Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Friday, August 16, 2013

CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI

Bài đọc liên quan:

Trong một bài viết hôm 12/8/2013 của ông bác sỹ Benjamin S. Carson - một tài năng y học của thế giới - trên Real Clear World về chủ đề chính phủ mới ở Trung Hoa chống lại hiến pháp của Hoa Kỳ. Ông cho rằng, 3 bài viết trên các trang nhất Tân Hoa Xã, Nhân Dân nhật báo và Hỏa Tuyến Bình luận của một giả có bút hiệu là Ma Zhongcheng - 马众诚, có nghĩa là Trung thành với chủ nghĩa Marx - đều cho thấy là một kiểu sửa lại những bài tuyên truyền cũ của thời Mao Trạch Đông ở thập niên 1970.

Theo Bùi Mẫn Hân - Minxin Pei - một chuyên gia về chính trị Trung Quốc tại Claremont McKenna College, gần đây đã viết, "Các lãnh đạo mới của Trung Hoa có thể bỏ qua một số cải cách về kinh tế, hành chính phù hợp với mục tiêu bảo tồn sự cai trị của Đảng Cộng sản. Nhưng nó sẽ không chấp nhận bất cứ sáng kiến ​​nào có thể gây nguy hiểm đến độc quyền chính trị của đảng cộng sản, mặc dù đảng cộng sản ở Trung Hoa bây giờ không còn lý tưởng của cộng sản".

Qua những chính sách cải tổ gần đây của Trung Hoa, nổi bật nhất là chiến lược kinh tế ba phàm là của Lý Khắc Cường - Likonomics: không kích thích kinh tế, giảm nợ và tái cơ cấu - cũng thấy thấy nó chỉ đơn thuần là 3 biện pháp tạm thời giải nguy cho nền kinh tế Trung Hoa. Không giống với chiến lược của ông Shinzo Abe - Abenomics - là một phức hợp cải cách gồm 3 mục tiêu chính trị song hành với 3 mục tiêu kinh tế cho nước Nhật. Càng không giống như Hoa Kỳ là, mỗi lần thay đổi lãnh đạo có trường phái khác nhau, thì chính trị và kinh tế cũng đổi theo.

Ở Việt Nam cũng vậy, trong bài viết Bàn về kỷ vật của chủ tịch nước trao cho tổng thống Obama của tôi, những sự kiện tôi đã liệt kê, chứng minh hùng hồn cho việc đối với đảng cộng sản thì không có chuyện chuyển đổi. Thậm chí, sau sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đảng cộng sản ở Việt Nam còn sửa đổi hiến pháp năm 1992, để thêm cái điều 4 nhằm khẳng định độc tôn cầm quyền ở Việt Nam, mà các hiến pháp 1946, 1959 và 1980 chưa bao giờ có điều này.

Lịch sử thế giới về các quốc gia có đảng cộng sản cầm quyền cũng cho thấy rõ điều này. Những năm 1950s, một số quốc gia Đông Âu như, Ba Lan, Tiệp Khắc và Nam Tư, họ đã chán chê đảng cộng sản, họ muốn ly khai và thay đổi nền chính trị theo phương Tây. Nhưng dưới sự kiểm soát của Liên Xô bằng mọi cách cả chính trị lẫn quân sự đã không cho phép họ chuyển đổi nền chính trị từ đơn nguyên sang đa nguyên, và nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường tự do. Mãi đến khi Liên Xô thất bại và sụp đổ vì sau một thời gian dài đi theo nền kinh tế bao cấp, mà phải chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ và phương Tây, trong khi phải bảo kê cả các đồng minh cộng sản trên toàn thế giới, thì sự sụp đổ thực sự mới diễn ra ở Đông Âu.

Nhưng dù, Trung Hoa đã từ bỏ nền kinh tế bao cấp từ 1978, sau khi Đặng Tiểu Bình thỏa thuận với Hoa Kỳ bằng Thông Cáo Thượng Hải 12/1972, và Liên Xô cùng Đông Âu sụp đổ 1990, đảng cộng sản ở Trung Hoa vẫn không từ bỏ con đường độc tôn cầm quyền của mình. Việt Nam nằm cạnh Trung Hoa cũng phải đi theo Trung Hoa bằng Hội nghị Thành Đô, để đảng cộng sản ở Việt Nam tiếp tục khẳng định độc tôn cầm quyền bằng hiến pháp sửa đổi 1992.

Hơn nửa triệu người trước Quảng trường Thiên An Môn ngày 04/6/1989 vẫn bị xe tank, súng đạn của Đặng tàn sát chỉ trong 1 đêm.

Bây giờ, Trung Hoa đang khủng hoảng tài chính do nền kinh tế định hướng thị trường xuất khẩu và sản xuất hàng hóa giá rẻ, đẩy tăng trưởng bằng đầu tư công từ tiết kiệm của hộ gia đình. Kinh tế Trung Hoa chắc chắn sẽ hạ cánh nặng nề, nhưng với ngôi vị độc tôn cầm quyền của đảng cộng sản không thể lung lay. Vì với tư tưởng của Mao, họng súng đẻ ra chính quyền, các quốc gia có đảng cộng sản nắm quyền sẵn sàng độc ác để giữ sự độc tôn cầm quyền. Thiên An Môn đẫm máu, mới đây nội loạn Tây Tạng, Tân Cương, họ đã đàn áp dã man. 

Việt Nam là bản sao tận tụy và trung thành nhất của Trung Hoa từ sau 1990, là đồng minh chiến lược của Trung Hoa cũng đang sụp vào vũng lầy của một nền chính trị nửa dơi, nửa chuột và kinh tế kiểu mang màu sắc Trung Hoa. Cho nên khi Trung Hoa không sụp đổ, thì đảng cộng sản ở Việt Nam vẫn còn độc tôn nắm quyền hành cai trị.

Tất cả những điều trên cho ta thấy rằng, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới mà đảng cộng sản cầm quyền, thì chỉ có sụp đổ mới có sự thay đổi thực sự về chính trị và kinh tế. Việc chuyển đổi từ một nền chính trị đơn nguyên và một nền kinh tế do nhà nước chỉ huy sang một nền chính trị đa nguyên và một nền kinh tế thị trường tự do, khi đảng cộng sản chưa sụp đổ là điều ảo tưởng.

Asia Clinic, 12h50' ngày thứ Sáu, 16/8/2013

Saturday, July 27, 2013

BÀN VỀ "KỶ VẬT" CHỦ TỊCH NƯỚC TRAO CHO TỔNG THỐNG OBAMA

Bài đọc liên quan:

Nguồn bức thư gốc tại Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ: National Archives


Cách chơi khăm của các nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ với các nguyên thủ quốc gia không cùng chí hướng rất cay độc và trí tuệ mà không thể chối cãi được, vì họ luôn ở thế chiếu trên, không cần phải cầu cạnh những đối tác khó tin cậy. Chúng ta lược qua lịch sử và ý nghĩa của những việc tuy nhỏ, nhưng rất quan trọng này, để tìm ra cách nhìn khách quan trong các động tác ngoại giao.

