Thứ tư, ngày 27 tháng hai năm 2013

NĂM MƯƠI NĂM VÀ SÁU MƯƠI BẢY NĂM

Năm mươi năm trước vào ngày 17/12/1963 ông Phát Chánh Huy - Park Chung Hee - tuyên bố là tổng thống của Hàn Quốc, với ngân khố trống rổng, sau cuộc nội chiến Nam Bắc Hàn, vừa mới kết thúc - 1953 - và phân chia ranh giới 2 miền ở vĩ tuyến 38. Khi ấy con gái của ông mới 11 tuổi.

Năm mươi năm sau, cô con gái 11 tuổi của ông khi ấy, bà Phát Cận Huệ - Park Geun Hye - cách đây 2 hôm, 25/02/2013 ngồi vào chiếc ghế nóng của ông ngày ấy, nhưng Hàn Quốc đã là một cường quốc châu Á, có nền kinh tế đứng thứ 12 của thế giới.

Năm mươi năm là một quãng thời gian hơn nửa đời người, nó đủ làm cho một đứa trẻ trở nên người bản lĩnh và chín chắn. Năm mươi năm nó cũng đủ làm một con người tham sống, sợ chết lúc trẻ trở thành một con người xem cái chết nhẹ tự lông hồng. Nhưng với lịch sử, nhiều khi chỉ là một dòng ngắn ngủi, để giáo khoa thư lưu lại sử sách cho thế hệ mai sau.

Năm mươi năm, quá ngắn khi nhìn một con người, hay một đất nước biết rũ bùn vươn thành một thế lực của toàn cầu. Nhưng năm mươi năm cũng lại là quá dài cho một dân tộc vẫn còn ngụp lặn trong hố đen của cùng khổ, vì các chính khách lầm đường lạc lối triền miên.

Năm mươi năm, hiến pháp Hàn Quốc chỉ thay đổi 1 lần vào năm 1987 của thời tổng thống Roh Tae Woo từ khi nó ra đời vào ngày 17/7/1948. Sau 39 năm là một nhà nước quân phiệt, nền kinh tế hùng cường bật dậy buộc hiến pháp Hàn Quốc phải thay đổi để phù hợp với tình hình, và biến nó trở thành một quốc gia tự do, dân chủ như hôm nay. Điều thay đổi quan trọng nhất của hiến pháp Hàn Quốc là, "Tất cả công dân đều được đảm bảo giá trị, nhân phẩm con người và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước có nhiệm vụ xác định, đảm bảo quyền cơ bản và không thể xâm phạm của cá nhân" trong điều 10. Từ đó, nhân dân Hàn Quốc được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống của mình.

Năm mươi năm đủ để một Hàn Quốc có nền văn hóa trọng nam khinh nữ đến cực đoan - do ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa - có được vị nữ lãnh tụ đầu tiên cho một Hàn Quốc dân chủ và tự do đến mọi nhà.

Cũng Nam Bắc phân tranh, cũng nồi da nấu thịt tương tàn. Đất nước Đại Hàn cùng thảm kịch như Việt Nam, nhưng không "độc lập và thống nhất" như Việt Nam.

Cũng năm mươi năm ấy - mà còn hơn thế nữa, đến 67 năm - nước Việt có đến 5 hiến pháp khác nhau với 4 lần thay đổi, 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Thay đổi nhiều, nhưng tập đoàn cầm quyền chưa bao giờ sử dụng nó để điều hành và tuần thủ nó.

Thay đổi nhiều, nhưng người dân ngày càng teo tóp dần quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc như tuyên ngôn độc lập đã được sao chép từ Hoa Kỳ và Pháp.

Thay đổi nhiều, nhưng thay đổi vì tập đoàn cầm quyền cần nó để hợp thức hóa quyền lực của mình.

Thay đổi nhiều, nhưng đất nước cứ thụt lùi, trong khi thế giới đang tiến về phía trước, đến nay, ngay cả Cambodia nước ta cũng không thể sánh bằng.

Và tất cả những điều trên đã được ông đảng trưởng tổng kết rất ngắn gọn, đơn giản và xúc tích theo kiểu mà Mao Trạch Đông đã dùng trong đại cách mạng văn hóa ở Trung Hoa: Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng, để tiêu diệt đồng đảng và bảo vệ ngai vàng.


Năm mươi năm là khoảng thời gian đủ để khoảng 5% những đứa trẻ sinh ra về với đất, nhưng sáu mươi bảy năm thì đủ thời gian để hơn 50% những đứa trẻ ấy từ giã cõi đời. Không lẽ, để cho một quốc gia mà ở đó dân giàu, nước mạnh, người dân được hưởng quyền tối thiểu làm người khó đến mức đó sao?







Asia Clinic, 8h09' ngày thứ Tư, 27/02/2013

Thứ ba, ngày 26 tháng hai năm 2013

TÀI LIỆU LỊCH SỬ









Theo dõi từ phút thứ 3 trở đi để nghe lời vàng ngọc của ngài TBT

Video clip này đã vừa mới bị lấy đi lúc 16h00 ngày 26/02/2013. Nên xem cái clip kề ngay phía dưới nhen bà con.















