Do Thái ở dãi Gaza; và thứ tư là mở một cuộc đối thoại với Iran về tương lai của
chương trình hạt nhân. Trên bốn vấn đề lớn này, Obama rõ ràng đã đạt được rất ít.
Đối với Iraq, kể từ khi tổng thống George W. Bush, Hoa Kỳ
đã nỗ lực tạo ảnh hưởng với chính quyền dòng hồi giáo Shia, để đất nước này có thể tạo ra một hệ thống chính trị tốt
hơn - đặc biệt, bằng cách thông qua một luật mới về chia sẻ doanh thu
xuất khẩu dầu giữa các cộng đồng người hồi giáo theo các dòng Shia, Sunni(1) và người Kurd. Thật không
may, điều ngược lại đã xảy
ra.
Nhóm người Kurd đã đi con đường theo hướng tăng quyền tự chủ, trong khi người theo dòng
hồi giáo Sunni đang ngày càng bị
thiệt thòi bởi một chính phủ trung ương chủ yếu người Shia bè phái và độc tài thống trị. Điều này có
ý nghĩa cho sự cân bằng quyền lực trong khu vực, vì vậy Iraq đang
phát triển ngoại giao thân thiết hơn với Iran để cân bằng với Thổ Nhĩ Kỳ, được xem như là cách họ bảo vệ dòng Sunni.
Lời phát biểu của thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki trong một chuyến đi
gần đây tới Washington trong cuộc đám phán lớn về vùng vịnh giữa Iraq và Hoa Kỳ rằng, ông quan tâm đến quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ nhiều hơn Iran, nhưng bây giờ dường như Hoa Kỳ đã mất tất cả ảnh hưởng chính trị đáng kể
về các vấn đề với Iraq. Thật
vậy, trong tình hình phát
triển đáng lo ngại đó, Mỹ đã
quyết định không chơi con bài cuối cùng còn lại của mình trong việc đối phó với al-Maliki: bán vũ
khí.
Có thể nói không còn bất
kỳ nghi ngờ gì về sự chiếm
đóng Iraq đã là một thất bại
chiến lược rất lớn đối với Mỹ, bởi vì cuối cùng nó chỉ phục vụ cho sự lớn mạnh của Iran. Nhưng, Obama đã thiếu một tầm
nhìn trung hạn để đối phó với mức độ nghiêm trọng của tình hình - một sự
bỏ sót mà, sớm hay muộn, Mỹ cũng
phải trả giá đắt.
Một trong hai điều sẽ xảy ra trong tương lai là: hoặc là ngăn chặn chặt chẽ hơn bằng cách thông qua biện pháp trừng phạt về xuất khẩu dầu của Iran, nó sẽ tạo ra kết quả tích cực và làm suy yếu Iran, hoặc là sự ngăn chặn này sẽ thất bại, thì chắc chắn Hoa Kỳ phải hướng tới một cuộc chiến mới ở Trung Đông. Điều này quá rõ khi một số vòng đàm phán ngoại giao chính sách Mỹ coi cuộc khủng hoảng sâu sắc Iraq như là một chướng ngại vật to lớn trong việc làm bàn đạp can thiệp quân sự vào Iran.
Tuy nhiên, Obama không là một kẻ ngu ngốc. Ông đã định hướng sự thù địch của Quốc hội Hoa Kỳ đến Iran và mong muốn đối đầu quân sự với nước Cộng hòa Hồi giáo. Mặc dù, Ông tin rằng, ông có thể tránh được các giải pháp cực đoan; nhưng trong ngoại giao, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, và kịch bản tồi tệ nhất vẫn
có thể xảy ra.
Vấn đề là Obama có một khuynh hướng mạnh mẽ về việc
đánh giá quá cao khả năng ảnh hưởng của Mỹ đến những quốc gia yếu hơn trong cuộc chơi.
Cái mà đúng với hiện thực của
Iraq cũng đúng đối với Afghanistan: Obama có thể tự hào mình đã loại bỏ Osama
bin Laden, chắc chắn là một thành công, nhưng lại thất bại trong giải quyết gốc rễ của vấn đề. Mặc dù một
sự hiện diện 10 năm bằng quân
sự, liên quan đến việc triển khai hơn 100.000 binh sĩ với một chi phí 550 tỷ USD, Mỹ vẫn không thành công
trong việc tạo ra một sự thay
đổi đáng tin cậy đối với Taliban. Tệ hơn nữa, liên minh chính
trị với Pakistan đã trở
nên gay gắt.