Như lần ông Bush con đến Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ, ông nói hai vấn đề bạch hóa mà dân Việt ít ai biết được. Thứ nhất là, có người than phiến tiền kiều hối từ Hoa Kỳ cứ gửi về Việt Nam qua khúc ruột ngàn dặm là một yếu tố giúp chế độ độc tài ở Việt Nam tồn tại. Ông Bush con trả lời rất đơn giản và trí tuệ rằng, tiền của ta rồi nó sẽ lại về ta thôi, lo gì? Thứ hai là, ông lộ bí mật về con gái của thủ tướng đương nhiệm sẽ là dâu của nước Mỹ.

Lần này tại cuộc gặp mặt tại Nhà Trắng, cuối buổi họp báo của hai nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam, ông Obama đã tiết lộ món quà "qúy báu" mà chủ tịch nước Việt Nam gửi tặng cho ông là lá thư của cụ Hồ gửi cho Tổng thống Truman ngày 28/02/1946, với tư cách chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng ông Truman bỏ lá thư này vào thư viện lưu trữ mà không trả lời. Lý do là, tháng 7/1945 lúc đó Hoa Kỳ chưa xác định được cụ Hồ chính là Nguyễn Ái Quốc, nên họ đưa nhóm OSS - Office of Strategic Services - tiền thân CIA sang đào tạo quân đội cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong đó có viện trợ 200 ngàn đô la Mỹ. Nhưng đến ngày 02/9/1945 khi người Mỹ thấy cụ Hồ đọc tuyên ngôn độc lập chính là Nguyễn Ái Quốc, và là người của Quốc tế Cộng sản 3, có nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống toàn khu vực Đông Nam Á. Nên họ đã làm ngơ và, vì thế mới có hiệp định Genève 1954, và chia đôi đất nước, rồi nội chiến 20 năm. 

Thiên hạ đang bàn nhau cái động tác chủ tịch Trương đưa lá thư của cụ Hồ cho Tổng thống Obama để có mục đích gì? Tôi xin phân tích về cả 2 nguyên nhân khách quan và chủ quan để rõ vấn đề. Vấn đề là tại sao giờ này mới đưa lá thư này mà trước nay không đưa? Đó là mấu chốt của vấn đề.

Có 5 yếu tố chủ quan từ Việt Nam

Thứ nhất là, sau 30/4/1975 với phong trào tự sướng của cộng sản toàn cầu, nó đã làm mụ mỵ não trạng cộng sản trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam đã cho rằng tư bản giãy chết, nên không có lý do gì phải cầu viện như cụ Hồ đã chân thành tha thiết cầu viện ông TT Truman.

Thứ hai là, đến 1990 khi cái nôi cộng sản sụp đổ, cộng sản Việt Nam cũng với não trạng như trên của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, ông còn muốn nắm đầu cộng sản toàn thế giới trong chuyến đi tháng 10/1989 sang Đông Đức để họp, hòng kêu gọi cộng sản toàn thế giới đoàn kết lại. Nhưng thất bại, nên cuối cùng ông dẫn đầu đoàn cộng sản Việt Nam sang Trung Cộng quỳ gối để làm chư hầu bằng hội nghị Thành Đô 1990.

Thứ ba là, đến kỳ đi của cựu chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tháng 6/2007, lúc này kinh tế định hướng bán tài nguyên và con người để kiếm ăn đẩy tăng trưởng phồn vinh mà giả tạo của Việt Nam lên đỉnh điểm. Nên ông Triết đã chém gió phân hóa nội bộ Hoa Kỳ, vì cho rằng nền kinh tế định hướng bán tài nguyên và dân tộc để ăn sẽ thắng thế, trong khi Hoa Kỳ đang nợ ngập đầu sau vụ 11/9 sụp tòa WTC - World Trade Center - do bin Laden làm khủng bố.

Thứ tư là, bây giờ thì kinh tế định hướng bán tài nguyên và dân tộc đã sụp đổ. Hay nói cách khác là không còn gì để bán. Bên kia Trung Hoa cũng vậy đang sụp đổ. Nên dứt áo ra đi cầu viện Hoa Kỳ như cụ Hồ đã từng cầu viện.

Thứ năm là, hành động này là một lời nhắc khéo lại lịch sử như là một sai lầm của Hoa Kỳ trong ngoại giao đã đẩy hai nước đang có ban giao tốt trở thành thù địch.

Năm điều trên thể hiện một não trạng nô lê ương hèn mà tôi đã viết trong bài Thoát Trung Luận 2, nó làm cho đất nước và dân tộc này mãi thấp hèn và kém cỏi.

Ba yếu tố khách quan của toàn cục

Đầu tiên là, Trung Hoa không còn là nơi để bám váy ăn xin, vì Trung Hoa đã và đang sụp đổ. Trung Hoa đã phá nát tài nguyên phi vật thể và vật thể của nước Việt. Bằng chứng về giá trị phi vật thể là, từ sau Hội nghị Thành Đô 1990 đến nay, Trung Hoa đã cho du nhập vào Việt Nam một nền văn hóa dối lừa; một nền kinh tế định hướng bán tài nguyên và dân tộc sai lầm; và một nền chính trị nửa phong kiến tập quyền, nửa tư bản hoang dã. Bằng chứng phá nát những giá trị vật thể là, từ Bauxite Tây Nguyên đến những công trình quốc gia như thủy, nhiệt điện và cả hàng hóa, từ rừng cao đến đồng bằng, và Trung Hoa cũng vừa là kẻ đã và đang có mưu đồ xâm chiến biển Đông, và làm cho nước Việt yếu hèn. Nó là động lực cho quyết định có chuyến ngoại giao Hoa Kỳ vội vàng, và cần hạ mình để xin cầu viện Hoa Kỳ trong lần này.

Kế đến là, Hoa Kỳ đang thả cái củ cà rốt Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế xuyên Thái Bình Dương - TPP - trong khi kinh tế Việt cần tới 100 tỷ đô la để cứu nền kinh tế đang sụp đổ. Thế mà cái công ty quản lý tài sản Việt Nam - VAMC: Viet Nam Asset Management Company - có chức năng xử lý nợ xấu, năm nay chỉ có thể giải quyết được 70.000 tỷ nợ xấu trong năm 2013 - tương đương chỉ hơn 3 tỷ đô la. Với cách giải quyết này thì phải 30 năm mới có thể giải quyết hết tình hình khủng hoảng kinh tế hiện nay. Trong khi đó cầu viện Hoa Kỳ thì nếu được vào TPP mỗi năm Việt Nam sẽ hy vọng kiếm được 26,2 tỷ đô la. Trong 4 năm kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục hoàn toàn, và có cơ hội hùng cường, mà không cần phải quỳ lụy Trung Hoa. Hơn nữa, chuyến công du đến Trung Hoa trước đây hơn 1 tháng, ông chủ tịch chỉ mang về chưa đến 100 triệu đô la, và những ràng buộc song phương không có giá trị với một Trung Cộng tráo trở.