Asia Clinic, 14h00' ngày thứ Ba, 26/02/2013

Thứ bảy, ngày 23 tháng hai năm 2013

TỪ VẬN NƯỚC NGHĨ VỀ CHỮ TÂM - CHỮ TẦM


"Vận nước' đang đặt trách nhiệm vào các vị dân biểu (đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp) những người thay mặt Đảng và toàn thể quốc dân đồng bào cả nước trong việc minh định và lượng hóa về Tâm và Tầm của đội ngũ cán bộ trong bộ máy chính quyền.
Chữ Tâm xưa và nay
Vượt qua giá trị tự nhiên là những ký tự của ngôn ngữ diễn đạt, chữ Tâm đã trở thành một phạm trù cơ bản trong đạo lý truyền thống của dân tộc. Chữ Tâm luôn gắn với một con người, không chỉ là tình thương yêu, xuất phát từ bản chất thuần lương vốn có của con người, mà còn là sự căm ghét cái xấu, biết xả thân vì nghĩa lớn, vì quốc gia, dân tộc.
Trong sự thăng trầm, hưng thịnh và diệt vong của các triều đại phong kiến, Việt Nam ta đã trải qua nhiều giai đoạn dưới sự cai trị của những nhà vua u tối cùng chế độ chính trị quan lại tham nhũng.
Nhiều sĩ phu tự biết mình không thể thay đổi được thế sự, nên đã chọn cho mình một con đường khác giúp dân, giúp nước - là treo ấn từ quan trở về đời thường, hoặc sống thanh bạch với nghề dạy học. Hình ảnh những người thầy như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến... mà tài năng, đạo đức của các vị đã trở thành niềm tự hào của nền giáo dục của đất nước có lịch sử ngàn năm văn hiến.
Học trò - những môn sinh của ho ở khắp nơi, không chỉ học kiến thức uyên bác, mà còn học ở thầy khí phách của chữ Tâm, sống trọn đạo một con dân đất Việt.
Bởi vậy trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, khi bị giặc Nguyên bắt và dụ hàng, Trần Bình Trọng đã khảng khái "Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc" . Còn khi giặc Pháp xâm lược nước ta, Triều đình nhà Nguyễn yêu cầu Trương Công Định thu binh nghị hòa, nhưng ông đã thẳng thắn trả lời: "Triều đình hòa nghị, cứ hòa nghị, còn Định đây thì không hòa nghị, Định không nỡ ngồi nhìn giang sơn chìm đắm"....
Còn rất nhiều con dân đất Việt tuổi đời còn rất trẻ, đã ngã xuống nơi biên giới, biển đảo xa xôi, để bảo vệ từng tấc đất hương hỏa của cha ông.
Chữ Tâm trong đạo lí truyền thống, của người dân Việt vẫn luôn tỏa sáng; không chỉ là tình thương yêu, mà còn là xả thân vì nghĩa lớn, vì quốc gia, dân tộc - "Quốc gia hưng vong, sĩ phu hữu trách".
Phong trào (cách mạng) dân chủ đã (xóa bỏ chế độ quân chủ), làm thay đổi cơ bản đời sống chính trị trên phạm vi toàn thế giới. Chính quyền nhà nước được thành lập, thông qua vận động tranh cử của các đảng phái chính trị, và bầu cử dân chủ, nhưng hình thức thì mỗi nền văn minh vẫn còn nhiều khác biệt.
Trong bất kỳ thể chế chính trị nào, chữ Tâm luôn là một tiêu chuẩn lựa chọn con người, gánh vác việc nước. Nhưng công chúng (lịch sử) luôn là người đánh giá đúng thực chất của chữ Tâm, dù đó là của cá nhân hay của một tổ chức đảng phái chính trị.
Chữ Tâm được dân chúng sử dụng một cách công bằng, bình đẳng, để đánh giá về nhân phẩm (tốt, xấu) của một chủ thể (con người, hay một tổ chức đảng phái), mà không phụ thuộc vào địa vị, giai cấp mà chủ thể đó. Nhân phẩm của chủ thể, được dân chúng  xác định thông qua bản chất, động cơ của hành động, trong những sự việc do chính chủ thể đó làm ra.
Cùng một sự việc, nhưng ở những chủ thể khác nhau, thì động cơ lại hoàn toàn khác nhau, có khi còn đối ngược nhau, tùy thuộc vào mục tiêu cần đạt được của chủ thể đó.
Những việc làm xuất phát từ những tâm địa đen tối, thường bị dân chúng lên án, chê cười, bị lịch sử "lưu danh". Lịch sử cũng minh chứng; có rất nhiều kẻ hại dân, hại nước, rút cục đã bị nhân dân trừng phạt.
Ảnh minh họa. Nguồn: VNE
Chữ Tầm thời hiện đại
Chữ Tầm chưa bao giờ có được vị trí là một phạm trù cơ bản, trong đạo lý truyền thống của dân tộc như  chữ  Tâm, chữ Đức, chữ Nhân ... . Nhưng trong khoảng gần mười năm gần đây, chữ Tầm lại được sử dụng rất phổ biến cùng với chữ Tâm, đã trở thành ngôn ngữ diễn đạt về tiêu chuẩn, lựa chọn cán bộ lãnh đạo của các cấp chính quyền cũng như các ngành.
Khi đề cập đến chữ Tầm của một người, là nói đến khả năng, năng lực phán đoán sự phát sinh, phát triển của một sự việc, một vấn đề liên quan tới đời sống của nhân dân, tới vận mệnh quốc gia, dân tộc. Từ đó mà người ta đưa ra phương hướng, và tổ chức giải quyết khoa học cho một, hoặc nhiều vấn đề khó, mang lại kết quả tốt đẹp cho đời sống xã hội của một cộng đồng, một quốc gia.
Chữ Tầm còn bao gồm cả lòng tự trọng (liêm sỉ) của một con người, khi tự đánh giá về năng lực thực hiện lời hứa (cam kết), của bản thân mình.
Như vậy; về ý nghĩa của chữ Tầm, nó giống với ý nghĩa của chữ Tài. Nhưng khi đánh giá về chữ Tầm của một con người, thì người đưa ra đánh giá đã có sự áp đặt - định lượng về mức độ nhìn xa trông rộng của cái tài thuộc người đó.
Ngay từ chế độ quân chủ, người làm vua cũng là 'kiến trúc sư' của bộ máy quan lại cai trị. Các "minh quân" là người tận tâm vì đất nước, vì hạnh phúc của người dân. Là người biết tôn trọng nhân tài, thường biết lựa chọn, sử dụng nhân tài làm 'giường cột' của chế độ, cùng triều đình giải quyết việc nước - "hiền tài là nguyên khí của quốc gia"
Ngày nay, việc xây dựng tiêu chuẩn về cái Tầm để lựa chọn người, đảm nhiệm các chức vụ trong bộ máy chính quyền, nhất là đối với người đứng đầu đất nước ở các nước khác nhau, cũng có rất nhiều khác biệt, phụ thuộc vào nền văn hóa, cũng như vào giai cấp, đảng phái chính trị, nắm quyền lãnh đạo đất nước đó.
Có người lấy số năm, tháng đi theo Đảng, cùng thành tích, công lao làm cái... Tầm của cán bộ. Có ý kiến lại lấy các văn bằng, danh hiệu cao quí đã đạt được làm cái Tầm... Chính từ cách đánh giá thiếu tính khoa học này, đã dẫn tới những tệ nạn khác, như bệnh thành tích, nạn bằng cấp giả hoặc học giả bằng thật, làm tiền đề cho nạn chạy cấp, chạy chức...
'Nguyên thủ quốc gia' ở một số nước, được xác định bằng kết quả phổ thông đầu phiếu trong bầu cử. Tại các nước này họ đã tổ chức rất nhiều cách, kể cả hình thức tranh luận đối thoại trực tiếp, qua hệ thống truyền thông đại chúng, nhằm cung cấp cho công chúng đầy đủ thông tin về tài năng, phẩm chất, năng lực thực hiện những cam kết của các ứng cử viên. Qua đó người dân đánh giá chữ Tầm của mỗi một ứng cử viên.
Khi không còn được người dân tín nhiệm, người lãnh đạo đó sẽ phải ra đi, cùng với sự thay đổi của chính quyền. Các nền văn hóa khác nhau, cách thức thay đổi của một chính quyền cũng có sự khác biệt rất lớn.
Có đất nước người lãnh đạo biết đề cao lòng tự trọng của mình, khi không thực hiện được lời hứa trước dân chúng, không thực hiện được mục tiêu mà họ đã nêu lên trong khi tranh cử, thì đã từ chức, nhường bước cho người khác, có đủ Tầm lãnh đạo đất nước hơn mình.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ các bậc tiền bối lão thành của Đảng luôn chăm lo tới công tác cán bộ, lựa chọn người vừa có đức vừa có tài cho vào các cấp chính quyền. Bác Hồ đã nói  'có đức không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người bỏ đi'. Cố Tổng Bí thư Trường Chinh cũng đã nói " nhiệt tình cộng với ngu dốt bằng phá hoại'.
Có một sự thực trong phân cấp quản lý Nhà nước. Có những vị trí chức vụ đòi hỏi người nắm cương vị đó phải có đủ Tầm, khi đưa ra những quyết sách nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, nếu không đủ hoặc không có tầm, sẽ không bao giờ giải quyết được.
Ví dụ như, mới đây khi trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, một vị Bộ trưởng đã nói trước Quốc hội rằng: "Ai chụp ảnh được cán bộ nhận phong bì thì gửi cho tôi". Cách giải quyết vấn đề, như thách đố tất cả mọi người như thế là... không đủ Tầm tư duy của người đứng đầu một ngành.
Nhưng ở cấp thừa hành, có những việc mới chỉ cần đến cái Tâm là đủ. Ví dụ như, việc tổ chức đấu thầu thuốc sử dụng tại các bệnh viện công lập chẳng hạn. Chỉ cần nhìn vào kết quả giá thuốc trúng thầu cao hơn giá thị trường, có thể nói ngay rằng, đó là kết quả của việc làm xuất phát từ cái Tâm không trong sáng. Người chịu trách nhiệm làm ra việc này đã thiếu chữ Tâm, không có đạo đức (thất đức).
Ngày nay việc quy hoạch, giáo dục bồi dưỡng cán bộ có đầy đủ Tâm và Tầm để bổ nhiệm vào chức vụ là trách nhiệm của cấp ủy Đảng các cấp. Nhưng việc minh định về cái Tầm của cán bộ, trong những năm qua cũng có nhiều vấn đề.
Có người lấy số năm, tháng đi theo Đảng, cùng thành tích, công lao làm cái... Tầm của cán bộ. Có ý kiến lại lấy các văn bằng, danh hiệu cao quí đã đạt được làm cái Tầm... Chính từ cách đánh giá thiếu tính khoa học này, đã dẫn tới những tệ nạn khác, như bệnh thành tích, nạn bằng cấp giả hoặc học giả bằng thật, làm tiền đề cho nạn chạy cấp, chạy chức...
Hệ lụy tất yếu của các tệ nạn trên là: Đảng đang đứng trước thách thức rất lớn đó là yếu kém về quản lý của các cấp, các ngành, cùng đó là tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, dẫn tới tham nhũng đã trở thành quốc nạn, mất lòng tin của nhân dân, đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Lịch sử của dân tộc đang đứng trước những thách thức, cũng như vận hội mới. "Vận nước' đang đặt trách nhiệm vào các vị dân biểu (đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp) những người thay mặt Đảng và toàn thể quốc dân đồng bào cả nước trong việc minh định và lượng hóa về Tâm và Tầm của đội ngũ cán bộ trong bộ máy chính quyền.
Để các vị có những lựa chọn, quyết định hợp lòng dân. Để dân tộc luôn vững vàng trước mọi thách thức, trên hành trình hội nhập thế giới hiện đại.
Nguyễn Văn Soạn