Thật vậy, mức độ quan hệ
Mỹ-Pakistan đã thụt lùi trước ngày 11 Tháng Chín 2001(2),
một thời điểm được đánh dấu
bởi sự mất lòng tin lẫn nhau sâu sắc. Các nhà lãnh đạo Pakistan rõ ràng phải chịu một trách nhiệm nặng nề cho
tình trạng này. Nhưng nếu Hoa Kỳ đã không thể bị cuốn vào Pakistan trong việc giải quyết cuộc xung đột ở Afghanistan, thì thất bại chỉ đơn giản là phản ánh sự từ chối của Mỹ đáp ứng cho Pakistan những gì họ muốn: một sự thay đổi trong cán cân quyền lực khu vực với chi phí quân sự của Ấn Độ.
Do đó, việc Pakistan hợp tác lạnh nhạt với Mỹ, bởi vì các nhà lãnh đạo Pakistan không còn nhìn thấy nhiều lợi lộc trong cuộc chiến chống Taliban. Nguy cơ
là khi quân đội Mỹ rút quân khỏi Afghanistan bắt đầu - một tiến trình vừa được triển khai đến năm sau, nguy cơ sẽ bùng phát từ năm 2014 - Hoa Kỳ một
lần nữa sẽ tìm cách áp đặt trừng phạt Pakistan, một nhà nước có vũ khí hạt nhân không đáng tin cậy, Pakistan sẽ phản ứng bằng cách tăng cường quan hệ
với Trung Quốc và triển khai chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo.
Obama cũng tìm cách sử dụng ảnh hưởng của Mỹ để giải quyết cuộc xung đột
Israel-Palestine như là một phần của chiến lược của mình cho một Trung Đông rộng lớn. Đầu tiên, Ông nghĩ rằng bằng cách gây sức ép Netanyahu ngưng
xây khu định cư người Do Thái
ở dãi Gaza, việc này giúp ông sẽ
thành công trong việc phục hồi tiến trình hòa bình. Nhưng ông đã nhanh chóng và
khéo léo qua mặt đồng minh của ông, những người hiểu biết tầm quan trọng của
vấn đề Israel là những vấn đề chính trị bên trong nước
Mỹ. Bằng cách đặt Obama vào
vị thế mâu thuẫn với phần còn lại
của giới có quyền uy ở Hoa
Kỳ, Netanyahu đã buộc Obama phải rút lui.
Trong năm 2009, Obama hình dung ra một cách giải quyết xung đột thông qua các cam kết mạnh mẽ
của cộng đồng quốc tế. Năm 2011, ông khẳng định rằng cả hai bên sẵn sàng có thể
đảm bảo một kết quả thành công. Rõ ràng, Mỹ không thể làm được gì nhiều để giải
quyết cuộc xung đột.
Không có lời giải thích bao quát nào cho những thất bại liên tiếp của ông Obama tại Trung Đông, nhưng có một vài yếu tố có giá trị để xem xét là: thứ nhất, sự gia tăng số lượng các cuộc xung đột không tương xứng, trong đó việc sử dụng phương
pháp cổ điển bằng quân sự phần lớn
không mang đến hiệu quả; thứ hai, đường lối chính sách ngày càng mờ nhạt giữa các đồng minh khó khăn và đối thủ không khoan nhượng; và thứ ba, những sự khác biệt lớn về chính trị giữa một Tổng thống trung dung và một
Quốc hội Mỹ bị chi phối nhiều
hơn bao giờ hết bởi những ý tưởng cực đoan.
Nhưng, Obama tự chịu một phần lớn trách nhiệm về những sai lầm. Ngược lại
với những gì người ta nghĩ rằng, ông không có một tầm nhìn chiến lược thực sự
cho thế giới, thì một thiếu sót đã được thể hiện trong thỏa thuận nhanh chóng
của phe đối lập trong quốc hội Mỹ đối với những đề xuất của ông. Obama thường chỉ
có một kế hoạch A, mà không bao giờ có một
kế hoạch B để dự phòng. Trong khi đó, nói đến việc thực hiện một chính
sách thành công ở nước ngoài, thì chỉ một kế hoạch A thì sẽ không bao giờ hoàn
hảo.
Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
www.project-syndicate.org
Ghi chú của người dịch:
2. Sự kiện 11 tháng 9 2001 là sự
kiện Taliban dưới sự điều khiển của Osama bin Laden đã đánh sập tòa nhà Thương
Mại Thế Giới (World Trade Center: WTC). Sau sự kiện này làm Hoa Kỳ lún vào cuộc
chiến truy lùng khủng bố bằng 2 cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Nguyên nhân
của suy thoái kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu.
BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 8h39' Chúa Nhựt, 26/02/2012