Và cuối cùng là, trong việc xoay trục chiến lược Thái Bình Dương của Hoa Kỳ lần này là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Vì Hoa Kỳ xoay trục đến đâu, thì ở đó có chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới II, Hoa Kỳ xoay trục đến châu Á Thái Bình Dương thì 2 cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, và chiến tranh Việt Nam 1954 -1975 tàn phá không thua chiến tranh thế giới. Sau 30/4/1975 Hoa Kỳ xoay trục sang Trung Đông, thì các cuộc chiến ở Kuwait, Iraq, cách mạng Bắc Phi và Trung Đông gần đây đã minh chứng rõ. Nên nó là động lực bắt buộc cộng sản ở Việt Nam phải chuyển hướng chiến lược hòng sống sót. Hay nói cách khác là, con tắc kè đổi màu cho phù hợp với môi trường thiên nhiên để sống còn trong quy luật đấu tranh sinh tồn.

Kết luận

Vấn đề còn lại là liệu Hoa Kỳ có tin cậy hay không, thì không ai trong chúng ta có thể biết được. Từ Joint Statement(Tuyên bố chung có ý nghĩa về mặt tinh thần và hứa hảo) đến Joint Agreement(Hiệp định chung có ý nghĩa cùng nhau thực hiện những cam kết đã ghi ra) là một khoảng trống chả bên nào muốn đi đến, nếu bên chiếu dưới không thực hiện trước. Nên chuyện 9 tuyên bố chung giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và 10 tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Cộng cũng chỉ là những lời hứa hảo. Bằng chứng là 10 tuyên bố chung với Trung Hoa chưa ráo mực thì chúng đã bộp tai ngư dân mình ngay trên vịnh Bắc Bộ. Ôi, chữ với nghĩa.

Nhưng trước tiên, Việt Nam cứ hãy thực tâm làm sao trong 4 tháng tới đáp ứng 2 tiêu chí chính trị và kinh tế cho Hoa Kỳ thấy, để họ gật đầu cho vào TPP. Còn không thì cũng như lá thư mà cụ Hồ đã gửi cho ông Truman cách đây 67 năm trước, hội nghị hai nguyên thủ quốc gia, với 9 tuyên bố chung cũng chỉ là một kỷ niệm.

Tất cả những điều trên cho thấy ai đang giãy chết, và ai đang nhịp giò nhìn thế giới là con rối như những câu thơ của Chế Lan Viên viết cho cụ Hồ cách nay nửa thế kỷ trong bài thơ, Người đi tìm hình của nước, như sau:

"...Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp 
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con 
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp 
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn 

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày 
Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi 
Lòng ta thành con rối 
                         Cho cuộc đời giật dây ..."

Asia Clinic, 9h55' ngày thứ Bảy, 27/7/2013

Friday, July 26, 2013

9 TUYÊN BỐ CHUNG CỦA TỔNG THỐNG OBAMA VÀ CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG

Bài đọc liên quan:

Sự kiện gặp gỡ giữa hai lãnh tụ đứng đầu hai nhà nước Việt Nam và Hoa Kỳ trong ngày 25/7/2013 là một sự kiện được xem là trọng đại chỉ sau sự kiện cựu Tổng thống Bill Clinton xóa cấm vận đối với Việt Nam vào năm 1994.

Hai quốc gia cựu thù đã mất một khoảng thời gian quá lâu để có 9 cam kết chung này. So với những gì người Nhật bị người Mỹ thảm sát bằng 2 quả bom hạt nhân xuống 2 đảo Hiroshima và Nagasaki, thì quan hệ hai nước Hoa Kỳ Việt Nam đã chậm đi hơn 1/3 thế kỷ. Nó nói lên bản sắc văn hóa và sự cởi mở của Việt Nam vẫn còn tư duy yếu hèn và nô lệ mà tôi đã viết trong loạt bài Thoát Trung Luận. 

Nhưng từ Joint Statement(Tuyên bố chung có ý nghĩa về mặt tinh thần và là những lời hứa hảo) đến Joint Agreement(Hiệp định chung có ý nghĩa cùng nhau thực hiện những cam kết đã ghi ra) là một khoảng trống chả bên nào muốn đi đến. Nên chuyện 9 tuyên bố chung giữa VN và HK cũng như 10 tuyên bố chung giữa VN và TH cũng chỉ là những lời hứa hảo. Chờ xem tương lai sẽ như thế nào mới rõ được. Đến bây giờ, chưa có cái gì cho thấy hiệu quả của những tuyên bố chung này, ngoài việc lên dây cót tinh thần.

Văn bản này được đăng trên trang The White House - President Obama ngày 25/7/2013 theo giờ Hoa Thịnh Đốn. Hôm nay tôi xin dịch 9 cam kết này sang tiếng Việt để xem như là một tư liệu lịch sử và hồ sơ ngoại giao để sau này tham khảo.

9 TUYÊN BỐ CHUNG CỦA TỔNG THỐNG OBAMA VÀ CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG

Tổng thống Barack Obama chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang của nước CHXHCN Việt Nam tại Nhà Trắng vào ngày 25 tháng Bảy năm 2013. Trong cuộc gặp gỡ, hai lãnh tụ đứng đầu của hai quốc gia khẳng định cam kết của họ để mở một giai đoạn mới trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung. Chuyến thăm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến vào một thời điểm quan trọng đối với cả hai quốc gia, phản ánh một mong muốn chia sẻ để xây dựng một mối quan hệ hướng tới tương lai giữa hai nước.

Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã quyết định để tạo thành một quan hệ đối tác toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam để cung cấp một khuôn khổ tổng thể cho việc thúc đẩy mối quan hệ. Họ nhấn mạnh các nguyên tắc của quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, bao gồm tôn trọng Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, và các hệ thống chính trị của nhau, độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ. Họ đã tuyên bố rằng quan hệ đối tác toàn diện được thiết kế để đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực, và trên thế giới. Quan hệ Đối tác Toàn diện mới sẽ tạo ra những cơ chế hợp tác trong những lĩnh vực bao gồm cả quan hệ chính trị và ngoại giao, những quan hệ thương mại và quan hệ, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và sức khỏe, các vấn đề di sản chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, và văn hóa, thể thao, và du lịch.

1. Hợp tác chính trị và ngoại giao

Là một phần của quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, hai bên nhất trí tăng cường những trao đổi cấp cao cũng như sự liên lạc ở tất cả các cấp, và tăng cường những cơ chế đối thoại và hợp tác. Tổng thống Obama khẳng định ủng hộ của Hoa Kỳ cho một nước Việt Nam độc lập, chủ quyền, thịnh vượng và hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự tăng cường hợp tác của Hoa Kỳ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhằm góp phần vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

Hai người đứng đầu hai quốc gia hoan nghênh việc thành lập một cuộc đối thoại thường xuyên giữa hai bộ trưởng ngoại giao, và khuyến khích đối thoại và trao đổi giữa các vấn đề còn tồn tài có liên quan đến đảng phái chính trị ở cả hai nước.

Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế trong đó có hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh cao Đông Á (EAS ), và Hội nghị mở rộng Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM +) để hỗ trợ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Lãnh đạo hai nước khẳng định lại sự ủng hộ đối với việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm như đã được phản ánh trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Hai lãnh đạo cũng khẳng định lại sự ủng hộ đối với nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực(threat-of-force) trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh giá trị của việc thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tầm quan trọng của việc mở các cuộc đàm phán để đi đến kết luận một luật có hiệu lực thực thi ứng xử trên biển Đông (COC).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao cho Sáng kiến Khu Vực Hạ Lưu sông Mekong (LMI)*. Hai nhà lãnh đạo nhất trí hai bên sẽ làm việc cùng với các nước thành viên khác và những người bạn của hạ lưu sông Mekong tăng cường hơn nữa hợp tác khu vực để thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối, và đáp ứng với những thách thức xuyên quốc gia trong khu vực.

Hai nhà lãnh đạo phải chỉ đạo các cơ quan có liên quan để kết luận càng sớm càng tốt một thỏa thuận song phương về việc xây dựng các đại sứ quán và nhiệm vụ mới. Hai nhà lãnh đạo khẳng định rằng sự hiện diện ngoại giao của Hoa Kỳ và Việt Nam ở những thủ đô của mỗi bên nên phản ánh sự phát triển của quan hệ song phương giữa hai quốc gia.

2. Quan hệ thương mại và kinh tế

Nhắc lại các cuộc thảo luận của họ tại Campuchia trong tháng Mười một năm 2012, Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tái khẳng định cam kết của họ để đi đến kết luận một quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tiêu chuẩn cao, một cách toàn diện, thỏa thuận càng sớm càng tốt trong năm nay. Một hiệp định TPP của thế kỷ 21 sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, những mục đích phát triển hơn nữa, và dẫn đến việc tạo ra công ăn việc làm tại Hoa Kỳ, Việt Nam, và tất cả các nước thành viên TPP, trong khi tính đến sự đa dạng của các mức độ của các thành viên tham gia cho sự phát triển trong bối cảnh của một gói toàn diện và cân bằng.

Hai lãnh đạo hoan nghênh những nỗ lực liên tục để những quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương nhiều hơn nữa, và Tổng thống Obama ghi nhận những nỗ lực cải cách của Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển. Họ nhấn mạnh giá trị cốt lõi của những nỗ lực để thúc đẩy quan hệ song phương, và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế như là nền tảng và động lực cho quan hệ đối tác toàn diện mới của Hoa Kỳ và Việt Nam. Hai lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong Thương mại Hoa Kỳ-Việt Nam và Hội đồng Hiệp định khung đầu tư thương mại (TIFA) cũng như theo sáng kiến tham gia của kinh tế ASEAN nâng cao và trong APEC để tăng cam kết kinh tế và thương mại phù hợp với quan hệ đối tác toàn diện song phương và mục tiêu chung trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), APEC, ASEAN và các diễn đàn ASEAN. Tổng thống Obama đã hoan nghênh tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế. Tổng thống Obama nhấn mạnh lợi ích của Việt Nam trong việc theo đuổi một quốc gia có nền kinh tế thị trường và ông cam kết tăng cường sự tham gia xây dựng của Hoa Kỳ với Việt Nam về cải cách kinh tế. Hai lãnh đạo thừa nhận ý định của Việt Nam tham gia Công ước Cape Town trên Những lợi ích quốc tế(International Interests) trong trang thiết bị di động (CTC: Cape Town Convention).

Cả lãnh đạo lưu ý tầm quan trọng của quan hệ thương mại ngày càng tăng giữa hai nền kinh tế, và đã làm đề cập đặc biệt của: Biên bản ghi nhớ (MOU: Memorandum of understanding) được ký kết giữa PetroVietnam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ hỗ trợ thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực dầu khí và năng lượng tại Việt Nam; Hiệp định Khung (Framework Heads Agreement) về dự án Ca Voi Xanh ngoài khơi Việt Nam phát triển giữa Tổng công ty Exxon Mobil và Dầu khí Việt Nam; Hiệp định hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Murphy và Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Việt Nam (PVEP); một biên bản ghi nhớ giữa Công ty Bảo hiểm nhân thọ Metropolitan (MetLife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ( BIDV); và Bộ Tài chính Việt Nam chấp thuận về nguyên tắc cho thành lập một công ty quản lý quỹ bỡi Tập đoàn Bảo hiểm ACE**. Hai lãnh đạo hoan nghênh Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ hỗ trợ cho các chương trình đào tạo và xây dựng khả năng để giúp Việt Nam đáp ứng và áp dụng khoa học và công nghệ vì lợi ích của nông dân Việt Nam, các công ty nông nghiệp, và người tiêu dùng Hoa Kỳ. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ các quần thể dễ bị tổn thương nhất khi theo đuổi phát triển kinh tế, bao gồm cả làm việc cùng nhau để chống lại việc lạm dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.

3. Khoa học và Hợp tác Công nghệ

Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thảo luận về tầm quan trọng của hợp tác khoa học và công nghệ. Hai lãnh đạo hoan nghênh kỳ họp thứ 8 của Ủy ban Chung về hợp tác khoa học và công nghệ sẽ được tổ chức vào mùa thu này, và nhấn mạnh nỗ lực xây dựng mối quan hệ giữa các cộng đồng khoa học ở Hoa Kỳ và Việt Nam tăng cường quan hệ song phương, đáp ứng với biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu khác, và cổ vũ cho sự tăng trưởng kinh tế dựa vào đổi mới. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định ý định tiếp tục hợp tác khoa học, bao gồm cả trong các lĩnh vực năng lượng hạt nhân dân sự, công nghệ không gian, và nghiên cứu hàng hải. Hai lãnh đạo nhấn mạnh sự kết thúc thành công một nỗ lực chung để loại bỏ tất cả uranium được làm giàu cao từ Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục hợp tác để hỗ trợ những khát vọng của Việt Nam cho chương trình năng lượng hạt nhân hòa bình với các tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, bảo vệ, và bảo mật.

4. Hợp tác giáo dục

Hai lãnh đạo nhất trí cần tăng cương hợp tác về giáo dục, văn hóa, và những quan hệ về người với người giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Họ nhận xét về sự phát triển nhanh chóng của sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ, và bày tỏ hy vọng rằng nhiều sinh viên Hoa Kỳ sẽ theo đuổi các cơ hội học tập tại Việt Nam. Họ đồng ý rằng hợp tác chặt chẽ về giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho giai đoạn tiếp theo của mối quan hệ. Họ cũng lưu ý rằng chương trình tiếng Anh lành mạnh sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận sự thành công của giáo dục song phương và các sáng kiến trao đổi, đặc biệt là chương trình Fulbright và Chương trình Liên minh giáo dục ngành Kỹ thuật (HEEAP). Hai nhà lãnh đạo ghi nhận sự thành công của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sáng kiến thành lập một trường đại học Fulbright tại Việt Nam.