Tư gia, 23h20' ngày thứ Bảy, 23/02/2013

Thứ sáu, ngày 22 tháng hai năm 2013

THƯA VỚI ÔNG TỔNG THƯ KÝ HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG


Bài đọc liên quan:
+ Hiến pháp và thực tế Việt Nam
+ Tái cơ cấu cái gì?
+ Sai lầm chính trị hay kinh tế?
+ Quán tính tư duy
+ Bất cập của loài người
+ Công hữu, tư hữu và hình thái xã hội loài người
+ Về mặt lý luận hình thái kinh tế xã hội Việt Nam đang ở đâu?
+ Thưa các quan phụ mẫu
+ Họ đã làm gì và họ sẽ...?



Hôm nay được đọc bài viết của ông Tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương - Phó giáo sư tiến sĩ Phạm Viết Thông - với nhan đề: Tính hợp lý của điều 4 trong dự thảo hiến pháp (sử đổi) được đăng trên báo Nhân Dân ngày 20/02/2013. Bài báo có đúng 2.984 chữ, dài quá mức cho phép để độc giả có thể đủ kiên nhẫn đọc hết nó ở thời đại thông tin này. Nhưng cũng ráng đọc để học hỏi khả năng tư duy độc lập, tư duy phản biện của một think tank hàng đầu của quốc gia.

Ông phó giáo sư viết rất dài, nhưng hầu như không có tính khoa học và khách quan của một nhà làm khoa học, mà hầu hết là cảm tính và áp đặt ý kiến của riêng ông vào vấn đề chung của dân tộc và tổ quốc. Đặc biệt, ông áp đặt một lối suy nghĩ đi ngược với duy vật biện chứng mà chính ông phải là người thấu hiểu nó hơn ai hết. Có thể trích ra sau đây điều ông đi ngược với quy luật mâu thuẩn của mâu thuẩn và quy luật thống nhất các mặt đối lập để phát triển như sau:

"Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Ðảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Ðảng Cộng sản Việt Nam là "Ðảng ta". Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Ðông Âu còn nguyên giá trị. Từ khi chấp nhận bỏ Ðiều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là Ðảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ta."

Thưa ông, nhân dân nào thừa nhận điều ông viết? Ông thử ra bến xe, chợ hay bất kỳ nơi đâu hỏi dân xem, dân có như ông viết ra không?

Thưa ông, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng tức là triệt tiêu mâu thuẩn, triệt tiêu đối lập. Nó đồng nghĩa với đi ngược lại các quy luật mâu thuẩn và đối lập. Cho nên đất nước ta mới có những cái tồi tệ như ngày hôm nay phải không ông? Có thể tôi học ít, không nhiều học vị, học hàm như ông, nên tôi chưa hiểu chỗ này, mong ông giải thích dùm cái chỗ mà tôi cho rằng ông đang ngụy biện.

Thưa ông, tại sao phải dịch, rồi sao y bản chính điều 6 của hiến pháp Liên Xô cũ thành điều 4 của hiến pháp Việt Nam 1992? Không lẽ, từ ngày đảng ra đời đến nay chưa có ai làm ra được cái gì riêng cho đân tộc, kể cả tuyên ngôn độc lập cũng vay mượn, hiến pháp cũng sao chép, nền kinh tế chính trị định hướng xã hội chủ nghĩa cũng phải dịch và sao chép, và nhiều cái sao chép khác không phù hợp với lịch sử, văn hóa nước mình. Nên tất cả những cái sao chép ấy lại làm nên bị kịch cho giống nòi?


Thưa ông, tôi viết ngắn, mong ông và cái hội đồng lý luận của ông hiểu nhiều và làm cho đúng với các quy luật triết học duy vật để cho đồng bào và tổ quốc này còn có ngày tự hào với thế giới, chứ không tệ hại như hôm nay. 

Xin cảm ơn ông đã cho tôi bài học thế nào là cái lý luận trung ương qua bài viết của ông.

Asia Clinic, 9h12' ngày thứ Sáu, 22/02/2013

Thứ hai, ngày 18 tháng hai năm 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (3)

Hai mươi hai năm trước, cũng vào mùa xuân, tôi có mặt ở Phnompenh, cũng là lúc ông Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck chuẩn bị về Cambodia để xây dựng một xã hội hòa hợp hòa giải dân tộc dưới một chính quyền đa nguyên quân chủ lập hiến. Lúc ấy, lưu lại 9 tháng làm ăn sinh sống, đất nước Cambodia vừa trải qua một thời kỳ kinh hoàng diệt chủng của đảng cộng sản Khmer đỏ do Polpot cầm đầu. Con người hỗn loạn, xã hội còn mất an ninh, đêm đi đường không biết có toàn tính mạng dù giữa thủ đô của một nước. Cơ sở hạ tầng đổ nát, đường xá đầy hố bom. Các đảng phái tranh nhau mọc như nấm sau mưa. Ai cũng lo sợ một cuộc thanh trừng và có thể nội chiến giữa các đảng phái và phe nhóm, mà đặc biệt đứng đầu giữa 2 phe của chính quyền ông Hunxen và nhóm theo quốc vương sẽ trở về từ Trung Hoa lục địa sau 23 năm lưu vong. Mặc dù cuộc sống người dân Cambodia lúc này vẫn chảy đều, nhưng cũng lắm tiêu cực. Muốn có chứng minh nhân dân Cambodia lúc đó chỉ cần tốn 1000 Ria tương đương 4000 tiền Việt. Muốn có hộ khẩu chỉ cần tốn 5000 Ria tương đương 20.000 tiền Việt là có ngay trong ngày. Cái chết có thể đến ngay trong ban ngày giữa chợ bằng súng mà chính mắt tôi nhìn thấy. Tất cả trong một mối bòng bong sau một thảm họa.

Bây giờ, trở lại cũng là lúc ông Thái thượng hoàng vừa băng hà và vừa mới hỏa táng. Hoàng cung không được phép tham quan trọn vẹn. Mọi du khách chỉ được tham quan khu vực chùa Ngọc Bích - còn gọi là chùa Vàng Bạc - đường phố giăng đầy hình ảnh ông bọc dải tang đen. Nhưng, an ninh đã tốt hơn nhiều, đi ngày không phải lo lắng, đi đêm cũng rất an toàn, nhưng thủ đô Phnompenh đúng nghĩa là một thủ đô hành chánh khi đêm về chỉ khoảng 23h là hầu như đã vào giấc ngủ. Còn đối với thành phố Siêm Riệp đúng nghĩa là một thành phố du lịch và thương mại đầu tàu kinh tế quốc gia, nửa đêm vẫn còn khách vãng lai và sinh hoạt thương mại vẫn diễn ra.

Dù thế, đời sống một góc khuất vẫn hiện ra, tuy không nhiều như ở ta, nhưng đáng để quan tâm. Đó là hình ảnh của những người dân nghèo Khmer, và đặc biệt là dân nghèo Việt Nam. Các khu du lịch trên đất Khmer suốt 3 ngày tôi chỉ gặp đúng một gia đình với bà mẹ và 3 đứa con Khmer xin tiền. Không dày đặt như ở ta, những người ăn xin rất dễ thương trong cách xin và cách nhận với một cái lạy cúi rạp người và lời cảm ơn lơ ló tiếng Việt của người Khmer đói khổ. 

Song, khi đến tham quan làng người Việt nghèo trên biển Hồ thì một hình ảnh rất xấu diễn ra ở đây mà chúng tôi nói với nhau là, "thương hiệu cái bang Việt" đi đâu cũng thấy mà phát buồn. Chúng tôi được hướng dẫn viên giới thiệu, có một làng người Việt nghèo truyền kiếp từ thời trước 1975 vẫn cứ tồn tại trên những căn nhà nổi và trên những chiếc ghe vừa làm nhà, vừa làm phương tiện đánh cá trên biển Hồ Tonle Sap. Vài năm gần đây báo chí trong nước cũng ca ngợi ngôi trường dạy trẻ em nghèo trên biển Hồ này rất nhiều. Họ đáng thương, nên du khách cần tham quan, để có dịp kêu gọi giúp đỡ họ. Mỗi vé tham quan là 20 đô la Mỹ. Đã đi thì không thể bỏ, mà đặc biệt là người đồng bào mình làm sao bỏ được? Chúng tôi náo nức muốn làm cái gì đó cho đồng bào mình xa xứ nghèo khổ.

Một cháu trai xin tiền rất thông minh theo cách này, dù hơi ác cảm. Tốn 1000 Ria để chụp được hình cháu hoặc với con trăn.

Giữa trưa dưới cái nắng gắt 39 độ C, chúng tôi vẫn tranh thủ đi cho kịp lịch trình còn tham quan Naga World - một sòng bài lớn ở Phnompenh mà nhiều đại gia đình đám Việt đã phải tự tử vì nó - vào buổi chiều. Tâm trạng khi đi cứ nghĩ sẽ hết lòng với làng nghèo này. Nhưng trước khi đến trường trẻ em nghèo người Việt được UNESCO tài trợ từ hơn 5 năm qua, chúng tôi được uống nước dừa và ăn tép rang, thì đập vào mắt mình là một cháu xin ăn người Việt ôm trong lòng một con trăn lớn. Hình ảnh cháu không làm ai nghĩ cháu đi xin ăn, cứ nghĩ cháu là con chủ nhà hàng nổi trên biển Hồ. Nhưng lúc đang ăn uống thì cháu xuất hiện sau lưng mình với lời xin ăn, mọi người từ thương hại đến lo sợ con trăn mà cháu mang theo. Ác cảm từ lo lắng trở nên phòng thủ với "thương hiệu cái bang Việt".

Các cháu học sinh nghèo ở trường dạy tiếng Việt không tốn tiền của ông thầy Tư thành lập, bây giờ được một phần tài trợ của UNESCO?

Chúng tôi được đưa đến ngôi trường dạy tiếng Việt cho trẻ em nghèo trên biển Hồ. Cứ nghĩ sẽ đến để tìm hiểu, nhưng đến chưa đầy 5 phút là phải bỏ chạy lấy thân. Sự xuất hiện tàu du lịch của chúng tôi chưa đầy 1 phút thì hàng đàn ghe xuồng, thậm chí cả trẻ con bơi bằng chiếc thau giặt đồ vây quanh thuyền du lịch đông như kiến. Âm thanh kêu réo xin tiền, níu kéo khách du lịch như ong vỡ tổ. Một số người cử đại diện vào trường trao quà vì thấy trường chật hẹp. Một số ở lại trên thuyền bị bao vây sợ quá cũng nhảy theo lên trường để bớt bị níu kéo xin ăn. Tất cả diễn ra một hình ảnh không phải người đi tặng quà và kẻ nhận quà, mà là một sự hỗn độn đến mức khó tả. Cuối cùng có bao nhiêu quà và tiền lẻ chúng tôi vứt hết cho người Việt xin ăn và đại diện trường để thoát thân.

Trong khi đoàn du lịch thăm trường thì hàng đoàn thuyền người Việt bám thuyền du lịch để xin ăn.

Trên đường về, tôi suy nghĩ mãi, những người mà được các hướng dẫn viên du lịch mô tả rất đáng thương này có được để đáng thương không? Hơn 5 năm qua UNESCO tài trợ trường lớp, nhà thờ, khách du lịch và các đoàn ủng hộ, cộng thêm vào việc làm ăn sinh sống ở trên biển Hồ của họ thì họ có đáng để được gọi là nghèo theo kiểu này không? Hay là các công ty du lịch lợi dụng họ để khai thác kiếm tiền? Và họ thì lợi dụng du lịch để chỉ biết xin ăn mà không cần phải làm lụng vất vả? Tất cả đều có thể xảy ra trong bối cảnh người Việt hiện nay ở đâu cũng thấy.

Có một điều mà ai cũng tự hỏi, tại sao họ không về Việt nam sinh sống mà phải sống vất vưởn kiểu này? Vì họ không muốn về vì nhiều lý do, hay họ về mà không được tiếp nhận? Hay vì sống như thế này sướng hơn? Nhưng các câu hỏi không lấn át được một nỗi đau - nỗi đau của nước Việt ở thời đại "quanh vinh" - mà để dân mình bôi nhọ hình ảnh dân tộc mình ở xứ người thì không thể lãng quên.

Có thể cảm giác này của tôi và đoàn du lịch của chúng tôi đã từng diễn ra với nhiều đoàn đi trước, nhưng họ ngại sẽ phải viết ra. Nhưng không viết ra thì có tội với tổ tiên và đồng bào mình. Có thể có bạn cho rằng tôi ác độc khi viết ra. Nhưng họ, những "người nghèo Việt trên biển Hồ" cần một chính sách của nhà nước ta và nhà nước Cambodia liên kết nhau, bằng cách nào đó, để cho họ cái cần câu để kiếm cơm, chứ không thể để tồn tại mãi cách họ nhận cá cơm như thế này.

Asia Clinic, 12h08' ngày thứ Hai, 18/02/2013

Thứ bảy, ngày 16 tháng hai năm 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (2)

Đế chế Khmer hay còn gọi là Đế quốc Khmer bắt đầu từ vị vua Jayavarman đệ nhị. Ông là một hoàng tử của đảo Java thuộc Indonesia ngày nay. Giống như thời kỳ nước Việt sử dụng Huyền Trân Công chúa gả cho Chế Bồng Nga nước Champa. Ông Jayavarman đệ nhị cũng là một con tin chính trị được làm rể cho nước Chân Lạp. Ông mang văn hóa Java truyền bá và đánh chiếm các vị vua lâng bang vùng Đông Nam Á, và lập nên một diện tích bằng đất nước Cambodia hiện nay. Bắt đầu xây dựng đế chế Khmer từ 790 sau Công nguyên, đến năm 802 ông tuyên bố mình là Vua thiên hạ - Chakravartin - theo phương cách Ấn Độ giáo. Các đời vua sau đó đánh chiếm và tạo ra một Đế chế Khmer rộng lớn nhất khu vực Đông Nam Á với hơn 1 triệu cây số vuông, kéo dài 630 năm cai trị và suy tàn rồi tan rã vào năm 1432. Đế chế Khmer lúc cường thịnh bao gồm, Lào, Thái Lan, miền Nam Việt Nam và Cambodia bây giờ.

Bản đồ Đế chế Khmer lúc cường thịnh vào đời vua Jayavarman VII

Vì có nguồn gốc từ xứ sở ngàn đảo nên văn hóa và tôn giáo thời kỳ đầu của Chân Lạp nói riêng và đế chế Khmer sau này nói chung là Bà La Môn giáo, thờ linh vật là chủ yếu đi đôi với kiến trúc Tháp Champa, và ăn cơm bằng nhúm bàn tay bốc chứ không ăn đủa như bây giờ của hầu hết dân Khmer. Đến đời vua Jayavarman đệ Thất ảnh hưởng Phật giáo Nam tông - tiểu thừa - từ Ấn Độ và các nước lâng bang, Phật giáo được nhà vua đẩy lên thành quốc giáo để phủ dụ dân chúng dễ bề cai trị. Từ đó, mỗi nam thanh niên Khmer muốn thành người trọng dụng phải tốt nghiệp trường Phật học ở các chùa trong cả nước. Ngay các chính khách ngày này như Polpot hay Hunxen đều đã từng là các học viên tại các chùa lớn ở Phnompenh.