5. Môi trường và sức khỏe

Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh hợp tác song phương ngày càng tăng để giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam thông qua thúc đẩy năng lượng sạch, hiệu quả năng lượng, và lâm nghiệp bền vững, và tăng cường khả năng phục hồi của Việt Nam với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các thảm họa tự nhiên, bao gồm việc Chương trình năng lượng sạch của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ(USAID: United States Agency for International Development) và Chương trình Rừng và vùng Đồng bằng. Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với việc cung cấp thêm y tế và các chăm sóc và hỗ trợ cho người khuyết tật, bất kể nguyên nhân nào gây ra.

Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí cùng nhau, cùng với các đối tác Tiểu vùng Hạ lưu sông Mê Kông, để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xây dựng năng lực, và đối thoại để đảm bảo sức khỏe lâu dài và bền vững của đồng bằng sông Cửu Long và hạ lưu sông Cửu Long. Tổng thống Obama đánh giá cao sự lãnh đạo của Việt Nam ở vai trò đồng chủ tịch của Tổ chức Cột nước và môi trường ở Tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông(the LMI Environment and Water Pillar), trong đó bao gồm hai dự án nghiên cứu chung từ Việt Nam về quản lý tài nguyên nước trong lưu vực. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng với kết luận gần đây của Hiệp định về chăm sóc sức khỏe và Hợp tác  Khoa học y tế, và mong muốn tăng cường hợp tác y tế công cộng để thúc đẩy an ninh y tế toàn cầu. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao sự hỗ trợ tiếp tục của chính phủ Hoa Kỳ thông qua Kế hoạch Khẩn cấp của Tổng thống về AIDS (PEPFAR) cho những nỗ lực của Việt Nam để xây dựng các hệ thống bền vững cho công tác phòng chống, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS.

6. Các vấn đề di sản chiến tranh 

Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng hợp tác sâu rộng trong việc giải quyết các vấn đề di sản chiến tranh để tăng cường tin cậy lẫn nhau đã cho phép cả hai nước phát triển một mối quan hệ nhìn tới tương lai. Tổng thống Obama đánh giá cao sự hợp tác tiếp tục của Việt Nam trong việc cung cấp thông tin cho việc kiểm kê đầy đủ nhất có thể cho nhân viên Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA). Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam trong nỗ lực tìm kiếm những binh sĩ mất tích của mình. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận những đóng góp của Chính phủ Hoa Kỳ cho những nỗ lực của Việt Nam để làm sạch vũ khí chưa nổ (UXO: unexploded ordnance), hỗ trợ những người bị thương do bom mìn, và ngăn chặn thương vong trong tương lai. Hai lãnh đạo bày tỏ hài lòng với sự tiến bộ trên vấn đề USAID và dự án của Bộ Quốc phòng Việt Nam trong việc làm sạch ô nhiễm dioxin tại sân bay quốc tế Đà Nẵng. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh kế hoạch của Chính phủ Hoa Kỳ về việc tiến hành đánh giá môi trường ô nhiễm dioxin ở Căn cứ Không quân Biên Hòa (Bien Hoa Air Base).

7. Quốc phòng, an ninh

Hai nhà lãnh đạo đồng ý rằng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác về quốc phòng và an ninh. Họ bày tỏ sự hài lòng với các Bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác quốc phòng song phương năm 2011 và khẳng định cam kết thực hiện đầy đủ nó. Hai lãnh đạo nhất trí tiếp tục Đối thoại Chính sách Quốc phòng Hoa Kỳ- Việt Nam và về chính trị song phương, an ninh, và đối thoại quốc phòng như là những cơ hội để xem xét các mối quan hệ quốc phòng, an ninh và thảo luận về hợp tác trong tương lai. Hai nhà lãnh đạo nhất trí mở rộng hợp tác cùng có lợi để tăng cường khả năng về việc tìm kiếm cứu nạn và phòng chống thiên tai. Hai lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng cường hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn để chống khủng bố, tăng cường hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tội phạm xuyên quốc gia bao gồm cả tội phạm vi phạm bản quyền, và các chất ma tuý, nạn buôn bán con người và động vật hoang dã và giải quyết tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng. Tổng thống Obama hoan nghênh quyết định của Việt Nam tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc và nhấn mạnh mong muốn của Hoa Kỳ về việc hỗ trợ đào tạo và hỗ trợ khác cho nỗ lực này thông qua Sáng kiến Thực hiện Hòa bình Toàn cầu (GPOI: Global Peace Operations Initiative).

8. Thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền

Hai lãnh đạo ghi nhận những lợi ích của một cuộc đối thoại thẳng thắn và cởi mở để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp về những khác biệt về nhân quyền. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thông báo với Tổng thống Obama về sự nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy nhân quyền và quy định của pháp luật và bảo vệ quyền của tín đồ tôn giáo. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam đã được chuẩn bị để ký Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn tù nhân vào cuối năm nay và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ mời các Báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo và tín ngưỡng trong năm 2014 vào kiểm tra. Hai bên tái khẳng định cam kết của họ nhằm duy trì Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

9. Văn hóa, Du lịch và Thể thao

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác về văn hóa, thể thao và du lịch để tăng cường trao đổi về người với người và hiểu biết lẫn nhau. Họ ghi nhận sự thành công của cộng đồng người Hoa Kỳ gốc Việt tại Hoa Kỳ và những đóng góp quan trọng của họ cho sự phát triển của quan hệ song phương. Hai nhà lãnh đạo khuyến khích nhiều hơn nữa sự giao lưu giữa người với người thông qua các buổi biểu diễn nghệ thuật, hòa nhạc, triển lãm và các sự kiện văn hóa và thể thao khác giữa hai nước.

@The White House - President Obama 25 July, 2013

Ghi chú:
(*)Sáng kiến Tiểu vùng hạ lưu sông Mekong (LMI: Lower Mekong Initiative) được tạo ra vào ngày 23 tháng Bảy năm 2009. Đây là cuộc họp giữa Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và Bộ trưởng Ngoại giao các nước hạ lưu sông Mê Kông, gồm Hoa Kỳ, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, tại Phuket, Thái Lan. Các Bộ trưởng đã nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực môi trường, y tế, giáo dục và phát triển cơ sở hạ tầng. Kể từ đó, năm quốc gia đã tìm cách tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực và xây dựng trên lợi ích chung của họ.

(**)Tập đoàn bảo hiểm ACE được thành lập năm 1985 bởi 34 nhà tài trợ. ACE là một trong những nhà bảo hiểm tài sản và thương vong đa ngành lớn nhất thế giới. Với mạng lưới các công ty trực thuộc đặt tại 53 quốc gia, Tập đoàn ACE cung cấp các sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm tài sản và thương vong, bảo hiểm tai nạn cá nhân và bảo hiểm sức khỏe bổ sung, tái bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ cho nhiều nhóm khách hàng đa đạng.

Asia Clinic, 11h26' ngày thứ Sáu, 26/7/2013

Friday, June 28, 2013

THOÁT TRUNG LUẬN 1

Bài đọc liên quan:

Nhìn lại lịch sử cận đại của thế giới và Việt Nam, cũng như khu vực Đông Nam châu Á, địa chính trị, và cơ hội chúng ta thấy gì? Hãy điểm nó lại một cách khách quan để nhìn nước Việt đến vài thế kỷ tới xem sao? Đó là mục đích của bái viết này.