Tàng tích dân tộc Champa ở Cambodia ngày nay nằm dọc theo sông Mekong rải rác từ tỉnh Kongpong Cham qua Kongpong Thom đến Phnompenh. Hầu hết người Champa sống bằng nghề đánh bắt cá và làm mắm Bò hóc - prahoc hay pro hoc theo phiên ngữ tiếng Khmer - một loại mắm làm bằng cá nước ngọt rất công phu và ngon, chứ không thối như mắm bò hóc mà người ta vẫn thường hay kể. Tỷ lệ dân Champa ở Cambodia không nhiều chiếm khoảng 3% dân số. Một dân tộc đang tàn lụi và phải đi sống nhờ ở đậu xứ người để tồn tại cũng vì quá hiền lành và chất phát. Ở đâu có người Champa thì ở đó đạo Hồi và Bà La Môn vẫn hiện diện qua kiến trúc và văn hóa sống.

Dấu tích kiến trúc Champa trên đồi Bà Then

Nhà nước quân chủ lập hiến Cambodia hiện nay có một chính phủ điều hành dưới quyền của thủ tướng suốt 20 năm qua. Năm nay sẽ là năm tranh cử nhiệm kỳ thứ 5 của ông Hunxen sau 4 nhiệm kỳ liên tiếp thắng thế. Ở Cambodia hiện nay có rất nhiều đảng phái tranh cử, nhưng chỉ 5 đảng phái lớn là có tiếng nói với dân chúng và có ghế trong quốc hội. Vì là một chính phủ đa nguyên như các nước phương Tây và Hoa Kỳ, cho nên, thay vì tham nhũng và độc tài như các nước châu Á quanh vùng theo cộng sản, thì chính phủ hiện nay phải công khai các phí dịch vụ làm giấy tờ hoặc trong mọi thủ tục hành chính công. Ví dụ, dùng xe hơi phải đóng thuế 800 đô la Mỹ mỗi năm cho sở thuế, nhưng đi xe hơi sai luật thì tự động tốn 2 đô la Mỹ cho cảnh sát giao thông, mà nghĩ rằng nó là phí phải nộp hay tiền hối lộ cho cảnh sát giao thông cũng được, vì tiền 2 đô la này không nộp vào kho bạc nhà nước, mà vào túi cảnh sát giao thông trực tiếp xử phạt người đi xe sai luật không có mảnh giấy biên nhận. Nhưng không vì thế mà cảnh sát giao thông lạm dụng quyền xử phạt, vì cảnh sát và quân đội không được quyền tham gia chính trị, các đảng phái khác đảng nhân dân cách mạng của ông Hunxen chỉ trích chính phủ, vì sao để cảnh sát lạm quyền. Ở quốc hội Cambodia, theo hiến pháp được quyền truất phế thủ tướng đương nhiệm bị bất tín nhiệm và bầu thủ tướng mới thuộc đảng phái khác trong thành viên quốc hội. Có lẽ nhờ vào thể chế đa nguyên, và tam quyền phân lập, nên Cambodia đã phát triển rất vững chắc sau chỉ 22 năm trở lại vương triều của hoàng tộc Norodom Sihanuck.

Nền kinh tế của Cambodia là một nền kinh tế thị trường tự do đúng nghĩa theo quy luật cung cầu. Giống các nước phương Tây và Hoa Kỳ về mọi mặt, nên cũng thì một lít xăng, dầu, nhưng ở 2 công ty xuất nhập khẩu khác nhau thì có giá bán khác nhau, nhưng không ai quan tâm đến mua ở nơi giá rẻ hơn. Toàn bộ nền kinh tế Cambodia là một nền kinh tế nhập khẩu hoàn toàn, hầu như xuất khẩu là con số không to tướng, nhưng hầu như chưa nghe thấy có sự thâm hụt ngân sách quốc gia vì những đầu tư công, hay vì tham nhũng. Vì hầu hết tất cả các lĩnh vực chính phủ Cambodia đều giao cho tư nhân quản lý, điều hành và đóng thuế cho chính phủ. Tiền đóng thuế đó sẽ được dùng để làm việc chính sách công và lo lương cho hệ thống công quyền.

Trong cùng một ngày 14/02/2013, nhưng 2 cây xăng ở Phnompenh của 2 đại lý Tela và Sokimex có giá xăng dầu chênh lệch khác nhau, song không ai vì thế mà phải tranh nhau mua giá rẻ hơn. vì nó là chuyện rất bình thường ở một nền kinh tế thị trường tự do như Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt nam trước 30/4/1975.

Hầu hết các khu vực kinh tế lớn của đất nước Cambodia được thầu bỡi các đại gia Hoa kiều và Việt kiều. Một ông Việt kiều giàu có nhất Cambodia có nguồn gốc là người Sóc Trăng. Ông là người tài trợ cho chính phủ ông Hunxen trong những ngày đầu thành lập quân đội để đánh lại chế độ cộng sản Khmer Đỏ diệt chủng Cambodia. Ông bao thầu rất nhiều lĩnh vực từ xuất nhập khẩu hầu hết các ngành nghề kể cả xăng dầu, vàng bạc, đến bất động sản và kể cả du lịch. Hiện Angkor Vat và Angkor Thum và toàn bộ rừng Angkor do ông thầu và khai thác, mỗi năm ông đóng cho chính phủ đương nhiệm 24 triệu đô la Mỹ. Trong khi đó, mỗi chiếc vé tham quan Angkor trong 1 ngày cho người lớn là 20 đô la, và trẻ em dưới 12 tuổi là 10 đô la Mỹ! Ước tính lượng du khách đến thăm Angkor hằng năm trên 3 triệu lượt người. Một con số khổng lồ ở một địa điểm du lịch cho ngành khai thác du lịch ở một đất nước chỉ 15 triệu dân. Kể cả bệnh viện Chợ Rẫy Phnompenh ở khu vực Chợ Chba Om Pau - Cầu Sài Gòn ở Phnompenh - ông này cũng là chủ đầu tư, hiện đang được xây dựng và đào tạo nhân lực.

Đạo Phật cũng góp phần không nhỏ cho nền kinh tế và an sinh xã hội Cambodia. Hằng năm đến ngày lễ lớn hoặc ngày tết truyền thống của người Khmer - vào khoảng tháng 3 âm lịch hằng năm do vua sãi quyết định theo việc chấm thiên văn - các đại gia kinh tài tư nhân trên đất nước Chùa Tháp thường làm lễ tạ ơn cho đất nước bằng việc đáp ứng lời kêu gọi của chính quyền như, đóng góp 1 ngôi trường học hoặc xây dựng một bệnh viện, hoặc xây dựng, tu bổ một con đường. Đất là thuộc sở hữu tư nhân hoàn toàn có luật người dân được sở hữu dưới lòng đất bao sâu và trên không bao cao tùy theo thành phố hay tỉnh có quy hoạch rõ ràng. Ví dụ, ở thành phố Siêm Riệp, khoảng không trên mãnh đất không được quá chốn linh thiêng của các đền Angkor, nên ở đây các khách sạn hầu hết chỉ trong khoảng đến 4 tầng lầu, mặc dù đền Angkor Wat cao đến 65 mét, nhưng các đền Angkor Thum thì ở khoảng dưới 20 mét cao.

Tên đường phố của Cambodia cũng rất khoa học theo cái cách mà chính phủ đặt ra. Ở Cambodia không có con đường nào mang tên của người như ở Việt Nam, mà chỉ mang tên số là vĩnh hằng. Còn tên người chỉ gắn vào con số tên đường chỉ để ghi nhớ công lao của người ấy đã tài trợ làm và bảo trì con đường ấy. Tại Phnompenh có 1 đại lộ 286 gắn với tên Mao Trạch Đông, nó được gọi là đại lộ 286 Mao Trạch Đông, vì Trung Hoa đã cung cấp tiền duy tu và bảo trì con đại lộ này. Nhưng đến một ngày nào đó, Trung Hoa không còn tài trợ để duy tu và bảo trì con đại lộ này thì nó sẽ trở lại tên đường là Đại lộ 286. Đường phố là của dân đi lại, nhưng vỉa hè là của chính phủ thu tiền đậu xe. Nên không có bất kỳ chủ nhân căn nhà mặt tiền nào được hoặc dám đuổi ai đó đậu xe trên vỉa hè trước cửa nhà mình. Trung tâm thành phố Siêm Riệp cũng có một Viện Nhi khoa không mất tiền khi đến đây khám chữa bệnh trẻ em dưới 15 tuổi do Thụy Điển tài trợ. Đó là một trong những cách mà chính quyền Cambodia làm nên nền kinh tế và an sinh xã hội tốt cho nước mình.