Địa chính trị và lịch sử

Các quốc gia Đông Nam Á khác, như Nam Dương(Indonesia) và Mã Lai Á nhờ địa lý tách ra khỏi bán đảo Đông Dương, nên bị thực dân Âu châu nhảy vào sớm hơn, từ đầu thế kỷ XVI. Cụ thể là Mã Lai Á thì Hà Lan bước chân vào năm 1511. Nam Dương cũng được Bồ Đào Nha đặt chân đầu tiên vào năm 1512. 

Miến Điện, một quốc gia có đường biên giới với Trung Hoa, nhưng gần với Ấn Độ và tiếp giáp giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cũng phải đến đầu thế kỷ XIX mới bị người Anh xâm chiếm ra khỏi sự quan tâm của Trung Hoa.

Ngay cả Ấn Độ có cùng đường biên giới hiểm trở với Trung Hoa, mà Ấn Độ là một nước lớn, nhưng cũng mãi đến khi Trung Hoa suy yếu vào cuối đời nhà Thanh thì các cường quốc châu Âu gồm: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp mới có thể xâu xé Ấn Độ vào cuối thế kỷ XVIII.

Cũng có địa chính trị cùng đường biên giới với Trung Hoa là bán đảo Đông Dương, nên cũng chịu dưới sự quan tâm đặc biệt của Trung Hoa từ ngàn năm trước.

Lịch sử Việt Nam đúng chỉ có khoảng 2.600 trăm năm, trong đó hơn ngàn năm bị đô hộ giặc Trung Hoa. Trong những khoảng trống không bị đô hộ đó, Việt Nam chưa bao giờ độc lập với Trung Hoa, mà phải quan hệ kiểu thiên triều và chư hầu, theo dạng triều cống và lãnh ấn chỉ chủ dụ từ Trung Hoa. 

Chỉ có một giai đoạn duy nhất từ giữa thế kỷ thứ XIX, khi cuối triều nhà Thanh suy yếu, Trung Hoa bị chia năm xẻ bảy bỡi các cường quốc châu Âu: Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh Quốc và kể cả Nhật Bản, lúc ấy Việt Nam mới bị sự dòm ngó của Pháp và xâm lược Đông Dương.

Khi Trung Hoa có nền Cộng Hòa xuất hiện do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1912, cũng là lúc suy thoái kinh tế toàn cầu 1929 - 1933 ập đến. Ba thập kỷ người Trung Hoa có nhiều nội loạn, vả lại chịu dưới sự xâm lược của người Nhật. Nên Trung Hoa không đủ sức dòm ngó đến Đông Dương và Miến Điện.

Sau chiến tranh thế giới II, người Pháp thất trận, Trung Hoa thành lập 1949, cũng là lúc họ bắt đầu quan tâm đến Đông Dương. Dù họ còn rất yếu do nhiều lý do khách quan và chủ quan của cách cai trị của Mao, nhưng Trung Hoa đủ mạnh để tranh đoạt bá vương và cùng với Hoa Kỳ để đi đến Thông Cáo Thượng Hải 1972 ăn chia Đông Dương và khu vực, cũng như toàn cầu.

Sau 30/4/1975, có một giai đoạn ngắn đến 1990, Việt Nam không bang giao với Trung Hoa nhờ vào sức mạnh của Liên Xô. Nhưng khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, thì Hội Nghị Thành Đô lại làm cho Việt Nam trở lại thời kỳ bằng mặt, nhưng không bằng lòng với Trung Hoa. Hiện nay thì ai cũng thấy rõ ràng chính sách ngoại giao đa phương - dĩ bất biến ứng vạn biến của Tôn Tử - đang là cách mà nước Việt đang đương đầu với Trung Hoa.

Cơ hội

Qua những điều đã điểm ra ở trên, cho ta thấy các nước nhỏ quanh Trung Hoa có cùng biên giới rộng lớn với họ đều được họ xem là vùng đệm và chư hầu trong quan hệ ngoại giao.

Điều đáng lo lắng nhất với các quốc gia cùng biên giới với Trung Hoa là, không bao giờ Trung Hoa muốn các quốc gia này hùng mạnh để dễ bề thao túng và cai trị. Hãy điểm lại mà xem, Việt, Miên, Lào, Bắc Hàn, Mông Cổ, Bắc Hàn, Hồi Quốc Pakistan. 

Và kể cả Miến Điện, một quốc gia hùng cường vào 2 thập niên 1960s và 1970s nhưng cũng bị Trung Hoa chi phối làm cho kiệt quệ, và chỉ mới đổi mới xoay chuyển chính trị bằng cách chuyển dời, xây dựng thủ đô mới để tránh những bí mật quốc gia bị tiết lộ với Trung Hoa mới từ chối được cái dự án 2,5 tỷ đô la làm đường ống dẫn dầu từ Yangon đến Vân Nam, và thay đổi thể chế chính trị triệt để tách khỏi Trung Hoa như hôm nay. Một sự thay đổi Miến Điện mà thế giới kinh ngạc, nhưng là bài học Thoát Trung Luận cho Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.

Báo cáo kinh tế thế giới của Ngân Hàng Thế Giới vào ngày 13/6/2013 cho thấy nợ tư trong nước của Trung Hoa cao nhất thế giới, lên đến 160% GDP. Việt Nam cũng không khá hơn với 110% GDP của nợ tư trong nước. Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đang dự đoán một Trung Hoa hạ cánh nặng nề, và một tia hy vọng sáng sủa cho các quốc gia quanh khu vực có thể làm cuộc Thoát Trung Luận với Trung Hoa mà, lâu nay theo kiểu ngoại giao họ luôn tự cho mình là thiên triều.

Sự suy yếu của Trung Hoa trong những năm tới là có thực, không mơ hồ, do nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa gây ra không chỉ ở Trung Hoa mà ngay cả ở Việt Nam sau khi sao chép 23 năm qua. Dù khó khăn, nhưng đó là cơ hội cho Việt Nam rất lớn để làm cuộc Thoát Trung Luận.

Nhìn lại lịch sử cận đại của Việt Nam và Trung Hoa, thời nhà Nguyễn kéo dài 143 năm - từ 1802 đến 1945 - đất nước Việt hùng cường nhất mọi thời đại. Bở cõi được mở rộng đến Mũi Cà Mau, Hoàng Sa Trường Sa vững vàng không sợ họa xâm lăng, mà còn dẹp được khu vực phía Nam của người Hoa Minh Hương trấn giữ. Chúng ta không phải lệ thuộc Trung Hoa cũng một phần lớn là khi đó nhà Thanh suy tàn, và nhà Nguyễn của ta có chiến lược ngoại giao khôn khéo với cả các lâng bang và cả với thực dân châu Âu. Điều này lịch sử cần nhìn nhận trung thực và công bằng với nhà Nguyễn. Như vậy, chúng ta đã Thoát Trung rồi, sau khi Quang Trung thay đổi chữ viết từ Hán sang Nôm, thì Nhà Nguyễn thoát theo. Sao giờ này ta lại phải chịu một lần nhục cho tổ quốc và dân tộc?

Bài học và phương án Thoát Trung Luận

Từ thế kỷ XIX ở Nhật Bản, có ông thầy giáo Fukuzawa Yukichi đã viết và đưa ra chiến lược Thoát Á Luận. Các vị minh quân của nước Nhật đã đi theo và họ đã thành công như hôm nay, một phần nhờ địa chính trị. Nhưng có một quốc gia khác có địa chính trị giống Việt Nam - Miến Điện - họ đã và đang làm cuộc Thoát Trung Luận đến nay rất tốt.

Có thông tin cho rằng sở dĩ Miến Điện thoát được Trung Hoa là nhờ họ dời trung tâm hành chính quốc gia từ thủ đô cũ là thành phố Yangon đến Naypyidaw là do những trung tâm hành chính quốc gia Miến Điện dưới thời Thein Shwe là do Trung Hoa viện trợ và xây cất. Họ phải dời đô vào nơi an toàn, để bảo mật quốc gia, sau đó mới tính chuyện chuyển đổi thể chế chính trị, thì mới an toàn cho đất nước họ và Thoát Trung Luận mới thành công. 

Liệu rằng, những cơ sở hành chính quốc gia Việt được Trung Hoa giúp xây dựng thời chiến tranh có đảm bảo bí mật quốc gia?

Năm 2010, ở Việt Nam rộ lên việc di dời trung tâm hành chính quốc gia ra khỏi Ba Đình, nhưng một số thành phần ưu tú và trí thức Việt Nam lại cho là sai lầm. Rồi mọi chuyện rơi vào quên lãng.

Hôm nay, tình hình nước Việt như ngàn cân treo sợi tóc - kinh tế xem như đang trên đà sụp đổ hoàn toàn, chính trị rối ren vì nạn bè phái tranh ngôi đoạt vị - mà chuyện quốc sự quan trọng nhất là làm sao Thoát Trung Luận, thì đất nước mới mong thái bình, dân tộc mới mong thịnh vượng và độc lập tự chủ.

Trong lúc kinh tế khó khăn, chuyện xây dựng trung tâm hành chính quốc gia mới là điều nên làm, để vực nền kinh tế và tạo công ăn việc làm cho xã hội. Một công đôi việc vừa vực nền kinh tế quốc gia, vừa giúp cho tiến trình Thoát Trung Luận đẹp cả đôi bề.

Lý thuyết nhị nguyên luận trong triết học đã được người Mỹ áp dụng trong việc tạo ra hình thái chính trị xã hội cho một hời kỳ mới mà họ gọi là trật tự mới cho những thời đại tiếp theo rất thành công. Âm dương, nước lửa, trời đất, phá và xây, v.v... Cộng hòa và Dân chủ là 2 trường phái để xây dựng Hoa Kỳ ngày nay theo Nhị Nguyên Luận rất triết học và rất thành công. 

Người dân Việt hiếu hòa, không ai muốn và cũng chưa có lực lượng nào đủ sức để giành quyền lãnh đạo với đảng cầm quyền hiện nay. Đừng nên xem dân mình là thù địch vì quyền lợi cá nhân. Đã đến lúc cần phải tách đôi đảng cộng sản ra làm 2 đảng và cần một hành động cụ thể như Miến Điện để làm cuộc Thoát Trung Luận hoàn hảo, khi cơ hội bắt đầu hé mở ở chân trời - đó là một Trung Hoa đang và sẽ suy yếu. Thiên thời, nhân hòa lòng dân muốn và chỉ còn việc tạo ra địa lợi để biết chớp lấy thời cơ. Nếu không, 300 năm hay 1.000 năm nữa quan hệ Trung - Việt vẫn theo kiểu mà ngàn năm trước không thay đổi.

Đọc tiếp: phần 2phần 3

Asia Clinic, 18h38' ngày thứ Sáu, 28/6/2013

Monday, August 6, 2012

BI VÀ HÙNG CỦA LỊCH SỬ

Bài đọc liên quan:

Lịch sử thế giới là một chuỗi những sự kiện bi kịch của loài người. Hùng có, bi có, lụy có, v.v... không thiếu những mùi vị cay, đắng, ngọt, bùi, mặn nồng nào trên thế gian trần tục này. Hầu như tất cả đều bắt đầu từ những đúng đắn hoặc sai lầm của tầng lớp tinh hoa - chính khách - của các dân tộc mà ra. Đặc biệt, là tầng lớp Quốc phụ khai quốc công thần của các dân tộc mà nên.

Lịch sử hùng cường, ngọt bùi và mặn nồng nhiều, nhưng nhược tiểu, bi ai và cay đắng thì ít, thường đi với những vùng đất có tầng lớp Quốc phụ có tầm tư tưởng đi trước thời đại, hợp với với quy luật xã hội học, để tạo ra một xã hội do dân, của dân và vì dân.

Ngược lại, lịch sử của một vùng đất nhược tiểu, bi ai và cay đắng chiếm phần lớn, trong khi đó hùng cường, ngọt bùi và mặn nồng thì hầu như khó thấy. Cũng vì ở dân tộc và vùng đất đó không có những Quốc phụ có tầm nhìn xa trông rộng vì dân tộc và tổ quốc, mà chỉ vì danh lợi của cá nhân. Họ - những Quốc phụ - sẵn sàng làm thân tôi mọi cho ngoại bang, sẵn sàng bán rẻ xương máu dân tộc và giang sơn xã tắc ông cha để lại, để cung phụng cho lợi ích riêng tư.

Điều này dễ dàng kiểm chứng ở các nhược tiểu và cường quốc trên khắp năm châu, bốn bể. Song, lịch sử là của kẻ chiến thắng viết cho mình, nên lịch sử "dễ bị lãng quên" những cái cần nhớ rõ, vì mục đích của kẻ cầm quyền. Nó di hại đến các thế hệ mai hậu.

Nhìn lại nước Việt, trong một tác phẩm Phan Châu Trinh qua tài liệu mới của tác giả Lê Thị Kinh, do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2001, có đoạn mà viện sĩ De Brieux nhận định khi đi thăm Ấn Độ và Đông Dương như sau:

"...Phải nghĩ và làm quen với ý nghĩ là dù chúng ta (người Pháp) có làm gì đi nữa cũng không thể mãi mãi giữ Đông Dương được.

Nếu chúng ta không trả cho người An nam thì có kẻ sẽ giành lấy.

Và kẻ đó chính là nước Trung Hoa.

Và ngày mà ở châu Âu chúng ta phải đương đầu với một cường quốc thì ngày đó người Trung Hoa sẽ nhẹ nhàng chiếm Đông Dương như người Ý năm 1870 đã chiếm lấy đất đai của Giáo hoàng. Nếu người Sài Gòn muốn chống lại thì với 100 nghìn người Trung Hoa ở chợ Lớn họ không cần súng ống cũng trị được. Ở đâu trên đất Đông Dương cũng vậy, cứ 1 người Pháp thì đã có 20 người Trung Hoa..."