Đạo Phật cũng dạy cho người Khmer không có quan niệm kẻ thù đế quốc thực dân Pháp, Mỹ hay gọi Polpot là kẻ thù dân tộc ngụy quyền. Ở Cambodia, trong quan niện dân chúng chỉ có 2 mặt: thiện và ác, nhân và quả. Đêm đầu đến thành phố Siêm Riệp, với 25 đô la cho mỗi người lớn và 12,5 đô la cho trẻ em dưới 12 tuổi, chúng tôi đã được xem một vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ. Tất cả vở đại hùng ca múa kịch sử thi này với hơn 300 con người diễn viên thực hiện suốt 70 phút đồng hồ kể lại lịch sử đế chế Khmer suốt hơn 1000 năm hình thành và phát triển, rồi lụi tàn cho đến hôm nay, vẫn một nụ cười đôn hậu vào quá khứ, hiện tại và tương lai, mà không một lời oán trách và chỉ mặt đặt tên kẻ thù, chỉ nhắc nhở con người hãy sống với nhau hiền hòa, trên đời này chỉ có kẻ thiện người ác là do nhân quả mà thành. Có lẽ vì thế mà đã có một sự hòa hợp hòa giải dân tộc Khmer và nhiều dân tộc khác sống ở Cambodia không hận thù, sau hơn 20 năm binh biến và nạn diệt chủng do Polpot gây ra, trong công cuộc hồi hương sau 23 năm lưu vong của Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck.

 Vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ.

Suốt 3 đêm và 4 ngày trên đất nước Chùa Tháp, tôi luôn liên tưởng đến đất nước Cambodia về việc điều hành nền kinh tế làm sao mà đồng tiền không lạm phát, thậm chí ngày càng có giá trị hơn so với đồng tiền Việt của chúng ta, trong khi hầu hết nền kinh tế Cambodia là nền kinh tế nhập khẩu mà không có xuất khẩu và không sản xuất gì, ngoại trừ sản xuất nông sản hải sản để chủ yếu tự cung, tự cấp. Càng khó hiểu hơn khi tận mắt nhìn thấy hải quan cửa khẩu Cambodia thu tiền qua lại của dân mình mỗi đầu người 20 ngàn đồng tiền Việt không chứng từ sổ sách, để thị thực sớm, cho qua luôn cả xe và người mà không cần kiểm tra. Tức có nghĩa là tham nhũng ở Cambodia chắc chắn là nhiều hơn ở ta. Cách đây 22 năm, mình đến Cambodia giá đổi tiền Ria sang Việt là 4 đồng Việt ăn 1 đồng Ria, còn năm nay thì 5 đồng Việt mới đổi được 1 đồng Ria theo thị trường chợ đen!

Ngược lại với chính sách tận thu thuế phí ở Việt Nam, Cambodia lại có chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu để biến thị trường nội địa trở thành thị trường hàng hóa giá rẻ, để dân chúng Cambodia tự do buôn bán kiếm lãi với hàng nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới. Một chiếc Lexus đời mới nguyên thùng chỉ bằng giá một nửa so với ở Việt Nam. Hầu hết dân Cambodia đều dùng hàng xịn của các nước phương Tây và tiên tiến. Mấy ngày ở đây tôi chỉ thấy đúng 1 chiếc xe hơi hiệu Kia của Hàn Quốc ở vùng nông thôn Kampong Cham. Ở Siêm Riệp và Phnompenh thì kiếm một chiếc xe hơi có xuất xứ từ Hàn Quốc để bán giá đồ cổ cũng không ra. Còn các hiệu thời trang hàng đầu thế giới như Gucci, Levis, ... giá rẻ chỉ bằng 25-30% tại Việt Nam!

Đêm cuối ở Phnompenh, mình đến thăm người bạn cùng học trường Y ngày xưa, cũng đã từng là người nếm mùi thuốc súng thời làm nhiệm vụ quốc tế lật đổ chế độ cộng sản do Saloth Sar - tên thật của Polpot - để gầy dựng nhà nước Cambodia ngày nay. Anh em cùng tâm sự, mình hỏi, anh có định về lại Việt Nam để sống không? Anh ấy bảo, sống ở đây không phải nhức đầu bỡi cơm áo gạo tiền, bỡi lạm phát kịch trần, bỡi tham nhũng và bỡi nỗi đau lòng dân oan bị quan chiếm đất, v.v... Ngược lại là đằng khác cậu à, đời sống ở đây rất yên bình, giống như thời Đệ Nhất Cộng hòa ở miền Nam, xe hơi của tớ đêm ngủ, cứ để ngoài đường chả ai thèm lấy, đừng nói đến mất trộm kiếng chiếu hậu, hay mất mặt nạ. Hơn nữa, nó cũng gần quê nhà, nếu nhớ quê thì chỉ cần một cuốc xe mấy giờ đồng hồ là đến quê nhà, tội dại gì phải về nước, để phải khổ tâm vì những việc không phải mình gây ra hả cậu? Cậu cứ nghĩ mà xem, dù Cambodia là một thể chế chính trị có cả phong kiến, tăng lữ quý tộc, mẫu hệ và cộng hòa tồn tại, nhưng quyền tự do dân chủ tối thiểu của dân không thua bất cứ xứ nào. Và suy cho cùng chế độ cộng sản nào cũng vậy, thà giết sạch như Polpot đối với dân Khmer mà còn đạo đức hơn cái kiểu để dân sống mà không ra sống như ở Việt Nam hiện tại. Suốt đêm mùng 4 âm lịch tết Quý Tỵ, tôi không chợp mắt được vì cứ phải nghĩ đến câu trả lời của bạn mình, nghĩ về Cambodia, về Miến Điện và nghĩ về nước Việt hiện nay.

Đọc phần 3 Một thoáng Cambodia.

Tư gia, 1h05' ngày thứ Bảy, 16/02/2013

Thứ sáu, ngày 15 tháng hai năm 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (1)

Đúng 22 năm mình trở lại Cambodia, một đất nước có một lịch sử và văn hóa bi hùng và phế tích với một dân tộc hiền hòa đến mông muội và là một cựu Đế chế hùng cường, nằm trong số 10 Đế chế lớn nhất trong lịch sử của nhân loại.

Bi kịch và số phận đã đẩy đưa Cambodia - một trong 3 quốc gia thành viên thuộc địa Đông Dương của Pháp: Việt Nam, Lào và Cambodia - đã trở thành quốc gia duy nhất có nền chính trị Quân chủ lập hiến. Có nghĩa là, ở đây hình thái chính trị lại giống với Vương quốc Anh, mà không giống với nền chính trị Cộng Hòa của cựu mẫu quốc Pháp.

Quân chủ lập hiến là một nền chính trị mà ở đó, gia đình hoàng tộc không tham gia vào chính trị. Họ chỉ là biểu tượng của đất nước dùng để làm công việc lễ tân cho cả nội vụ và ngoại giao khi chính phủ cần. Chính phủ là tổ chức điều hành chính của quốc gia, đứng đầu là thủ tướng, dựa trên một nền chính trị đa nguyên tranh cử của nhiều đảng phái khác nhau, với tam quyền phân lập. Ai đã từng đến Cambodia cách đây 20 năm sẽ thấy đất nước bi hùng này thay da đổi thịt rất nhiều đến ngỡ ngàng.

Từ chỉ còn khoảng 1,3 triệu dân sau cuộc tàn sát của đảng cộng sản Khmer Đỏ vào giữa cuối thập niên 1970s của thế kỷ trước, ngày nay dân số Cambodia đã đạt con số khoảng 15 triệu với 30% là Hoa kiều, 20% là Việt kiều và 50% còn lại là người Khmer và các dân tộc khác. Đảng cộng sản Khmer Đỏ đã giết hầu hết tầng lớp tinh hoa và giới nhà giàu của dân tộc Khmer. Hầu hết người dân Khmer chính gốc là tầng lớp nhân dân lao động, hiền lành, chất phát như đất. Nền kinh tế của Cambodia phồn thịnh hiện nay hầu như nằm trong số 50% Hoa kiều và Việt kiều đang sinh sống trên đất nước Cambodia. Có lẽ, chính điều này sẽ là một tín hiệu không lành cho dân tộc Khmer trong vài thế kỷ tới.

Người ta thấy rằng, ở đâu mà các chính khách sử dụng thần quyền đến tột đỉnh của nghệ thuật chính trị - là nghệ thuật của sự có thể - thì ở đấy người dân rất dễ sai bảo, và bạo chúa có thể làm nên những kỳ tích để đời cho nhân loại, hoặc chính khách cũng có thể xúi giục dân chúng tắm máu vì ngai vàng của họ. Cambodia là một quốc gia có một tầng lớp chính khách và nhân dân như thế. Angkor Vat và Angkor Thum là 2 phế tích còn sót lại của một đế chế kiêu hùng làm minh chứng cho điều này. Công cuộc diệt chủng của đảng cộng sản Khmer Đỏ cũng là một minh chứng hùng hồn đối với dân tộc Khmer.

Văn hóa đặc thù của Cambodia là văn hóa của chùa chiền. Một đất nước mà ngày nay chỉ vỏn vẹn khoảng 15 triệu dân, nhưng có hơn 5000 ngôi chùa hoành tráng và to lớn. Sự giao thoa giữa thần quyền Phật giáo và thế quyền phong kiến đã tạo ra ở đất nước này một chế độ tăng lữ quý tộc trong giáo dục và định hướng dân chúng trong việc điều hành đất nước, biến đất nước này còn một cái tên gọi là, đất nước Chùa Tháp. Cho nên chùa cũng là nơi mà bất kỳ một nam thanh niên nào cũng phải vào đó để học làm người lương thiện thì mới được trở thành người có giá trị của xã hội. Không có tấm bằng Phật học, thì nam thanh niên khó lòng thành công khi bước vào đời.

Ngoài ra, ở Cambodia còn tồn tại hình thái xã hội Mẫu hệ từ thời loài người còn ăn lông ở lổ và săn bắt hái lượm. Nam thanh niên lớn lên chưa từng đi tu ở chùa để học đạo ít nhất là 6 tháng đến 3 năm, để có tấm bằng Phật học, thì khó hy vọng để lấy được vợ. Ở Cambodia, con gái đi cưới chồng, con trai đi lấy vợ và ở rể. Con cái sinh ra, không mang theo họ cha hoặc mẹ, mà cái tên của con cái là ghép thành từ tên cha và tên mẹ. Cho nên cái dòng họ không có ý nghĩa trong việc duy trì chủng tộc và dòng tộc. Đó cũng là một nét văn hóa đặc thù góp phần cho một đế chế lừng lẫy phải điêu tàn như hôm nay.

Ở khu rừng Lộc Vừng quanh biển Hồ Tonle Sap, cứ đến mùa nước nổi thì rắn bò lên đọt cây nhiều như thế này, và người dân chỉ việc chống thuyền đi bắt đem về bán cho nhà hàng hoặc các nhà sản xuất khô rắn xuất khẩu.

Đất nước chùa Tháp còn là đất nước của Rắn. Đi bất cứ nơi đâu, biểu tượng rắn cũng được điêu khắc và đúc tượng. Đây là tàn tích của thần quyền Bà La Môn ngày đầu du nhập vào Cambodia. Hồ Tonle Sap - biển Hồ - là một túi chứa nước ngọt rộng lớn nhất thế giới làm nhiệm vụ điều tiết nước cho dòng Mekong có nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Quanh biển Hồ là rừng cây Lộc Vừng bạc ngàn, nếu ở Việt Nam dân tình sẽ biến rừng cây này thành bãi hoang vì trò phong thủy và mê tín dị đoan. Nhưng ở Cambodia, rừng cây Lộc Vừng không có ý nghĩa, mà ý nghĩa của nó là tất cả các loài rắn sống ở rừng này. Mùa nước nổi từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch rừng này ngập nước, và rắn sẽ trèo lên đọt cây để tránh lũ. Lúc đó, người dân Cambodia dùng thuyền để đi săn rắn về bán cho các nhà hàng và các xưởng làm thức ăn khô, nên giá khô rắn ở Cambodia rẻ hơn giá thịt bò. Rắn nuôi một phần đời sống nông dân Cambodia, nên rắn được đạo Bà La Môn đặt làm biểu tượng của họ ở đất nước Chùa Tháp.

Rừng lộc vừng quanh biển Hồ Tonle sap và cột đánh dấu mốc nước lũ theo cấp độ nước dâng lên trong mùa  nước nổi.

Cambodia là một đồng bằng thấp, mùa nước nổi từ biển Hồ Tonle Sap đổ về cũng là mùa dân Khmer làm ruộng. Hệ thống thủy lợi ở đây còn rất kém phát triển một phần vì hơn 98% diện tích Cambodia là đồng bằng màu mỡ. Đất thịt bazan và phù sa từ biển Hồ đem lại cho đồng bằng ở đây làm ruộng trồng cây mà không cần phân bón. Người Khmer được thiên nhiên ưu đãi như người dân miền Tây Nam bộ nước Việt, nên ở đây lúa chỉ làm một mùa nước nổi, và lúa ở đây là loại lúa nước, rãi trên đồng nước lên bao nhiêu thì lúa cao lên bấy nhiêu, khi lúa chín cũng là lúc mùa nước rút - khoảng 6 tháng - và dân chỉ việc ra đồng cắt ngọn lúa có hạt mang về. Đó cũng chính là cái mà làm cho chính phủ Cambodia không quan tâm đến việc làm hệ thống thủy lợi để tăng canh, tăng vụ. Hơn nữa dân số chưa đông, áp lực an ninh lương thực chưa đòi hỏi và dân tình không chỉ sống bằng nghề làm lúa, mà còn có những cái khác để mưu sinh.

Cây thốt nốt có tuổi đời đến cả trăm năm được dân Khmer làm hàng rào

Văn hóa Cambodia cũng gắn liền với cây Thốt Nốt. Vua Jayavarman đệ nhị - người khởi đầu tạo dựng đế chế Khmer - là người đưa ra việc trồng cây thốt nốt để ghi lại ranh giới đế chế Khmer và cũng là ranh giới cho những mãnh ruộng vườn của mỗi gia đình đã khai hoang và làm ăn. Nên cây thốt nốt cũng là biểu tượng của đất nước Chùa Tháp ngoài chức năng là một loại cây công nghiệp ẩm thực làm ra đường, rượu và nước uống giải khát ở vùng đất đầy nắng này.  Nếu ai để ý, cây thốt nốt ở Cambodia luôn trồng ở các hàng rào của căn nhà ở và ở các bờ đất phân ranh giới giữa các thửa ruộng với nhau. Cho nên người Cambodia vẫn còn truyền miệng nhau rằng, ở đâu có cây thốt nốt thì ở đó là đất của người Khmer một thời lừng lẫy.


Asia Clinic, 9h20' ngày thứ Sáu, 15/02/2013

Thứ bảy, ngày 09 tháng hai năm 2013

TẤT NIÊN RỒNG LỘN 2012


Mấy hôm nay, đảng và chính phủ lên gân về hy vọng kinh tế 2013 - năm con rắn sẽ ngóc đầu chứ không rồng lộn cổ như năm 2012. Nhưng tớ nhìn lại cơ cấu kinh tế nước nhà nó không có gì thay đổi với hình thái chính trị đơn nguyên như sau:

Về tài nguyên thì: Than thì đến 2015 phải nhập, rừng thì hết rồi phải sang Kam và Lào để đốn. Biển thì cũng cạn dầu và hải sản thì bị Trung Hoa ngăn cấm hằng năm vào mùa biển lặng dễ đánh bắt xa bờ. Môi trường thì quá ô nhiễm dù là gần biển. Một phần nữa của nền kinh tế là vay ODA và đầu tư trực tiếp của nước ngoài mỗi năm khoảng 20 tỷ ông Tơn. Bao nhiêu của hồi môn ông cha để lại đã bán ăn hết rồi, lấy đâu nữa mà ăn?