Phần còn lại của nhận định này mọi người có thể đọc nó trong bài báo với cái tựa Người Pháp đã nhận ra toan tính của Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm 1909.

Thế thì, lịch sử cận đại của nước ta nó đã diễn ra trong 60 năm qua là một bi kịch hơn là hùng ca. Có những chữ nếu mà, không thể xảy ra như chăm ngôn: "Có 3 điều không thể lấy lại được là, thời gian, lời nói và cơ hội khi chúng đã xảy ra, dù đúng hay sai". Nước Việt của chúng ta đã nằm trong bi kịch đắng cay ở thời gian và cơ hội khi thực dân Phú Lang Sa - Pháp - muốn giao lại cái Đông Dương gồm 3 nước, Việt Miên Lào cho người An Nam cai trị, vì mục đích chống đỡ lại Trung Hoa. Nhưng cũng cứ hãy nhìn lại để ôn cố tri tân bằng một chữ nếu xem sao?

Cú thỏa hiệp lịch sử giữa Nixon và Mao thông qua cuộc đi đêm của Kissinger với Chu Ân Lai thành công bằng Hiệp định Paris 1973 và bi kịch của dân tộc và đất nước Việt kéo dài từ đó đến nay khi Mỹ bán Đông Dương cho Trung Hoa, đổi lại Trung Hoa phải quay đầu thân Mỹ để chống lại Liên Xô. Cuối cùng mọi bi thương đều đổ lên đầu lên dân tộc Việt, nhưng tất cả rất dễ bị quên.

Nếu ngày ấy, các Quốc phụ của hai miền Nam Bắc có đủ tầm nhìn xa, trông rộng. Họ sẽ không vì cái gì đó, mà phải làm thân tôi, mọi cho hai phe tả hữu, hắc bạch đang thực hiện trò chiến tranh lạnh, bằng cách lấy xứ Đông Dương nói chung và  Việt Nam nói riêng ra là nơi thử bom đạn, và vùng tranh bá đồ vương, thì với cái Liên Bang Đông Dương như Pháp đã để lại, liệu Trung Hoa có hùng hổ gây hấn và bắt nạt chúng ta như đã diễn ra từ sau 30/4/1975 hay không?

Chữ nếu này thì không thể lấy lại được. Và nó đã thể hiện lịch sử hiện đại của ta trong hơn 60 năm qua là bi, cay, đắng và ly tán, để có hôm nay đầy rẫy những tha hoá cả văn hoá đến đạo dức toàn dân tộc, mà nếu - lại nếu - muốn sửa sai lầm này đòi hỏi thời gian tính bằng thế kỷ!

Gần đây, để chống chọi một cách yếu ớt với trò gây hấn kiểu cá lớn nuốt cá bé của Trung Hoa, chúng ta lại không có lực, có trí và có tầm cho đại sự, mà lại có những hành động rất cạn nghĩ như việc "làm ra" chứng cứ tấm bản đồ cổ của Trung Hoa, mà tấm bản đồ này không nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Hoa và cũng không thuộc cả của Việt Nam. Lại có thêm thông tin một bạn trẻ đang du học Mỹ sưu tầm nhiều tấm bản đồ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa không là của Trung Hoa mà là của Việt Nam. Dẫu biết rằng lịch sử là vậy, và những tấm bản đồ là cứ liệu khoa học, nhưng liệu nó có giúp ích gì với kiểu xâm lược mạnh thắng yếu thua của Trung Hoa?

Thế thì, liệu có thể xảy ra trong vài tháng tới, Trung Hoa lại diễn trò như ta, họ đưa ra một tấm bảng đồ cổ hơn của ta rằng thời đại nào đó cách nay hơn vài thế kỷ đã có tấm bản đồ cổ có ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc Trung Hoa không?

Hơn thế nữa, dù cả thế giới lên án, nhưng Trung Hoa ngày càng lấn tới bằng hành động xua tàu đánh cá đến 23 ngàn chiếc xâm lấn biển Đông như thông tin chính thống đã đưa, thì liệu cái chứng cứ tấm bản đồ cổ có giá trị gì? Khi họ đã tự vẽ bản đồ lưỡi bò 9 khúc một cách ngang ngược, chẳng coi công luận thế giới ra gì.

Sao lịch sử rõ ràng, năm 1974 Trung Hoa cướp Hoàng Sa từ tay nhân dân miền Nam Việt Nam như lời ông thủ tướng đã nói trước quốc hội và toàn thế giới, và 1988 Trung Hoa cướp một số đảo đá ngầm Trường Sa của ta không là chứng cứ hùng hồn, mà lại dựa lên tấm bản đồ cổ bỏ quên, của một ông làm ở cái viện Hán Nôm sực nhớ là mình có?

Liệu lịch sử có lập lại khúc bi thảm thời mà Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai để thương thuyết với Mao Trạch Đông để bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, để Trung Hoa quay đầu thân Mỹ, chống lại Liên Xô, trong khi chúng ta vẫn cứ ngụp lặn trong cảnh nồi da xáo thịt để mất Hoàng Sa vào tháng Giêng 1974. Kế đến lại mất thêm một số đảo chìm ở Trường Sa vào năm 1988, mà cả Liên Xô và Mỹ đều làm ngơ.

Thế giới nhị nguyên luận trong triết học đã chỉ ra rằng, hoặc tả hoặc hữu, không có chuyện cả tả và hữu ở hai chân. Tuỳ thời mà chọn đúng tả hay đúng hữu để thành công. Ngay cả Hoa Kỳ - nơi được cho là thế giới tự do - có rất nhiều đảng phái, nhưng lãnh đạo đất nước Mỹ cũng chỉ có hai. Lúc tả, lúc hữu cho hợp thời, thì Hoa Kỳ mới có được hùng cường như hôm nay.

Thế thì, tả hay hữu cho một Việt Nam trong thời kỳ khó khăn này - khi mà trong không ấm, mà ngoài chẳng yên. Đó là câu hỏi rất quan trọng, nó quyết định lịch sử đất nước và dân tộc Việt sẽ bi hay hùng, sẽ ngọt bùi hay cay đắng?

Vận mệnh quốc gia dân tộc đặt nặng lên trên mệnh của các tinh hoa trào đình. Mệnh tinh hoa yếu đất nước ngã nghiêng. Mệnh tinh hoa mạnh dân tộc hùng cường. Năm Nhâm Thìn 2012, như tôi đã viết cực dương, hành thủy, về mặt tứ tượng đã đánh vào cái xung khắc của hai nhân vật nắm đầu hành pháp lắm chuyện đau đầu. Năm tới 2013, cái tứ tượng cực âm, hành hỏa sẽ xung khắc với người đứng đầu trong mọi người hứa hẹn nhiều khác lạ, mà không thể dự báo trước. Vậy bi hay hùng cho một trang sử mới của dân tộc Việt?

Câu hỏi lớn này nó còn tùy thuộc vào sự chọn lựa của các tinh hoa trong cách dẫn dắt cộng đồng Việt đi về hướng nào, chứ không phải lần khần theo cách đu dây.

BS Hồ Hải - Tư Gia - 21h28' ngày thứ Hai, 06/8/2012