Về khả năng làm ra tiền thì: Còn lại chỉ là kiều hối mỗi năm khoảng 12 tỷ Việt kiều gửi về. Nông dân là thành phần chủ lực làm ra sản phẩm cung cấp cho GDP khoảng 15 tỷ ông Tơn. Trí thức thì chỉ ngồi ăn bám chả làm ra sản phẩm gì. Lao động giản đơn thì đi làm gia công. Một ít du lịch chả bỏ bèn với vài tỷ ông Tơn. Chính khách thì bán đất giá cao để đẩy tăng trưởng tín dụng và GDP ảo.

Về kinh doanh tài chính thì: Đảng đã có những nghị định, nghị quyết độc quyền kinh doanh luôn cả vàng bạc và tiền tệ. Hầu hết tất cả các ngành ngon ăn đảng cũng gom luôn vào độc quyền như: điện, nước, xăng dầu, etc... Nhưng luôn báo lỗ khủng!

Ngó lại tất cả thì 90 triệu người Việt sức mạnh kinh tế nằm ở nông dân và lao động giản đơn. Còn trí thức là cục phân. Trong khi đó nông dân và lao động giản đơn đang bị ép thất nghiệp và bị cướp đất đai nhà cửa. Bao nhiêu thứ thuế, phí được ban hành ra nghị quyết, nghị định để bóc lột dân mà kiếm tiền cung phụng cho bộ máy lãnh đạo quốc gia và lương hưu trí. Thế thì tương lai sẽ ra sao?

Nên, theo tớ thì trước khi đất nước này được vực dậy thì chắc chắn phải có 1 cuộc cách mạng xã hội, còn không thì sẽ còn lụn bại nữa và không biết điều gì sẽ xảy ra? Máu có thể đổ nếu không khéo chống chèo.

Bảo trọng, bảo trọng. Hự hự,

Tư gia, 11h13' ngày 09/02/2013 nhằm 29 ném về 30 tháng Chạp 2012 Âm lịch năm thiếu.

Thứ hai, ngày 04 tháng hai năm 2013

HIẾN PHÁP VÀ THỰC TẾ VIỆT NAM

Điểm lại từ ngày nhà nước Cộng sản Việt Nam lên nắm quyền, đã có đến 4 lần hiến pháp bị sửa đổi và sắp tới đây phiên bản thứ 5 ra đời vào năm 2013. Các hiến pháp cũ là, 1946, 1959, 1980 và 1992. Như ông nghị Dương Trung Quốc, một trong những thành viên trong ban soạn thảo hiến pháp lần này - 2013 - đã trả lời trên đài BBC, Anh Quốc thì, ở Việt Nam hiến pháp là định chế hóa cương lĩnh của đảng. Có thể hiểu đơn giản là, hiến pháp của đất nước là để phục vụ cho đảng cầm quyền.

Khoảng hơn 1 tháng qua, các trí thức trong và ngoài nước rất quan tâm đến vấn đề sửa đổi hiến pháp. Đã có 2 nhóm xuất hiện để tỏ bày những mong muốn sửa đổi hiến pháp như thế nào?

Nhóm trí thức gồm nhiều thành viên cả trong và ngoài nước thì có cả một bản hiến pháp rất đầy đủ và kiến nghị mọi người ký tên đồng tình gửi đến đảng cộng sản Việt Nam.

Một nhóm mới nổi gồm  3 người khởi xướng: GS Ngô Bảo Châu, GS Đàm Thanh Sơn và Nguyễn Anh Tuấn cựu Tổng biên tập báo Vietnamnet làm ra trang web "Cùng viết hiến pháp" và một ban biên tập gồm có Nguyễn Đăng Dung, Bùi Đức Lại, Nguyễn Khương Duy và Bùi Ái Cần. Mấy hôm đầu trang này có vài bài viết của các vị giáo sư trẻ, chỉ đóng góp sửa đổi một vài điều vụn vặt. Nhưng hôm nay thì vào trang web này rất khó, phải leo tường, không hiểu vì sao?

Hiến pháp năm 1946 được viết ra có những điều cơ bản của một hiến pháp có tính nhân bản vì dân, do dân và của dân tộc độc lập tự chủ, nhưng năm 1957 chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã vi hiến để làm vụ án nhân văn giai phẩm và cải cách ruộng đất.

Hiến pháp 1959 được sửa lần thứ nhất, được cho là phục vụ cho mục đích mới: kháng chiến chống Đế quốc Mỹ, miền Bắc xây dựng và phục hồi kinh tế, miền Nam tiếp tục đấu tranh và chống Đế quốc Mỹ và "tay sai". Đến 30/4/1975 hiến pháp này xem như đã hoàn thành nhiệm vụ.

Năm 1980, thời kỳ mới sau thống nhất đất nước, hiến pháp lại được sửa đổi lần 2. Nó có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối của đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó là hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Nhưng nó đã hoàn toàn là ảo tưởng và thất bại sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Buộc lòng, năm 1992 phải sửa đổi hiến pháp lần thứ 3 để phù hợp với tình hình mới có sự cỡi trói kinh tế từ bao cấp sang kinh tế nhiều thành phần và vẫn giữ kinh tế nhà nước là chủ đạo. Trong quá trình từ 1992 đến 2013, có nhiều nghị quyết, nghị định dưới luật, và thay đổi điều lệ đảng cộng sản Việt Nam, hiến pháp 1992 đã góp phần không nhỏ cho đảng viên, quân đội và an ninh làm kinh tế và làm giàu. Nhưng cuối cùng nó đã để lại một xã hội mà cán bộ và chính quyền vi hiến, vi luật, tha hóa, tham nhũng, lộng quyền để làm giàu cho cá nhân đảng viên và các tổ chức của đảng cầm quyền. Tham nhũng và tha hóa đã trở thành quốc nạn và có nguy cơ làm sụp đổ chế độ. Nên lần này, thay đổi hiến pháp với mục đích làm sao cho "quyền công dân lớn hơn".

Có một sự thống nhất trong tất cả các bản hiến pháp từ trước đến nay là sở hữu toàn dân và là định chế hóa cương lĩnh của đảng qua mọi thời kỳ. Nó có nghĩa là để phục vụ cho đảng cầm quyền. Trong hội nghị trung ương đảng 5 năm 2012, tổng bí thư đảng đã đọc tổng kết cho việc sửa đổi làm sao để, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân. Nhà nước ta không có tam quyền phân lập. Có nghĩa là, nó đúng với hình thái xã hội mà trong đó, quân đội và an ninh cùng tham gia chính trường trong bộ chính trị, cùng chia sẻ lo toan với nhau cả 3 hành pháp tư pháp và lập pháp mà không có trọng tài.

Song khi đọc 142 điều của bản dự thảo hiến pháp sửa đổi 2013 thì cơ bản không có gì thay đổi ngoài việc bỏ cụm từ: "Kinh tế nhà nước nắm chủ đạo nên kinh tế quốc dân" trong mục 2 của điều 54. Trong đó, bỏ đi kinh tế chủ đạo của nhà nước,  thành ra là: "Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật". Đó là mục tiêu quan trọng và tối thượng nhất chứ không phải là vì sửa đổi để tăng quyền của công dân và tăng quyền kiểm soát chính quyền. Như vậy, sau thời gian hơn 20 năm cỡi trói, một thành phần lớn của đảng, kể cả quân đội và an ninh đã tích lũy tư bản kiểu hoang dã, đến lúc này cần thể chế hóa cương lĩnh của đảng cho việc được luật hóa những tài sản bất chính, nên cần phải sửa đổi hiến pháp cho phù hợp. Đây là một "bước tiến" từ từ chuyển đổi nền kinh tế tập thể trở thành nền kinh tế tư nhân hóa bước đầu.

Như vậy, về mặt chính trị và thể chế chính quyền, lần sửa đổi hiến pháp thứ 4 này là không thay đổi. Về kinh tế hiến pháp 2013 có chút thay đổi để định chế hóa tài sản tham nhũng và tha hóa mà thành hợp pháp và hợp hiến. Nó làm phá sản các nghị quyết trung ương đảng lần 4, 5 và 6 trong năm 2012, và chưa bao giờ đảng cầm quyền tôn trọng hiến pháp trong quá trình điều hành đất nước. Đó là ý nghĩa thực tiễn của lần sửa đổi hiến pháp thứ 4/2013.


Asia Clinic, 15h48' ngày thứ Hai, 04/02/2013